|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 06 tháng 09, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 5. CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO
Quảng đời từ khi Bậc Đạo Sư rời hoàng cung năm 29 tuổi cho đến
khi Ngài thành đạo kéo dài sáu năm. Có rất nhiều sử kiện ghi
lại trong những năm tháng nầy. Bên cạnh đó cũng có nhiều cái
nhìn về giai đoạn đó. Một quan niệm phổ thông của Phật giáo
Đại Thừa là Đức Phật vốn đã thành đạo từ nhiều kiếp quá khứ
nên những gì xẩy ra chỉ là sự thị hiện. Một quan niệm khác
đến từ một số lớn Phật tử theo Nam truyền là sự kéo dài khổ
hạnh là do nghiệp lực quá khứ của Ngài. Phải rất cẩn thận
đối với hai quan niệm nầy vì có thể dẫn đến sự phủ nhận
những nỗ lực phi thường và thái độ trắc nghiệm trên đường tu
chứng của Đức Bồ Tát. Trong nhiều bài kinh như Kinh Thánh
Cầu hay Đại kinh Saccaka Đức Phật đã tự thuật về hành trình
của Ngài trước khi giác ngộ mà qua đó quảng đời ở tại hoàng
cung được xem là cao điểm của cuộc sống sung túc vật chất;
trái lại, những năm tháng hành trì khổ hạnh là một trắc
nghiệm đối lập. Cả hai đều cho thấy không dẫn đến cứu cánh
đích thực. Sự lựa chọn con đường trung đạo không nên hiểu là
sự nản lòng đối với khổ hạnh mà là một nhận thức mới, rất
riêng của Ngài, đối với cánh cửa bước vào giác ngộ giải
thoát. Những bước sau cùng đó mặc dù vốn đã được huân tu từ
vô lượng kiếp nhưng không nên hiểu là sự đưa đẩy ngẫu nhiên
của duyên nghiệp mà vẫn toả sáng với ý chí phi thường và tư
duy trác việt. Ngài không tìm được hướng đi đích thực từ
những vị thầy lỗi lạc đã gặp hay từ một nền văn hoá có bề
dày sùng tín khổ hạnh du già. Ngài đã nghiệm ra cánh cửa
bước vào cảnh giới bao la của giác ngộ giải thoát ở chính
bản thân của mình. Những phấn đấu và suy nghĩ đó vẫn là một
bài học lớn cho nhiều thế hệ sau nầy. Đạo lộ đó chính là
Trung Đạo.
Khi nữa chữ không hẳn là thầy
Nói đến học đạo chuyện đầu tiên là tìm thầy. Đức Bồ Tát bấy giờ được biết đến với tên gọi Sa môn Gotama. Ngài hướng
tìm những bậc chân sư nổi tiếng với trình độ tu chứng và khả
năng hướng dẫn.
Ālāra Kālāma và Uddaka Rāmaputta được người thời bấy giờ sùng
kính là những bậc thầy giỏi đạo cao. Ālāra Kālāma chứng
thiền vô sở hữu và Uddaka Rāmaputta chứng thiền phi tưởng
phi phi tưởng. Cả hai đều là thiền vô sắc cao vợi. Hai vị
đạo sĩ nầy đều có đồ chúng đông đảo.
Đức Bồ Tát nhanh chóng chứng ngộ những gì do hai vị thầy Ālāra
Kālāma và Uddaka Rāmaputta hướng dẫn. Đây là sự chứng đắc mà
không một học trò nào trong đồ chúng của hai vị đó có được.
Cả hai vị thầy đều hoan hỷ đối với trình độ tu chứng của Đức
Bồ Tát và và thỉnh cầu Ngài vào địa vị ngang hàng với mình
để hướng dẫn đồ chúng.
Mặc dù chứng đắc được những gì đã học nhưng Đức Bồ Tát sớm
nhận ra không phải là cứu cánh đích thực thoát khổ trầm luân
sanh tử và lợi lạc cho nhiều người.
