|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 20 tháng 09, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 7. CHUYỂN PHÁP LUÂN
Dhammacakkapavattana có nghĩa là chuyển Pháp luân. Dịch rõ
hơn là khởi chuyển Pháp Luân có nghĩa là bánh xe pháp được
khởi sự vận hành hay là thuyết bài pháp đầu tiên. Trong tất
cả biểu tượng của các tôn giáo thì biểu tượng bánh xe
(cakka) của Phật Pháp mang ý nghĩa đặc biệt. Bánh xe là phát
minh quan trọng của nhân loại để sự vận chuyển dễ dàng hơn.
Phật Pháp là phương tiện chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc.
Bánh xe của nói lên sự thực dụng và thực tiễn là bản sắc cố
hữu của Phật Pháp. Giáo lý tứ đế mà Đức Phật giảng dạy trong
Kinh Chuyển Pháp Luân hàm chứa toàn bộ tinh thần cốt tuỷ của
giáo pháp xuyên suốt 45 năm hoằng pháp sau nầy. Người con
Phật không thể không biết về tính cách quan trọng của bài
pháp đầu tiên mang tên. Kinh Chuyển Pháp Luân.
Thỉnh Phật Chuyển Pháp Luân
Chuyển Pháp
Luân lại đại sự nhân duyên ở đời và phạm thiên Sahampati đã
cung thỉnh Phật hoằng truyền giáo pháp.
Tất cả sự
kiện trọng đại trong đời của chư Phật toàn giác đều là đại
sự nhân duyên biểu tỏ qua sự thỉnh cầu. Trong tuần lễ thứ
bảy sau khi thành đạo Đức Thế Tôn tự hỏi chính mình “Pháp đã
giác ngộ thật thâm sâu vi diệu, liệu chúng sanh nghe có lãnh
hội được chăng?” Phạm thiên Sahampati đã đến bạch Phật về
khả tính giác ngộ của chúng sanh và thỉnh cầu Đức Phật
chuyển Pháp luân.
Thông điệp
của hy vọng
. Sau lời
thỉnh cầu của phạm thiên Sahampati, Đức Thế Tôn dùng Phật
nhãn quán sát thế gian. Ngài nhận thấy rằng chúng sanh ở đời
giống như hoa sen: có những mầm còn trong bùn, có búp sen đã
mọc lên trong nước, có hoa sen đã vươn khỏi mặt nước, cũng
có hoa đã mãn khai hứng ánh sáng ban mai. Đó là cái nhìn và
thông điệp của hy vọng .
Cánh cửa bất
tử rộng mở cho những ai muốn nghe.
Đó là hứa khả chuyển pháp luân của Đức Phật. Lời tuyên bố
nầy mang hai ý nghĩa trọng đại một là cứu cánh vượt thoát
sanh tử trầm luân; hai là chánh pháp độ người hữu duyên, hữu
chí.
Đi đường dài
chỉ để gieo duyên lành cho một người.
Chư Phật toàn giác đều dùng thần lực siêu nhiên đi đến chỗ
chuyển Pháp luân. Đức Phật Gotama là một ngoại lệ. Ngài khởi
hành đi bộ tới Lộc Uyển từ Bodh Gaya. Trên đường đi Ngài gặp
một du sĩ ngoại đạo tên Upaka. Nhìn thấy hảo tướng phi phàm
của Đức Phật vị du sĩ nầy đã đến hỏi có phải Ngài là một
tiên nhân? Khi nghe Đức Phật nói về chính Ngài là vị đoạn
tận phiền não, hoàn toàn giải thoát thì Upaka chỉ ghi nhận
mà nhất thời không phản ứng gì. Nhưng từ cuộc gặp gỡ sơ khai
nầy đã khiến Upaka tìm đến Đức Phật tại Savatthi sau nầy để
xin xuất gia và chứng đạo quả. Câu trả lời của Đức Phật cho
Upaka thường được trích thuật rất nhiều trong các sách vỡ
nhưng không xem là bài pháp đầu tiên.
Gặp lại năm
đạo sĩ Kondañña với câu nói làm thay đổi thái độ. Từ Bodh Gaya, Đức Phật quyết định khai thị nhóm năm đaọ sĩ
đã từng theo Ngài. Biết các vị đang ở Lộc Uyển gần Baranasi,
Đức Phật đã đến đó và Ngài đã nói với họ về sự thành đạo của
mình nhưng họ không tin. Cuối cùng Đức Thế Tôn hỏi: Trước
đây có bao giờ các thầy nghe Như Lai nói như vậy chăng?. Câu
hỏi đầy sức thuyết phục khiến học chịu ngồi xuống lắng nghe
giáo pháp.
Hình 25
Bài Pháp Đầu Tiên
Con đường
trung đạo nhấn mạnh đến sự vừa phải không thái quá. Trong bài pháp đầu tiên Đức Thế Tôn dẫn nhập với sự nhấn mạnh
đời sống tu tập cần tránh xa hai cực đoan là lợi dưỡng và
khổ hạnh. Cả hai đều được thế gian ưa chuộng nhưng là cực
đoan không dẫn đển tuệ giác.
Bốn sự thật
vi diệu, hay tứ diệu đế, là nền tảng của giáo pháp mà người
tu tập cần hiểu biết tường tận.
Đó là sự thật về khổ, về nhân sanh khổ, về sự diệt khổ và
con đường dẫn đế sự diệt khổ. Khổ để là bản chất bất toàn
của cuộc sống như sanh, già, bệnh, chết.. vốn là những hệ
luỵ mà chúng sanh trong đời không ai tránh khỏi. Tập đế là
nguyên nhân của đau khổ chính là bản năng khao khát không
bao giờ thoả mãn bên trong mỗi chúng sanh và do khát ái nầy
là động lực đưa đẩy tạo nên bao hệ luỵ. Diệt đế sự dập tắt
hoàn toàn khát ái hay niết bàn là cứu cánh thoát khổ. Đạo đế
là con đường dẫn đến thoát khổ gồm tám chi phần: chánh kiến,
chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Sự lãnh hội
và ứng dụng tứ đế được đề cập qua ba luân mười hai chuyển. Ba luân là pháp học, pháp hành và pháp thành. Ba luân áp dụng
cho bốn đế thành mười hai chuyển: Đây là khổ đế; khổ đế cần
được hiểu biết; khổ đế đã được hiểu biết; đây là tập đế; tập
đế cần được đoạn diệt; tập đế đã được đoạn diệt; đây là diệt
đế; diệt đế cần được chứng ngộ; diệt đế đã được chứng ngộ;
đây là đạo đế; đạo đế cần được tu tập, diệt đế đã được tu
tập.
Đức Phật
không là Phật nếu Ngài không quán triệt tứ đế. Bốn sự thật vi diệu không phải là giáo thuyết của suy diễn mà là những gì
được thực sự thấy biết, áp dụng và thực chứng trong cuộc
sống của chính Ngài. Tất cả được kết tinh với giác ngộ và
giải thoát hoàn toàn. Đức Thế Tôn khẳng định điều đó với thế
giới nhân thiên và tuyên bố về sự chứng đắc vô thượng quả vị
toàn giác.
Hình 26
Ba Ngôi Báu
Ở cuối bài
pháp đầu tiên Đức Thế Tôn tuyên bố Kondañña đã chứng ngộ.
Đây là sự xác nhận bằng sự biết rõ của Phật trí đối với vị đệ
tử giác ngộ đầu tiên trong giáo pháp. Từ đó vị tôn giả nầy
được biết với tên gọi Aññakondañña (A nhã kiều trần như) có
nghĩa là Kiều Trần Như Người Tỏ Ngộ.
Ngay sau đó
Đức Phật chính thức cho nhóm năm thầy Kondañña thọ đại giới
chính thức là những tý kheo đệ tử Phật như vậy là sự ra đời
tròn đủ của Tam Bảo (Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo) tại Lộc
Uyển, Isipatana. Sau đó không lâu bà Sujatā và chồng trên đường đi tìm người con trai tên
Yasa đã gặp Đức Phật, cũng
tại Lộc Uyển. Họ trở thành hai đệ tử cư sĩ đầu tiên
trong giáo pháp và cả hai đều chứng quả tu đà huờn.
Tại Lộc
Uyển, Isipatana, Đức Phật an cư mùa hạ đầu tiên. Kinh Chuyển Pháp Luân được thuyết và ngày rằm tháng Āsāḷha tương đương
với ngày trăng tròn tháng sáu âm lịch theo lịch Việt Nam. Và
Đức Thế Tôn cùng chư đệ tử lưu lại đây ba tháng.
Hình 27
Lời kêu gọi hoằng hoá giáo pháp
Trong ba
tháng an cư, Đức Phật đã khai thị tổng cộng sáu mươi đệ tử
xuất gia.
Con số nầy
gồm 5 tỳ kheo nhóm Kondañña, tỳ kheo Yasa và 54 người bạn
thân. Tất cả đều là những cá nhân ưu tú, trí thức, xuất thân
cao quý. Cả 60 vị đệ tử đầu tiên nầy đều chứng quả vị ứng
cúng A la hán.
Cuối mùa mưa
năm đó Đức Phật đã đưa ra lời kêu gọi:
"Này hỡi các Tỳ Khưu, Như Lai đã thoát ra khỏi mọi
trói buộc, dầu ở cảnh người hay các cảnh Trời.
"Các con
cũng vậy, này hỡi các Tỳ Khưu, các con cũng đã thoát ra khỏi
mọi trói buộc, dầu ở cảnh người hay các cảnh Trời.
"Hãy ra đi,
các Tỳ Khưu, đem sự tốt đẹp lại cho nhiều người, đem hạnh
phúc đến nhiều người. vì lòng từ bi, hãy đem sự tốt đẹp, lợi
ích và hạnh phúc lại cho chư Thiên và nhân loại . Mỗi người
hãy đi một ngã. Này hỡi các Tỳ Khưu, hãy hoằng dương Giáo
Pháp, toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở
đoạn cuối cùng, toàn hảo trong cả hai, tinh thần và văn tự.
Hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng, toàn thiện và
thanh tịnh.
Có những
chúng sanh còn vướng ít nhiều cát bụi trong mắt và nếu không
nghe được Giáo Pháp sẽ sa đọa. Cũng có những người sẽ am
hiểu Giáo Pháp.
Chính Như
Lai cũng đi. Như Lai sẽ đi về hướng Uruvela ở Senanigama để
hoằng dương Giáo Pháp.
Hãy phất lên
ngọn cờ của bậc thiện trí. Hãy truyền dạy Giáo Pháp cao
siêu. Hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác. Được vậy, là
các con đã hoàn tất nhiệm vụ". (Trích Đức Phật và Phật Pháp
- bản dịch của Phạm Kim Khánh)
Đó là thông
điệp kêu gọi xiển dương giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Hình 28
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |