|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 25 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 533. GIỚI HẠNH LÀ NỀN TẢNG - 149. Kinh Lao Lực (Balasuttaṃ) 150. Kinh Hạt Giống (Bījasuttaṃ) 151. Kinh Rồng (Nāgasuttaṃ) . ... .
“Giới hạnh” được ví mặt đất để mọi công đức và trí tuệ được dựng lập. Đạo
là dòng sinh trưởng của thiện pháp. Nhờ tu tập Đạo tám ngành dựa
trên giới, hành giả diệt trừ tận gốc tam độc, khiến tâm trở nên
thanh tịnh và bền vững như cây lớn mọc từ đất tốt. Một dụ ngôn
khác thật đẹp: Người tu giống như long tử, rời núi giới, theo
dòng đạo, đạt biển Niết-bàn. Giới là chỗ an toàn; Đạo là con
đường; Niết-bàn là bờ tự do. Khi tâm được rèn luyện đầy đủ, hành
giả đạt đến sức mạnh và trí tuệ vô lượng – “thân đức to lớn” của
bậc giải thoát.
Kinh Văn
149. Kinh Lao Lực (Balasuttaṃ)
149. sāvatthinidānaṃ. “seyyathāpi, bhikkhave, ye keci
balakaraṇīyā kammantā karīyanti, sabbe te pathaviṃ nissāya
pathaviyaṃ patiṭṭhāya evamete balakaraṇīyā kammantā karīyanti;
evameva kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya
ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
bahulīkaroti. kathañca, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle
patiṭṭhāya ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ
maggaṃ bahulīkaroti? idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ
bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ
vossaggapariṇāmiṃ ... pe ... evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ
nissāya sīle patiṭṭhāya ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkarotī”ti.
Nhân duyên tại
Sāvatthı̄
“Này các Tỳ khưu, cũng như tất cả những
công việc nặng nhọc nào được làm, đều được làm dựa trên mặt đất,
được thiết lập trên mặt đất;
cũng vậy, này các Tỳ khưu, dựa trên
giới, an trú trong giới, hành giả tu tập và phát triển Thánh đạo
Tám ngành.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là hành giả, dựa trên giới, an trú trong giới,
tu tập và phát triển Thánh đạo Tám Chi Phần? Ở đây, này các Tỳ
khưu, hành giả tu tập Chánh kiến … Chánh định, mà Chánh kiến và
Chánh định ấy dựa trên viễn ly, ly tham, đoạn diệt, và thành
thục nơi giải thoát.
Chính bằng cách này, này các Tỳ khưu, hành giả dựa trên giới, an trú trong
giới, tu tập và phát triển Thánh đạo Chi Phần.”
150. Kinh Hạt Giống (Bījasuttaṃ)
150. “seyyathāpi, bhikkhave, ye
kecime bījagāmabhūtagāmā vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti,
sabbe te pathaviṃ nissāya pathaviyaṃ patiṭṭhāya evamete
bījagāmabhūtagāmā vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti; evameva
kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvento ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
bahulīkaronto vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesu.
kathañca, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya
ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvento ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
bahulīkaronto vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesu? idha,
bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ ... pe
... sammāsamādhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ
nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ ... pe ... evaṃ kho,
bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvento ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
bahulīkaronto vuḍḍhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesū”ti.
dutiyaṃ.
“Này các tỳ khưu, cũng như mọi loại hạt giống và sinh mệnh thực vật tăng
trưởng, phát triển và mở rộng, tất cả đều dựa trên mặt đất,
thiết lập nơi mặt đất; cũng vậy, này các
Tỳ khưu, dựa trên giới, an trú trong giới, hành giả tu tập và
phát triển Thánh đạo Tám ngành.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là hành
giả, dựa trên giới, an trú trong giới, tu tập và phát triển
Thánh đạo Tám Chi Phần? Ở đây, này các Tỳ khưu, hành giả tu tập
Chánh kiến … Chánh định, mà Chánh kiến và Chánh định ấy dựa trên
viễn ly, ly tham, đoạn diệt, và thành thục nơi giải thoát.
Chính bằng cách này, này các Tỳ khưu,
hành giả dựa trên giới, an trú trong giới, tu tập và phát triển
Thánh đạo Chi Phần.”
151.
Kinh Rồng (Nāgasuttaṃ)
151. “seyyathāpi, bhikkhave,
himavantaṃ pabbatarājaṃ nissāya nāgā kāyaṃ vaḍḍhenti, balaṃ
gāhenti; te tattha kāyaṃ vaḍḍhetvā balaṃ gāhetvā kusobbhe
otaranti, kusobbhe {kussubbhe (sī. syā.), kusubbhe (pī. ka.)}
otaritvā mahāsobbhe otaranti, mahāsobbhe otaritvā kunnadiyo
otaranti, kunnadiyo otaritvā mahānadiyo otaranti, mahānadiyo
otaritvā mahāsamuddaṃ {mahāsamuddasāgaraṃ (sabbattha) saṃ. ni.
2.23} otaranti, te tattha mahantattaṃ vepullattaṃ āpajjanti
kāyena; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle
patiṭṭhāya ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvento ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ
maggaṃ bahulīkaronto mahantattaṃ vepullattaṃ pāpuṇāti dhammesu.
kathañca, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya
ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvento ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
bahulīkaronto mahantattaṃ vepullattaṃ pāpuṇāti dhammesu? idha,
bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ
virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ ... pe ...
sammāsamādhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ
nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ ... pe ... evaṃ kho,
bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvento ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
bahulīkaronto mahantattaṃ vepullattaṃ pāpuṇāti dhammesū”ti.
tatiyaṃ.
“Này các tỳ khưu, dựa vào dãy Himalaya, vua của các ngọn núi, các rồng
Nāga nuôi dưỡng thân thể và tích lũy sức mạnh. Khi đã nuôi dưỡng
và có được sức mạnh, chúng nhập vào các ao; từ ao đến hồ, từ hồ
đến suối, từ suối đến sông, và cuối cùng nhập vào đại dương. Ở
đó, chúng đạt đến sự to lớn và rộng rãi của thân thể. cũng vậy,
này các Tỳ khưu, dựa trên giới, an trú trong giới, hành giả tu
tập và phát triển Thánh đạo Tám ngành.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là hành giả, dựa trên giới, an trú trong giới,
tu tập và phát triển Thánh đạo Tám Chi Phần? Ở đây, này các Tỳ
khưu, hành giả tu tập Chánh kiến … Chánh định, mà Chánh kiến và
Chánh định ấy dựa trên viễn ly, ly tham, đoạn diệt, và thành
thục nơi giải thoát.
Chính bằng cách này, này các Tỳ khưu, hành giả dựa trên giới, an trú trong
giới, tu tập và phát triển Thánh đạo Chi Phần.”
Chú Thích
Cụm từ “Balakaraṇīyā kammantā” nghĩa là lao lực hay
công việc nặng nhọc, lao
động cần sức mạnh.
Cụm từ Pathaviṃ nissāya, pathaviyaṃ patiṭṭhāya nghĩa nương vào đất, đứng
vững trên đất ẩn dụ
cho nền tảng vững chắc.
Cụm từ Sīlaṃ nissāya, sīle patiṭṭhāya: nương vào giới, an trú trong giới
chỉ nền tảng cho định và tuệ.
Tuy dịch là hạt giống nhưng không hẳn là “hạt” bīja-gāma. Theo chú giải,
có năm loại bīja:
1.
Mūlabīja – sinh từ rễ (như sen, khoai).
2.
Khandhabīja – sinh từ thân (như mía).
3.
Phalabīja
– sinh từ trái (như xoài).
4.
Patabīja
– sinh từ lá (như cây trường sinh).
5.
Bījabīja – sinh từ hạt (như lúa, mè).
Câu chuyện về “rồng” trong Sớ giải là một minh hoạt thú vị theo văn hoá cổ
Ấn. Qua những nghiên cứu vè sinh vật học ngày nay thì có vô số
khía cạnh sống của các loài vật “ly kỳ” không kém
Sớ Giải
149. balakaraṇīyavagge
balakaraṇīyāti ūrubalabāhubalena kattabbā
dhāvanalaṅghanatāpanavahanādayo kammantā. sīle patiṭṭhāyāti
catupārisuddhisīle ṭhatvā. aṭṭhaṅgikaṃ magganti sahavipassanaṃ
ariyamaggaṃ.
“Những việc cần nỗ lực” (balakaraṇīya) nghĩa là: — Những công việc như
chạy, nhảy, mang vác, chịu nóng, v.v... cần phải thực hiện bằng
sức mạnh của đùi (ūra-bala) và sức mạnh của tay (bāhu-bala). Đây
là ví dụ về những hành động thể chất gian lao, cần sức lực.
150. bījagāmabhūtagāmāti ettha
pañcavidhampi bījaṃ bījagāmo nāma, tadeva paṇṇasampannaṃ
nīlabhāvato paṭṭhāya bhūtagāmoti veditabbaṃ.
“Từ bījagāmabhūtagāmā có nghĩa là: năm loại hạt giống được gọi là
bījagāma (chủng loại sinh từ mầm); và chính những loại
ấy, khi đã nảy mầm, mọc lá, trở nên xanh tươi, thì được gọi là
bhūtagāma (chủng loại đã thành cây, thực vật)
151. balaṃ gāhentīti balaṃ
gaṇhanti, gahitabalā thirasarīrā honti. kusobbhe otarantītiādīsu
ayamanupubbikathā — nāginiyo kira utusamaye patiṭṭhitagabbhā
cintenti — “sace mayaṃ idha vijāyissāma, evaṃ no dārakā
ūmivegañca supaṇṇassa ca pakkhanditvā āgatassa vegaṃ sahituṃ na
sakkhissantī”ti tā mahāsamudde nimujjitvā sambhajjamukhadvāraṃ
patvā pañca mahānadiyo pavisitvā himavantaṃ gacchanti. tattha
supaṇṇehi apakkhandanīyāsu suvaṇṇarajatamaṇiguhāsu vasamānā
vijāyitvā nāgapotake gopphakādipamāṇesu udakesu otāretvā
udakataraṇaṃ sikkhāpenti. atha yadā anukkamena te nāgā
gaṅgādīnaṃ nadīnaṃ orimatīrato paratīraṃ, paratīrato
orimatīranti taraṇapaṭitaraṇaṃ kātuṃ sakkonti, tadā “idāni no
dārakā ūmivegañca garuḷavegañca sahituṃ sakkhissantī”ti ñatvā
attano ānubhāvena mahāmeghaṃ samuṭṭhāpetvā sakalahimavantaṃ
ekodakaṃ viya kurumānā devaṃ vassāpetvā suvaṇṇarajatādimayā nāvā
māpetvā upari suvaṇṇatārakavicittaṃ samosaritagandhapupphadāmaṃ
celavitānaṃ bandhitvā surabhicandanagandhapupphādīni ādāya tāhi
nāvāhi pañca mahānadiyo ogāhitvā anukkamena mahāsamuddaṃ
pāpuṇanti. tattha ca vasantā dasabyāma-satabyāma-
sahassabyāma-satasahassabyāma-pamāṇataṃ āpajjantā mahantattaṃ
vepullattaṃ āpajjanti nāma. evameva khoti ettha himavantapabbato
viya catupārisuddhisīlaṃ daṭṭhabbaṃ, nāgapotakā viya yogāvacarā,
kusobbhādayo viya ariyamaggo, mahāsamuddo viya nibbānaṃ. yathā
nāgapotakā himavante patiṭṭhāya kusobbhādīhi mahāsamuddaṃ patvā
kāyamahantattaṃ āpajjanti, evaṃ yogino sīlaṃ nissāya sīle
patiṭṭhāya ariyamaggena nibbānaṃ patvā arahattamaggeneva āgatesu
chasu abhiññādhammesu guṇasarīramahantattaṃ pāpuṇantīti.
“Balaṃ
gāhentī nghĩa là ‘nắm lấy sức mạnh’, tức là chúng thu lấy năng lực,
và khi đã được sức mạnh ấy thì thân thể trở nên cứng chắc.
Về đoạn ‘kusobbhe otarantī’ti (‘chúng lặn xuống những chỗ nước sâu’), thứ
tự câu chuyện là như sau:
Vào mùa thuận hợp, những long nữ (nāgini) đã mang thai nghĩ rằng: ‘Nếu
chúng ta sinh con ở nơi này (trên biển), thì con cái của chúng
ta sẽ không thể chịu nổi sóng dữ hay sức mạnh của chim Kim Sí
Điểu Supaṇṇa (Garuda) khi lao xuống.’ Vì vậy, chúng lặn sâu
xuống đại dương, đi qua cửa hang của Sambhajja, rồi nhập vào năm
con sông lớn, hướng về dãy Hi-mà-lạp-sơn (Himavanta). Ở đó,
trong các hang vàng, bạc, và ngọc quý — những nơi Garuda không
thể bay đến — chúng sinh con, rồi thả các long tử (nāgapotaka)
có thân nhỏ bằng cổ tay hoặc bằng bắp chân xuống nước để tập
bơi, dạy chúng cách vượt qua dòng nước.”
Khi những long tử ấy đã thuần thục dần dần, có thể tự vượt qua sông Hằng
và các con sông lớn — từ bờ này sang bờ kia, từ bờ kia sang bờ
này — chúng có thể qua lại, bơi lội tự do; Lúc ấy, các long nữ
biết rằng: “Giờ đây con chúng ta đã đủ sức chống chọi được cả
sức mạnh của sóng lớn và cả sức gió khi Garuda lao xuống.”
Thế là, với năng lực thần thông của mình, chúng làm khởi lên một đám mây
lớn, khiến mưa đổ xuống, làm cho toàn thể dãy Hi-mà-lạp-sơn như
thành một khối nước mênh mông; rồi chúng chế tạo những chiếc
thuyền bằng vàng, bạc và châu báu, trang hoàng bên trên bằng màn
lụa trắng, dây hoa thơm và sao vàng rực rỡ; chúng mang theo
hương thơm chiên-đàn, hoa và vật cúng dường khác. Từ đó, chúng
cưỡi những thuyền này, theo thứ tự, rời khỏi năm con sông lớn,
tiến dần ra đại dương. Và khi sống trong biển cả, chúng tăng
trưởng kích thước — thân thể đạt đến mười trượng, trăm trượng,
ngàn trượng, cho đến trăm ngàn trượng — trở nên to lớn và hùng
mạnh vô cùng.”
“Cũng vậy, ở đây: Dãy núi Hi-mà-lạp-sơn ví như giới hạnh thanh
tịnh bốn phần (catupārisuddhisīla); Các long tử ví
như những hành giả thiền định (yogāvacara); Những dòng
sông, thác nước, chỗ sâu (kusobbhā-dayo) ví như Thánh đạo;
Và đại dương ví như Niết-bàn. Như các long tử, an
trú nơi dãy Hi-mà-lạp-sơn, nhờ vượt qua các sông và thác mà đạt
đến đại dương, rồi thân thể trở nên to lớn, hùng mạnh; cũng vậy,
các hành giả, nương vào giới, an trú trong giới, nhờ Thánh đạo
mà đạt đến Niết-bàn, và bằng đạo quả A-la-hán, họ thành
tựu thân công đức to lớn — tức là sáu thắng trí
(chaḷabhiññā), các pháp siêu nhiên viên mãn.”
VI. Phẩm Việc Làm Cần Sức Mạnh
Tất cả đều nhân duyên ở Sàvatthi.
149. I. Sức lực (S.v,45)
1) ...
2)-- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những hành động gì
muốn làm cần phải có sức lực, tất cả những hành động ấy đều y cứ
vào đất, đều an trú vào đất. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành,
làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. Và này các Tỷ-kheo, thế
nào là Tỷ-kheo y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập Thánh
đạo Tám ngành và làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,
hướng đến từ bỏ... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên
hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu
tập Thánh đạo Tám ngành và làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
(Ðoạn này giống với đoạn "Hằng hà lược thuyết", được thuyết
rộng thêm).
150.II. Các Hột
Giống (1) (S.v,46)
1) ...
2)-- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những hột giống nào,
những cây mạ nào (bhùtagàmà) tăng trưởng, lớn mạnh, quảng đại,
tất cả đều y cứ vào đất, đều an trú vào đất. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập Thánh
đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đạt được
tăng trưởng, lớn mạnh và quảng đại trong các pháp. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu
tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành,
đạt được tăng trưởng, lớn mạnh, quảng đại trong các pháp?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,
hướng đến từ bỏ... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên
hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu
tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành và
đạt đến tăng trưởng, lớn mạnh và quảng đại trong các pháp.
151.III. Con Rắn (Nàga) (S.v,47)
1) ...
2) -- Y cứ vào vua núi Tuyết sơn, này các Tỷ-kheo, các loài
rắn lớn tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh. Ở đấy, khi
chúng tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh, chúng đi xuống
các hồ nhỏ; sau khi xuống các hồ nhỏ, chúng đi xuống các hồ lớn,
chúng đi xuống các sông nhỏ; sau khi đi xuống các sông nhỏ,
chúng đi xuống các sông lớn; sau khi đi xuống các sông lớn,
chúng đi ra biển, ra đại dương. Tại đấy thân của chúng được to
lớn và quảng đại hơn.
3) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú
vào giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo
Tám ngành, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các thiện
pháp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú
vào giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo
Tám ngành, đạt đến sự to lớn, sự quảng đại trong các thiện pháp?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến...
tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên
hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú trên giới, tu tập Thánh đạo Tám
ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đạt đến sự to lớn,
sự quảng đại trong các pháp...
152.IV. Cây (S.v,47)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, có cây thiên về hướng Ðông,
hướng về hướng Ðông, xuôi về hướng Ðông, khi bị chặt từ gốc, cây
ấy sẽ rơi về hướng nào?
-- Bạch Thế Tôn, về phía nó thiên về, về phía nó hướng về,
về phía nó xuôi về.
3) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo
Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, thiên về
Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho
sung mãn Thánh đạo Tám ngành, thiên về Niết-bàn, hướng về
Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành,
làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, thiên về Niết-bàn, hướng
về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
153.V. Cái Ghè (S.v,48)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái ghè, nếu bị nghiêng
đổ, nước đã bị đổ ra không thể đổ vào lại được. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung
mãn Thánh đạo Tám ngành, đối với các bất thiện pháp đã được đổ
ra, không thể đổ vào lại được. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo
Tám ngành, đối với các ác, bất thiện pháp đã được đổ ra, không
thể đổ vào lại được?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly,... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành,
làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đối với các bất thiện pháp
đã được đổ ra, không có thể đổ vào lại được.
154.VI. Râu Lúa Mì (Sukiya) (S.v,48)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, sợi râu lúa mì, hay sợi râu
lúa mạch được đặt hướng chân chánh, khi bị tay chân đè vào, có
thể đâm thủng tay chân, hay có thể làm đổ máu. Sự tình này có
xảy ra. Vì sao? Vì sợi râu được đặt hướng chân chánh.
3) Cũng vậy, Tỷ-kheo nhờ đặt hướng chân chánh, tu tập con
đường chơn chánh, thời vô minh được cắt đoạn, minh sẽ được khởi
lên, Niết-bàn sẽ được chứng đắc. Sự kiện như vậy có xảy ra. Vì
sao? Vì tri kiến được đặt hướng một cách chân chánh. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo nhờ chân chánh đặt hướng tri kiến,
nhờ chân chánh đặt hướng con đường tu tập nên đâm thủng vô minh,
làm minh sanh khởi, chứng ngộ được Niết-bàn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chân chánh đặt hướng tri
kiến, chân chánh đặt hướng con đường tu tập, đâm thủng vô minh,
làm minh sanh khởi, chứng ngộ được Niết-bàn.
155.VII. Hư Không (S.v,49)
1) ...
2)-- Ví như, này các Tỷ-kheo, trên không trung, có nhiều
loại gió thổi, gió từ phương Ðông thổi, gió từ phương Tây thổi,
gió từ phương Bắc thổi, gió từ phương Nam thổi, gió có bụi thổi,
gió không bụi thổi, gió lạnh thổi, gió nóng thổi, gió nhỏ thổi,
gió thật lớn thổi.
3) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám
ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, thời bốn niệm xứ
được tu tập, đi đến viên mãn, bốn chánh cần... bốn như ý túc...
năm căn... năm lực... bảy giác chi được tu tập đi đến viên mãn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám
ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, bốn niệm xứ được tu
tập đi đến viên mãn... bốn chánh cần... bốn như ý túc... năm
căn... năm lực... bảy giác chi được tu tập đi đến viên mãn?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành,
làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, bốn niệm xứ được tu tập đi
đến viên mãn, bốn chánh cần... bốn như ý túc... năm căn... năm
lực... bảy giác chi được tu tập đi đến sung mãn.
156.VIII. Mây Mưa
(1) (S.v,50)
1) ...
2)-- Ví như, này các Tỷ-kheo, vào cuối tháng mùa hạ, bụi mù
bay lên, rồi có đám mây lớn trái mùa thình lình làm chúng tiêu
tan và tịnh chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh
đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đối với các
ác, bất thiện pháp tiếp tục sanh thình lình làm chúng tiêu tan
và tịnh chỉ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tu tập Thánh
đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đối với các
ác, bất thiện pháp tiếp tục sanh lập tức làm cho chúng tiêu tan
và tịnh chỉ?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành,
làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đối với các ác, bất thiện
pháp tiếp tục sanh (uppannuppanne) lập tức làm cho chúng tiêu
tan và tịnh chỉ.
157.IX. Mây Mưa (2) (S.v,50)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngọn gió lớn thỉnh thoảng
làm cho đám mây mưa lớn khởi lên bị tiêu tan, tịnh chỉ. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm
cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đối với các ác, bất thiện pháp
tiếp tục sanh khởi, khiến chúng tiêu tan và tịnh chỉ. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho
sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đối với các ác, bất thiện pháp
tiếp tục sanh khởi khiến chúng tiêu tan và tịnh chỉ?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly... tu tập chánh định... hướng đến từ bỏ.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành,
làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đối với các ác, bất thiện
pháp tiếp tục sanh khởi khiến chúng tiêu tan và tịnh chỉ.
158.X. Chiếc Thuyền (S.v,51)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc thuyền đi biển, đầy
đủ cột buồm, và dây buồm (vettabandhanabandhàya), và bị mắc cạn
trên bờ, trong sáu tháng bị nước làm cho hao mòn. Còn trong mùa
khô, các dây buồm bị gió và mặt trời làm cho hư hại. Rồi trong
mùa mưa, bị thấm ướt (abhippavutthàni) bởi cơn mưa giông, rất dễ
(appakasiraneva) bị yếu, hư và mục nát. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn
Thánh đạo Tám ngành, rất dễ làm cho các kiết sử yếu mòn và mục
nát. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo
Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, rất dễ làm cho
các kiết sử yếu mòn và mục nát?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly...
hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh
đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, rất dễ làm
cho các kiết sử yếu mòn và mục nát.
159.XI. Các Khách (S.v,51)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, có một nhà khách, ở đấy có
người từ phương Ðông tới ở, có người từ phương Tây tới ở, có
người từ phương Bắc tới ở, có người từ phương Nam tới ở, có
người Sát-đế-lị tới ở, có người Bà-la-môn tới ở, có người Phệ-xá
tới ở, có người Thủ-đà tới ở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám
ngành, với các pháp cần phải liễu tri nhờ thắng trí, họ nhờ
thắng trí liễu tri các pháp ấy; với các pháp cần phải đoạn tận
nhờ thắng trí, họ đoạn tận các pháp ấy nhờ thắng trí; với các
pháp cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, họ chứng ngộ các pháp ấy
nhờ thắng trí; với những pháp cần phải tu tập nhờ thắng trí, họ
tu tập những pháp ấy nhờ thắng trí.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải liễu
tri nhờ thắng trí? Cần phải được trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào
là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ
uẩn, thức thủ uẩn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là những
pháp cần phải liễu tri nhờ thắng trí.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải đoạn
tận nhờ thắng trí? Vô minh, hữu và ái (bhavatanhà), những pháp
này cần phải đoạn tận nhờ thắng trí.
5) Và này các Tỷ-kheo, những pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ
thắng trí? Minh và giải thoát, này các Tỷ-kheo, những pháp này
cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí.
6) Và này các Tỷ-kheo, những pháp nào cần phải tu tập nhờ
thắng trí? Chỉ và quán, này các Tỷ-kheo, những pháp này cần phải
tu tập nhờ thắng trí.
7) Và thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám
ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành; đối với các pháp
cần phải liễu tri, họ liễu tri được các pháp ấy nhờ thắng trí;
đối với các pháp cần phải đoạn tận nhờ thắng trí, họ đoạn tận
các pháp ấy nhờ thắng trí; đối với những pháp cần phải chứng ngộ
nhờ thắng trí, họ chứng ngộ những pháp ấy nhờ thắng trí; đối với
những pháp cần phải tu tập nhờ thắng trí, họ tu tập những pháp
ấy nhờ thắng trí?
8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến...
tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên
hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo
Tám ngành; đối với các pháp cần phải liễu tri nhờ thắng trí, vị
ấy liễu tri những pháp ấy nhờ thắng trí; đối với những pháp cần
phải đoạn tận nhờ thắng trí, vị ấy đoạn tận những pháp ấy nhờ
thắng trí; đối với những pháp cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí,
vị ấy chứng ngộ những pháp ấy nhờ thắng trí; đối với những pháp
cần phải tu tập nhờ thắng trí, vị ấy tu tập những pháp ấy nhờ
thắng trí.
160.XII. Con Sông (S.v,53)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về hướng
Ðông, hướng về hướng Ðông, xuôi về hướng Ðông. Rồi có một quần
chúng lớn đến cầm cuốc và giỏ nói rằng: "Chúng ta sẽ làm cho
sông Hằng này thiên về hướng Tây, hướng về hướng Tây, xuôi về
hướng Tây". Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, quần chúng
lớn ấy có thể làm cho sông Hằng thiên về hướng Tây, hướng về
hướng Tây, xuôi về hướng Tây không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Vì sao? Vì rằng sông Hằng thiên về hướng Ðông, hướng về
hướng Ðông, xuôi về hướng Ðông, không dễ gì có thể làm sông Hằng
thiên về hướng Tây, hướng về hướng Tây, xuôi về hướng Tây. Quần
chúng lớn ấy chỉ phải khổ nhọc, phiền não mà thôi.
3) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám
ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, thời các vua, đại
thần của vua, bằng hữu, đồng nghiệp, thân thích hay quyến thuộc
cùng một huyết thống, đem tài sản đến mời mọc: "Hãy đến, này Bạn
! Sao để những cà-sa này làm phiền não Bạn? Sao lại bộ hành với
đầu trọc và y bát? Hãy hoàn tục, hưởng các tài sản và làm các
công đức". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành,
làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành từ bỏ học pháp và hoàn tục;
sự kiện như vậy không xảy ra. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo,
tâm của vị ấy đã lâu ngày thiên về viễn ly, hướng về viễn ly,
xuôi về viễn ly, không thể nào có thể trở lại hoàn tục; sự kiện
như vậy không xảy ra. Và thế nào là Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám
ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm
cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. ooOoo |