BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 30 tháng 10, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 45, Tương Ưng Đạo. Phẩm Tầm Cầu. SN 45.163
Bài 537. CỘI NGUỒN SANH TỬ - Kinh Lậu Hoặc (āsavasuttaṃ) .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-537.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Ba loại lậu là  dục lậu,  hữu lậu, vô minh lậu là những phiền não “vô hình, vô ảnh” nhưng lại chi phối phần lớn cuộc sống của con người. Đức Phật nhấn mạnh là chỉ có sự tu tập bát chánh đạo mới có khả năng “ Thấy rõ, hiểu rõ, đoạn tận, buông bỏ hoàn toàn ba lậu hoặc này. Có những thứ phiền não không thể nhận diện bằng cái nhìn thức.
Kinh Văn

163. “tayome, bhikkhave, āsavā. katame tayo? kāmāsavo, bhavāsavo, avijjāsavo ime kho, bhikkhave, tayo āsavā. imesaṃ kho, bhikkhave, tiṇṇannaṃ āsavānaṃ abhiññāya pariññāya parikkhayāya pahānāya ... pe ... ayaṃ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvetabbo”ti. tatiyaṃ.

“Này các Tỳ khưu, có ba loại lậu hoặc này. Ba loại nào? Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.

Đó là ba loại lậu hoặc. Bát Thánh Đạo cần được tu tập để thấy, để biết, để đoạn tận, để từ bỏ hoàn toàn ba loại lậu hoặc này.”

Chú Thích

“Lậu” có nghĩa đen là "rỉ chảy", "thấm’, “rò rỉ". “Lậu hoặc” (āsava) ám chỉ những dòng ô nhiễm nội tâm không ngừng chảy ra từ bên trong tâm thức, khiến con người trôi lăn trong sinh tử luân hồi (saṁsāra). Chúng là những phiền não vi tế, ăn sâu vào căn tánh, khó nhận biết, nhưng chính là gốc rễ của khổ đau và mê lầm. Ý nghĩa tổng quát của ba lậu hoặc nầy là:

1. Dục lậu (Kāma-āsava) là sự thèm khát, nhiễm đắm, và bám víu vào dục lạc ngũ trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc.

2. Hữu lậu (Bhava-āsava) là sự dính mắc vào "sự hiện hữu" – tức là chấp thủ vào bản ngã, sự "tôi đang là", "tôi sẽ thành", "tôi không muốn mất".

3. Vô minh lậu (Avijjā-āsava) là sự không thấy biết đúng như thật (yathābhūta ñāṇa) về các pháp: vô thường, khổ, vô ngã, duyên khởi... Vì vô minh, nên mới có tạo nghiệp → có thức → có tái sinh → có khổ.

Có hai bảng liệt kê: Tứ Lậu và Tam Lậu trong kinh điển. Tam lậu gồm: Dục lậu, Hữu lậu, Vô minh lậu. Tứ lậu gồm: Dục lậu, Hữu lậu, Kiến lậu, Vô minh lậu. Thắng Pháp Tạng thường nói về tứ lậu. Kinh Tạng nói nhiều về tam lậu. Theo một số học giả thì Hán Tạng đặc biệt nói nhiều về tứ lậu và rất ít khi nói về tam lậu.

Không có bản sớ giải riêng bài kinh nầy.

Sớ Giải

162-171. vidhāti mānakoṭṭhāsā mānaṭhapanā vā. seyyohamasmīti vidhāti ahamasmi seyyoti evaṃ mānakoṭṭhāso mānaṭhapanā vā. nīghāti dukkhā. vacanattho panettha yassa uppajjanti, taṃ purisaṃ nīhanantīti nīghā. sesamettha uttānamevāti.

1. vidhāti mānakoṭṭhāsā mānaṭhapanā vā.

"Các hình thức phân biệt hay định đặt (vidhāti) ngã mạn chấp (māna) – được gọi là các phần của ngã mạn (mānakoṭṭhāsā), hoặc là sự biểu hiện mạn (mānaṭhapanā)."

2. seyyohamasmīti vidhāti, ahamasmi seyyoti – evaṃ mānakoṭṭhāso mānaṭhapanā vā.

"'Ta hơn người' – đó là một dạng định đặt phân biệt. ‘Ta là người hơn’ – đó cũng là một thành phần của ngã mạn hoặc là hình thức biểu hiện ngã mạn."

3. nīghāti dukkhā.

"Nīghā có nghĩa là đau khổ."

4. vacanattho panettha: yassa uppajjanti, taṃ purisaṃ nīhanantīti nīghā.

"Về mặt ý nghĩa từ ngữ (vacanattho), thì: Đối với người nào mà những loại ngã mạn này khởi lên, chúng làm suy giảm (nīhananti) người ấy — do đó gọi là nīghā."

5. sesamettha uttānameva.

"Phần còn lại ở đây thì đã rõ ràng, hiển nhiên rồi."

(Những bài kinh từ số 163 đến 171 không có thêm chú thích vì dễ híểu)

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

VII. Phẩm Tầm Cầu (Esanavaggo)

 

163.III. Lậu Hoặc (I-IV) (S.v,56)

1) ...

2-33) -- Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này. Thế nào là ba? Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Này các Tỷ-kheo, đó là ba lậu hoặc này. Chính vì mục đích thắng tri... liễu tri... đoạn diệt... đoạn tận ba lậu hoặc này mà Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập.

ooOoo