|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 15 tháng 09, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA CHƯƠNG 1. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM ĐOẠN (S.i, 42) .
Bài 4. Kinh Mưa (Vuṭṭhisuttaṃ)
-KHÔNG LÀ THÁNH GIẢ KHÓ NÓI THÁNH NGÔN
Những lời cao
quý phát xuất từ tâm tư cao quý. Người tầm thường khó nói
những ý lý cao siêu. Đức Phật xuất hiện ở đời qua sự tuyên
lưu chánh pháp đã có những thông điệp cho cuộc sống khó tìm
thấy ở chúng sanh khác ngoài Đức Phật hay đệ tử Phật. Nội
dung của bài kinh nầy cũng nêu lên tinh thần hướng thượng
khi Đức Phật dạy “tuệ minh tăng trưởng là tốt mà vô minh
giảm thiểu cũng là dấu hiệu tốt” . Con người ít khi lượng
định sự tiến bộ qua hiểu biết chân thật mà thường nhìn bên
ngoài qua sự tăng tiến của lợi danh.
[Vị Thiên]
‘‘Kiṃsu uppatataṃ seṭṭhaṃ, kiṃsu nipatataṃ varaṃ;
Vật gì được mọc lên,
[Một Thiên nhân]
‘‘Bījaṃ uppatataṃ seṭṭhaṃ, vuṭṭhi nipatataṃ varā;
Hột giống được mọc lên,
[Thế Tôn]
‘‘Vijjā uppatataṃ seṭṭhā, avijjā nipatataṃ varā;
Huệ minh được mọc lên,
Bản hiệu đính:
[Vị Thiên]
Cái gì lên là tốt
[Một vị thiên khác]
Hột giống mọc là tốt
[Thế Tôn]
Tuệ minh tăng là tốt
Bīja= hạt giống
Theo Sớ giải thì một vị thiên hỏi Đức Phật những với bài kệ
đầu tiên. Một vị thiên khác tự nghĩ là mình có câu trả lời
nên “Tại sao hỏi Phật tôi cũng trả lời được”. Nghe xong vị
thiên kia đã khiển trách và bạch hỏi Đức Phật lần nữa.
Cũng theo Sớ giải thì vị thiên thứ hai nghĩ rằng giống thóc
mọc lên là dấu hiệu của thịnh vuợng trong cõi nhân gian
trong lúc mưa rơi xuống thì khiến hoa mầu tươi tốt. Trâu bò
thả ra đồng thì cũng mang lại lợi nhuận như sữa, bơ… Người
con trai là nhân tuyển tốt nhất để nói về cha mẹ mình trước
pháp đình hay đám đông vì luôn luôn nói từ góc nhìn tốt
nhất.
Tuệ minh là hiểu biết về khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ và
con đường dẫn tới diệt khổ. Vô minh là sự mù quáng đối lập
với tuệ minh.
Riêng trong câu kệ thứ ba thì chữ
pavajamānānaṃ được
trả lời giống như cách “chơi chữ”. pavajamānānaṃ là hiện
tại phân từ pavajati hoặc
pabbajati. Pavajati có nghĩa là lang thang, thả
rong.Pabbjati có nghĩ là từ bỏ gia đình sống không gia đình
(nên pabbajjā la xuất gia). Câu thứ ba trong kệ ngôn của Đức
Phật mang hai hàm ý là chư tăng vân du hành hoá mang lại lợi
lạc cho nhân quần và cũng là lối sống thích hợp cho người
xuất gia. Đức Phật là bậc tối thượng về thuyết giảng vì khai
thị vô số chúng sanh ngộ nhập chánh kiến. @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |