|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 13 tháng 09, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 6. VIÊN THÀNH CHÁNH GIÁC
Những gì được ghi lại về sự chứng đắc
quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác
của Đức Thế Tôn và những tuần lễ ngay
sau đó tương đối có nhiều chi tiết rõ
ràng. Nhưng với phần đông Phật tử lại
học hiểu hay quan niệm không chính xác
với lịch sử. Không giống với những bậc
thinh văn đệ tử, đêm thành đạo của Đức
Thế Tôn khởi đầu là thể nhập tam muội
định rồi quán chiếu rõ nét quá trình
trầm luân sanh tử cho tới khi tuệ giác
tối thượng bừng khởi. Những tuần lễ sau
đó của Đức Thế Tôn cũng ghi lại nhiều
dấu ấn quan trọng. Một điểm nên lưu ý là
người ta thường đề cập đến những chi
tiết phụ thuộc trong lúc điểm chính yếu
ít khi được nhắc và nhớ.
Ngày Rằm Tháng Vesak
Ngày Đức Thế
Tôn thành đạo cũng là ngày rằm tháng Vesak.
Sáng hôm đó Ngài ngồi trầm tư dưới cội cây ajapāla với sự sung mãn thể lực
và nội tâm sau thời gian từ bỏ khổ hạnh và lựa chọn con
đường trung đạo.
Một thiếu
phụ tên Sujatā mang lễ phẩm đến cội cây để cúng thọ thần đã
gặp Đức Bồ Tát và phát tâm cúng dường cơm đề hồ.
Đó là bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng. Ngài đã thọ thực và sau đó
nhiều tuần lễ không ăn uống gì khác.
Rời cội cây
ajapāla Đức Bồ Tát quyết định băng ngang dòng sông cạn
Nirañja để đến khu rừng bên kia sông.
Một người ba la môn gặp Ngài bên bờ sông đã cúng dường ba bó
cỏ tranh. Ngài mang những cỏ tranh nầy đi ngang dòng sông
cạn đến một khu rừng hoang dã bên kia và chọn một chỗ tình
toạ dưới cội cây. Về sau nầy cội cây được gọi là bodhi (cây
bồ đề) vì dưới tàng cây nầy Ngài chứng thành Phật quả vô
thượng.
Hình 20
Đêm Thành Đạo
Khi ánh trăng rằm khởi sáng trong đêm
cũng là lúc Đức Bồ Tát thể nhập vào
thiền chứng tam muội định ở mức độ xả
niệm thanh tịnh và thành tựu tuệ giác
đầu tiên là túc mạng minh.
Với tuệ giác siêu việt nầy Ngài nhớ lại
rất nhiều kiếp quá khứ với đầy đủ chi
tiết về danh tánh, gia thế, sở hành.
Hành trình sanh tử trầm luân trải qua
bao kiếp sống hiện rõ trong tâm tư của
Ngài như một bức tranh đặt ngay trong
tầm mắt có thể nhìn bất cứ phần nào với
đầy đủ chi tiết.
Từ sự nhớ
biết quá khứ của túc mạng minh kéo dài trong canh đầu Ngài
nhận ra những đầu mối nhân quả của cuộc trầm luân.
Những hiện tượng khổ vui trong cuộc sống không là những mảng
rời rạc mà là sự liên đới chằng chịt của nhân quả dù khác
biệt thời gian, không gian. Không có gì xảy ra trong cuộc
sống là ngẫu nhiên tình cờ hay bí mật dưới ánh sáng của tuệ
giác quán chiếu được gọi là sanh tử minh. Thời gian Ngài thể
nhập sanh tử minh kéo dài trọn canh hai.
Từ sự bừng
khai của sanh tử minh Đức Bồ Tát đã quán sâu vào nguyên nhân
của đu khổ là phiền não nội tại.
Ngài nhận ra vai trò tạo tác của khát ái (tanhā) và sự mù
quáng của vô minh (avijjā) trong tiến trình duyên khởi.
Không còn chút mảy may hoang tưởng nào đối với thực tại; tất
cả phiền não thô tế bị xua tan, tận diệt ngay cả những tập
khí tế nhị nhất. Tâm trí Ngài hoàn toàn mới với nhất thiết
chủng trí. Đó là giai đoạn thể nhập lậu tận minh trong canh
ba.
Khi sao mai
vừa mọc Bậc Đại Sĩ viên thành quả vị vô thượng chánh đẳng
chánh giác.
Ngài tự mình đại ngộ và tự thân biết rõ những gì đã thành
tựu. Chính Đức Phật ngay sau khi ba canh thể nhập tam minh
đã thốt lên lời nầy:
"Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi mãi.
Như Lai đã
chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đã tận diệt mọi
Ái Dục".
(Kinh Pháp
Cú câu 153, 154. Bản dịch Việt của Phạm Kim Khánh)
Hình 22
Bảy tuần lễ
sau khi chứng thành Phật quả
Sau khi
thành đạo Đức Thế Tôn đã lưu tại chung quanh cội bồ đề ngoại
trừ tuần thứ năm và tuần thứ sáu. Ngài là bậc toàn giác nên
hành trạng rất khác biệt so với các bậc thánh khác.
Tuần lễ đầu tiên Đức Thế Tôn tĩnh toạ bất động
suốt bảy ngày thể nghiệm quả vị giải thoát
(Vimutti Sukha).
Trong ngày cuối cùng của tuần lễ nầy Ngài quán chiếu định lý
duyên khởi.