Vì đây chỉ là sự chuyên sâu của tam muội định dành cho những
người có tâm thuật cao. Ngài có học nhưng không xem là đắc
dụng cho đại nguyện tự giác, giác tha. Hai vị thầy đó có
chia sẻ về kinh nghiệm tu chứng nhưng không thể xem là thầy
của Đức Phật vì sau nầy sự thành đạo của Ngài là sự khám phá
của riêng mình. Ngài đã ra đi để tiếp tục hành trình tầm cầu
chân lý tối thượng.
Hình 15
Hình 16
Vị vua bỏ ngôi gặp vua tại vị
Magadha (Ma Kiệt Đà) là vương quốc phồn thịnh bậc nhất cổ Ấn
thời bấy giờ với vị vua trẻ hiền đức Bimbisāra (Tần bà sa la
hay Bình Sa Vương).
Đức Bồ Tát trong hành trình tìm đạo cả đã xuôi về nam tới
vương quốc nầy. Nơi đây đã trở thành vùng đất quan trong đối
với chính Đức Phật và giáo pháp về sau nầy.
Một hạnh ngộ hiếm có giữa một vị quân vương từ bỏ ngai vàng và
vị vua đương kim xẩy ra ở kinh đô Rājagaha (Vương Xá). Khi vua Bimbisāra được cận thần đến trình tâu về một tu sĩ trẻ tuổi uy
nghiêm như một bậc nhân chủ với thần thái phi phàm đang khất
thực độ nhật trong thành. Nghe xong nhà vua nhanh chóng rời
hoàng cung tìm đến diện kiến Đức Bồ Tát.
Một lời khẩn cầu hãn hữu được ghi lại trong cuộc hội kiến kỳ
thú nầy.
Vi vua trẻ Bimbisāra bấy giờ ở tuổi 24 gặp Đức Bồ Tát ở tuổi
30. Cả hai đều
là bậc anh tài trí đức kiêm ưu. Khi được hỏi về xuất thân,
Đức Bồ Tát đã cho biết Ngài vốn là vua xứ Sakya đưới cho núi
Hy Mã Lạp từ bỏ ngai vàng vì nhận thấy hệ luỵ của dục lạc và
đang tìm đạo tối thượng cứu mình, cứu đời. Vua Bimbisāra
nghe với tất cả sự ngưỡng kính đã thốt lời khẩn cầu Đức Bồ
Tát ở lại vương quốc và xin đươc chia phân nữa giang san.
Tất nhiên Đức Bồ Tát từ chối.
Dù không nhận lời làm vua phân nữa đất nước Magadha nhưng Đức
Bồ Tát lại có một lời hứa nặng nghìn cân. Đó là vua Bimbisāra
sau khi biết rõ đại nguyện vô thượng đã đưa lời thỉnh cầu
thứ hai đó là sau khi tìm được chân lý tối thượng xin Đức Bồ
Tát trở lại để khai ngộ nhà vua. Lời khẩn cầu đó được hứa
khả.
H
Lập thuyết hữu lý không hẳn hợp lý
Trong văn hoá và đạo học Ấn độ thì pháp tu khổ hạnh là tín lý nghìn đời dựa
trên tinh thần khắc kỷ.
Người ta tinh rằng trở ngại lớn nhất trong sự khai thông tuệ
giác cũng như sự hiệp thông với Thượng đế (đại ngã) chính là
sự vị ngã hẹp hòi. Buông bỏ được ngã chấp hoàn toàn thì ánh
sáng sẽ xuất hiện. Con đường từ bỏ vị ngã chính là khổ hạnh
ép xác. Thân xác không được nuông chìu thì ngã chấp sẽ không
còn. Quan niệm nầy được đa số quần chúng chấp nhận và ngưỡng
mộ từ xưa đến nay tại Ấn Độ.
Đức Bồ Tát trong hùng tâm tầm cầu chân lý đã không ngần ngại
chấp nhận thử thách với chính mình. Ngài đã kinh qua những
pháp khổ hạnh bậc nhất như đại bất tịnh thực, đại yểm ly, ép
xác, tuyệt thực. Nói cách khác là không có khổ hạnh nào Ngài
không trãi nghiệm. Chư Phật nhưng một thông lệ cố nhiên đều
trãi qua thời gian trắc nghiệm khổ hạnh trước khi thành đạo
nhưng riêng với Đức Phật Gotama thì thời gian nầy khá dài.
Mặc dù khổ tu là điều thường được tán thán, kính ngưỡng như kỳ
thật khổ hạnh và lợi dưỡng chỉ là hai cực đoan của bản năng
và nỗ lực. Hưởng thụ dục lạc là lối sống bản năng của hầu hết chúng sanh. Khi nói
đến tu tập người ta thường nghĩ đến sự đối lập là khắc kỷ
khổ hạnh. Đó chỉ là cách suy nghĩa đối đãi và đối lập. Cả
hai đều rơi vào tinh thần cực đoan. Xác thân được cung phụng
cũng dẫn tới hệ luỵ mà thể lực bị huỷ hoại cũng làm hỏng
hành trình giác ngộ.
Sau thời gian dài trắc nghiệm khổ hạnh Đức Bồ Tát rơi vào tình
trạn thể lực cạn kiệt.
Sự khắc kỷ ép xác đã khiến hình hài của Ngài mất đi điều
kiện thích hợp cho sự phát triển nội tại. Những nhận thức
của Ngài về khổ hạnh không phải dựa trên suy luận mà cho
chính kinh nghiệm thật sự của bản thân.
Hình 17
Con đường trung đạo
Sau khi khẳng định sự vô ích của khổ hạnh Đức Bồ Tát tự đưa ra
một hướng mới khởi từ kinh nghiệm thời thơ ấu. Đó là khi Ngài lên bảy tuổi trong một buổi lễ hạ điền ngồi dưới bóng đại
thụ một mình đã an trú vào sơ thiền. Kinh nghiệm nầy không
phải xa lạ vì Ngài từng chứng tầng thiền phi tưởng phi phi
tưởng trước đó vài năm nhưng điều quan trọng là sự dung
thông chỉ và quán. Định lực làm nền tảng cho tuệ quán. Cả
hai song hành thì diệu dụng. Chính sự kết hợp nhuần nhuyễn
nầy dẫn đến thể nhập tam minh trong đêm thành đạo.
Sau những trắc nghiệm Đức Bồ Tát đã nghĩ đến thí dụ về cách đánh lửa bằng
hai phiến gỗ.
Gỗ ẩm ướt cọ xát không ra lửa. Gỗ mục cũng không đánh lửa
được. Hưởng thụ dục lạc chỉ là lối sống tăng thịnh phiền
não. Còn khổ hạnh hành xác chỉ làm cạn kiệt thể lực. Cả hai
đều là cực đoan của thái quá và bất cập.
Đức Bồ Tát đã từ bỏ khổ hạnh nhưng phục hồi thể lực không phải
là bỏ cuộc.
Ngài muốn có sức khoẻ thích hợp cho sự phát triển thiền định
và tuệ giác. Nhóm năm đạo sĩ Koṇḍañña với nhiều năm kề cận
Đức Bồ Tát với hy vọng mãnh liệt là do khổ hạnh tối thượng
một lúc nào đó ánh sáng nhiệm mầu sẽ bừng khởi. Họ đã thất
vọng bỏ đi khi Đức Bồ Tát dứt khoát từ bỏ khổ hạnh.
Khó tưởng tượng một người đã từ bỏ ngai vàng và chiếc ghế giáo
chủ cao trọng để chọn chỗ ngồi trên ba bó cỏ tranh dưới cội
cây đại thụ. Chẳng những vậy Ngài còn lập thệ sẽ không rời nơi đó nếu không rời nơi đó
nếu chánh quả không thành. Thái độ cương quyết chưa từng có
nầy biểu thị sự chín mùi của công phu, của bao trải nghiệm,
bao suy tư về cái gì là cứu cánh đích thực cùa hành trình
giác ngộ giải thoát.
H
H
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |