|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 30 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 537. CỘI NGUỒN SANH TỬ - Kinh Lậu Hoặc (āsavasuttaṃ) . ... .
Ba loại lậu là dục lậu,
hữu lậu, vô minh lậu là
những phiền não “vô hình, vô ảnh” nhưng lại chi phối phần lớn
cuộc sống của con người. Đức Phật nhấn mạnh là chỉ có sự tu tập
bát chánh đạo mới có khả năng “ Thấy rõ, hiểu rõ, đoạn tận,
buông bỏ hoàn toàn ba lậu hoặc này. Có những thứ phiền não không
thể nhận diện bằng cái nhìn thức.Kinh Văn
163. “tayome, bhikkhave, āsavā.
katame tayo? kāmāsavo, bhavāsavo, avijjāsavo ime kho, bhikkhave,
tayo āsavā. imesaṃ kho, bhikkhave, tiṇṇannaṃ āsavānaṃ abhiññāya
pariññāya parikkhayāya pahānāya ... pe ... ayaṃ ariyo aṭṭhaṅgiko
maggo bhāvetabbo”ti. tatiyaṃ.
“Này các Tỳ khưu, có ba loại lậu hoặc này. Ba loại nào? Dục lậu, hữu lậu,
vô minh lậu.
Đó là ba loại lậu hoặc. Bát Thánh Đạo cần được tu tập để thấy, để biết, để
đoạn tận, để từ bỏ hoàn toàn ba loại lậu hoặc này.”
Chú Thích
“Lậu” có nghĩa đen là "rỉ chảy", "thấm’, “rò rỉ". “Lậu hoặc” (āsava) ám
chỉ những dòng ô nhiễm nội tâm không ngừng chảy ra từ bên trong
tâm thức, khiến con người trôi lăn trong sinh tử luân hồi
(saṁsāra). Chúng là những phiền não vi tế, ăn sâu vào căn tánh,
khó nhận biết, nhưng chính là gốc rễ của khổ đau và mê lầm. Ý
nghĩa tổng quát của ba lậu hoặc nầy là:
1. Dục lậu (Kāma-āsava) là sự thèm khát, nhiễm đắm, và bám víu vào dục lạc
ngũ trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc.
2. Hữu lậu (Bhava-āsava) là sự dính mắc vào "sự hiện hữu" – tức là chấp
thủ vào bản ngã, sự "tôi đang là", "tôi sẽ thành", "tôi không
muốn mất".
3. Vô minh lậu (Avijjā-āsava) là sự không thấy biết đúng như thật
(yathābhūta ñāṇa) về các pháp: vô thường, khổ, vô ngã, duyên
khởi... Vì vô minh, nên mới có tạo nghiệp → có thức → có tái
sinh → có khổ.
Có hai bảng liệt kê: Tứ Lậu và Tam Lậu trong kinh điển. Tam lậu
gồm: Dục lậu, Hữu lậu, Vô minh lậu. Tứ lậu gồm: Dục lậu, Hữu
lậu, Kiến lậu, Vô minh lậu. Thắng Pháp Tạng thường nói về tứ
lậu. Kinh Tạng nói nhiều về tam lậu. Theo một số học giả thì Hán
Tạng đặc biệt nói nhiều về tứ lậu và rất ít khi nói về tam lậu.
Không có bản sớ giải riêng bài kinh nầy.
Sớ Giải
162-171. vidhāti mānakoṭṭhāsā
mānaṭhapanā vā. seyyohamasmīti vidhāti ahamasmi seyyoti evaṃ
mānakoṭṭhāso mānaṭhapanā vā. nīghāti dukkhā. vacanattho panettha
yassa uppajjanti, taṃ purisaṃ nīhanantīti nīghā. sesamettha
uttānamevāti.
1. vidhāti mānakoṭṭhāsā mānaṭhapanā vā.
"Các hình thức phân biệt hay định đặt (vidhāti) ngã mạn chấp (māna) – được
gọi là các phần của ngã mạn (mānakoṭṭhāsā), hoặc là sự biểu hiện
mạn (mānaṭhapanā)."
2. seyyohamasmīti vidhāti,
ahamasmi seyyoti – evaṃ mānakoṭṭhāso mānaṭhapanā vā.
"'Ta hơn người' – đó là một dạng định đặt
phân biệt. ‘Ta là người hơn’ – đó cũng là một
thành phần của ngã mạn
hoặc là hình thức biểu hiện ngã
mạn."
3. nīghāti dukkhā.
"Nīghā có nghĩa là đau khổ."
4. vacanattho panettha: yassa
uppajjanti, taṃ purisaṃ nīhanantīti nīghā.
"Về mặt ý nghĩa từ ngữ (vacanattho), thì: Đối với người nào mà những loại
ngã mạn này khởi lên, chúng làm suy giảm (nīhananti)
người ấy — do đó gọi là nīghā."
5. sesamettha uttānameva.
"Phần còn lại ở đây thì đã rõ ràng, hiển
nhiên rồi."
(Những bài kinh từ số 163 đến 171 không có thêm chú thích vì dễ híểu)
VII. Phẩm Tầm Cầu (Esanavaggo)
163.III. Lậu Hoặc (I-IV) (S.v,56)
1) ...
2-33) -- Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này. Thế nào là ba? Dục
lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Này các Tỷ-kheo, đó là ba lậu hoặc
này. Chính vì mục đích thắng tri... liễu tri... đoạn diệt...
đoạn tận ba lậu hoặc này mà Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu
tập. ooOoo |