Trong tuần lễ thứ nhì Đức Thiện Thệ đã đứng nhìn
cội cây bồ đề không chớp mắt. Ngài Narada viết về khoảng thời gian nầy với
những dòng chữ sau: “Trong sự yên lặng ấy Đức Phật đã ban
truyền cho thế gian một bài học luân lý quan trọng. Để tỏ
lòng tri ân sâu xa đối với cây Bồ Đề vô tri vô giác đã che
mưa đỡ nắng cho Ngài suốt thời gian chiến đấu để thành đạt
Đạo Quả, (Đức Phật Và Phật Pháp - bản dịch của Phạm Kim
Khánh)
Trong tuần lễ thứ ba Đức Thế Tôn đi kinh hành suốt
bảy ngày trên trên con đường do Ngài hoá hiện (ratana
caṇkamana)
. Ngài làm vậy vì đọc được tâm của chư thiên thắc mắc không
biết Ngài đã viên thành Phật quả hay chưa
Trong tuần lễ thứ tư, Đức Phật ngự trong "bảo
cung" (ratanaghara) hay “pháp lâu” để quán chiếu về duyên
hệ.
Đây là tinh yếu của Thắng Pháp Abhidhamma sau nầy được ghi
lại trong bộ Patthana.
Khi quán sát kết cấu tinh vi nầy từ châu thân Phật
phát sáng hào quang sáu màu.
Tất cả hiện tượng pháp giới như một lâu đài vĩ đại mà Đức
Thế Tôn đi lại với sự tinh tường mọi ngõ ngách vì Ngài thấu
triệt định lý duyên hệ.
Trong tuần thứ năm, Đức Phật rời cội bồ đề đến
tĩnh toạ dưới tàng cây ajapāla bên kia giòng sông nơi Ngài
đã nhận thực sự cúng dường của Sujatā trước đêm thành đạo. Trong tuần lễ nầy người đầu tiên gặp Ngài
là một ông bà la môn đến nêu lên câu hỏi thế nào là một phạm
chí thực sự. Đức Phật dạy đó là người đã đoạn tận phiền não
nội tại. Trong tuần lễ nầy có ba thiên ma là
Tanha, Arati và Raga đến để tìm cách gợi lên những
phiền não nơi Ngài. Tất nhiên không có gì có thể khiến tâm
tư của một vị Phật uế nhiễm được.
Trong tuần lễ thứ sáu Đức Thế Tôn đến một bờ hồ
tĩnh toạ.
Mưa giông liên tục nhiều ngày nhưng Ngài vẫn vô sự vì long
vương Mucalinda dùng
thân che chắn giữ khô ráo cho Ngài suốt thời gian nầy. Tuần
lễ kết thúc với sự khai thị của Đấng Thiên Nhân Sư dành cho
long vương.
Trong tuần
lễ thứ bảy, Đức Phật
trở lại khu vực gần cây bồ đề và ngồi dưới cội cây
Rajayatana và thể nghiệm hạnh phúc giải thoát.
Cuối thời gian nầy có hai sự kiện được ghi nhận. Trước hết
là hai thương buôn Tapassu và Bhallika từ Ukkala đến đảnh lễ
và cúng dường bữa ăn đầu tiên sau khi Đức Thế Tôn thành đạo.
Cũng trong tuần lễ nầy phạm thiên Sahampati đã cầu thỉnh
Phật chuyển pháp luân độ đời.
Hình 24
Vài điểm thường ngộ nhận chung quanh thời gian thành đạo
Câu chuyện
cúng dường cơm sữa đề hồ có những điều thường hiểu sai. Bà Sujatā xuất thân từ ngôi lành gần cội bồ đề vốn có lời
khấn nguyện khi còn là một thiếu nữ mong cầu một hôn nhân
viên mãn và đã đắc kỳ sở nguyện. Khi đứa con trai, sau nầy
là tôn giả Yasa, đã thành nhân bà đã trở về cố hương để tạ
lễ. Bấy giờ là một phu nhân đứng tuổi không còn là thiếu nữ.
Bà chuẩn bị thực phẩm tinh khiết thượng vị với ý định cúng
thọ thần để trả lễ nhưng khi gặp Đức Bồ Tát phát tâm kính
ngưỡng cúng dường chứ không phải lầm tưởng đó là thọ thần.
Bà là người hữu duyên cúng dường trước đêm thành đạo chứ
không phải sau khi Bồ Tát từ bỏ khổ hạnh. Lúc bấy giờ Đức Bồ
Tát đã hoàn toàn hồi phục thể lực. Đức Bồ Tát đã thọ thực
đầy đủ chứ không giữ lại “49 vắt cơm để ăn trong bảy tuần lễ
sau đó”. Bà Sujatā là một người đại diễm phúc vì đời sống
thiếu thời sung túc, có hôn nhân viên mãn, được cúng dường
bữa cơm trước khi Bậc Đại Giác thành đạo, là người cư sĩ đầu
tiên quy y tam bảo và là đệ tử cư sĩ đầu tiên chứng thánh
quả tu đà huờn.
Đức Thế Tôn
không tu 49 ngày mới đắc đạo như nhiều người thường nói mà
những gì được ghi lại là bảy tuần lễ sau ngày thành đạo.
Đức Thế Tôn
sau ba canh quán chiếu bằng tam minh đã viên thành Phật quả
toàn giác khi sau mai vừa mọc. Điều nầy có nghĩa là Ngài
chứng đạt nhất thiết chủng trí ở canh cuối chứ không phải
đầu hôm. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |