|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, 17 tháng 09, 2021
MÔN HỌC PHẠN NGỮ PÀLÌ
1. Chia động từ thì tương lai
Thì tương lai chỉ cho
những gì sẽ xẩy ra đối với động từ. Động từ thì tương lai
trong Pāli cũng đơn giản như trong Anh ngữ.
Thì tương lai tạo thành
bằng cách thêm -ssa và động từ căn hoặc động từ nguyên mẫu
với nguyên âm -i- đứng giữa. Cũng có trường hợp không cần
nguyên âm -i-.
Sự tận cùng để chia ngôi
thứ và số cũng giống nhưng thì hiện tại.
Nguyên mẫu:
paca
=
to cook
Số ít
Số nhiều
Ngôi thứ ba_ (Te) pacissanti = Họ sẽ nấu
Nguyên mẫu:
core
=
to steal
Số ít / Số nhiều
Ngôi thứ ba_ (So) coressati / (Te) coressanti
Nguyên mẫu:
kiṇā
= to buy
Số ít / Số nhiều
Ngôi thứ ba_ (So) kiṇissati / (Te) kiṇissanti
2. Nên lưu
ý có vài trường hợp đặc biệt sau:
gacchati – gamissati = nó sẽ đi
PĀLI VUI ĐỂ HỌC
CÙNG GỐC NHƯNG KHÁC NGỌN
Ngôn ngữ nào cũng có những điểm “lắc
léo”. Phạm ngữ ngoài cấu trúc tế nhị của một ngôn ngữ mang
nhiều màu sắc tôn giáo, triết học còn được diễn dịch bởi
tông phái và những phân hoá hậu kỳ. Hơn thể nữa những thuật
ngữ Phật học ở Việt Nam còn chịu ảnh hưởng bởi “một ông lớn
của văn minh Đông Phương” là Trung Hoa. Những chi phối nầy
đôi khi tạo nên những từ ngữ dở khóc dở cười.
Khi A la hán không không phải
là ứng cúng.
Trong nền Phật Học Đại Thừa chữ Ứng Cúng dành cho bậc Chánh
Đẳng Chánh Giác trong lúc A la hán chỉ cho hàng thinh văn
tiểu thừa. Điều trớ trêu là trên phương diện văn tự thì cả
hai có cùng một gốc. A la hán là Phạn âm của chữ Arahaṃ,
được dịch là Ứng cúng có nghĩa là “bậc xứng đáng được cúng
dường vì hoàn toàn thanh tịnh. Trong Tam Tạng Pàli thì tất
cả bậc đoạn tận phiền não dù toàn giác, độc giác hay thinh
văn giác đều là bậc Arahaṃ. Khi HT Thích Minh Châu dịch Kinh
Tạng Pāli mở đầu với câu “Đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc A La Hán,
Chánh Đẳng Chánh Giác” đã tạo nên nhiều “khó chịu” trong
giới Phật học Việt Nam bởi vì “tại sao là chánh đẳng chánh
giác mà còn là a la hán (sic)”.
Khi thiền không có định.
Thiền trong tiếng Hán Việt được đọc là
“chan” trong Hoa ngữ và “Zen” trong Nhật ngữ. Tất cả đều
phát xuất từ Phạm ngữ jhāna. Định nghĩa chính xác thì jhāna
là phương cách thiêu đốt phiền não bằng định lực với năm
thiền chi là tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Bằng sự tập trung cao
độ hành giả có thể xuất nhật tự tại đối với các thiền chứng.
Jhāna thuộc samatha (tịnh chỉ) đối lại với vipassana (quán
niệm). Zen trong thiền học Nhật Bản (và cũng một phần của
thiền tông Trung Hoa) là cách trực nhận để tỏ ngộ qua sự
chiêm nghiệm và giải mã các công án với những tiêu chí như
“bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ chơn tâm,
kiến tánh thành Phật”. Nói một cách tương đối thì “thiền
Zen” gần với vipassana hơn samatha trong ý nghĩa uyên nguyên
của chữ jhāna.
Giáo chủ ta bà không hẳn là
ta bà giáo chủ.
Chữ
ta bà là phiên âm chữ sahā là cách viết ngắn của chữ
sahālokadhātu (ta bà thế giới) là một khái niệm bắt nguồn từ
Bà la môn giáo mà sau nầy Phật giáo Đại Thừa sử dụng với
khái niệm là một cõi Phật nằm trung vị trong ngũ phương thế
giới. Cõi ta bà không có được những hạnh phúc như cõi Tây
Phương Cực lạc của Đức Phật A Di Dà hay cõi Đông Phương của
Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Đức Phật Thích Ca là
giáo chủ cõi ta bà. Cõi
ta bà được dịch là nhẫn giới có nghĩa là cõi giới khổ nhất
trong tất cả cõi Phật cũng gọi là ngũ trược ác thế (giống
như người ta nói quê hương Miền Trung đất cày lên sỏi đá).
Trong Tam Tạng Pāli thì chữ ta bà giáo chủ hay Sahampati chỉ
cho một vị Đại Phạm Thiên ở cõi sắc giới. Vị nầy không trực
tiếp can dự vào những tế toái của nhân gian như Tứ Thiên
Vương hay Thiên chủ Đế Thích mà giống như vai trò danh dự
của tổng thống Ấn Độ (ceremonial role). Chính đại phạm thiên
Sahampati cung thỉnh Đức Phật chuyển pháp luân.
Trong ngôn ngữ nhà chùa đôi khi cụm từ
“ta bà giáo chủ” chỉ cho những nhà sư đi rày đây may đó
không thích trụ một chỗ. Chữ nghĩa có lúc cũng khiến người
ta … bó tay.
PĀLI TRONG NGHI THỨC NHẬT HÀNH
Hồi Hướng Chư Thiên
Ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā
BÀI TẬP 14
Dịch sang tiếng Việt
1. So pabbatamhā udentaṃ candaṃ passituṃ pāsādaṃ āruhissati.= Ông ấy trèo lên lâu đài để ngắm trăng lên từ núi
Dịch sang tiếng
Pāli 2. Tôi sẽ khuyên nhắc nhà vua cùng các quần thần cai trị đảo quốc với chân pháp. = Ahaṃ dhammena dīpaṃ pāletuṃ amaccehi saha bhūpālaṃ ovadissāmi 3. Để quần áo trên chỗ ngồi, đức bé sẽ xuống nước để tắm = Dārako āsanasmiṃ sāṭakaṃ ṭhapetvā nahāyituṃ udakaṃ otarissati . 4. Sau khi nghe pháp bạn sẽ hoan hỷ với Đức Như Lai. 5. Họ, những người đang đi lượm trái cây trong rừng, sẽ mong muốn uống nước. 6. Những nông dân đến gần thành phố, sẽ nhìn những chiếc xe đang chạy trên đường.
Biên soạn giáo
trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
@@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
|