|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 03 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VIII. TƯƠNG ƯNG TRƯỞNG LÃO VAṄGĪSA (S. i, 196).
Bài
12. Kinh Vaṅgīsa (Vaṅgīsasuttaṃ)
-CHỨNG ĐẠO CA.
Đối với thi nhân, cả trần gian là cõi thơ. Hồn thơ mang cả
hai trực giác và ảo giác. Khi nhà thơ thắp sáng tuệ giác
thấy tự thể là uẩn, xứ, giới, đế thì ảo giác không còn. Thế
giới bây giờ là chỉ
là hiện tượng sanh diệt và thi từ còn lại là phiên
khúc chứng đạo ca.
Ekaṃ samayaṃ āyasmā vaṅgīso sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā vaṅgīso aciraarahattappatto
hutvā [hoti (sī. syā. kaṃ.)] vimuttisukhaṃ paṭisaṃvedī
[vimuttisukhapaṭisaṃvedī (sī. pī.)] tāyaṃ velāyaṃ imā
gāthāyo abhāsi –
Một thuở Tôn giả Vaṅgīsa trú ở Kỳ Viên, ngôi già lam do ông
Anāthapiṇḍika (dâng cúng) tại Sāvatthi. Bấy giờ tôn giả vừa
chứng quả A la hán, đang trãi nghiệm an lạc giải thoát;
trong lúc ấy đã nói
lên những kệ ngôn này:
‘‘Kāveyyamattā vicarimha pubbe, gāmā gāmaṃ purā puraṃ;
‘‘So me dhammamadesesi, khandhāyatanadhātuyo;
‘‘Bahunnaṃ vata atthāya, bodhiṃ ajjhagamā muni;
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike;
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhuṃ visodhitaṃ;
Mê thi phú, nhàn du
Ngài dạy con chánh pháp
Bậc Mâu Ni thành đạo
Thật tốt lành cho con
Con tỏ tường đời trước
Kāveyyamattā vicarimha pubbe = thuở trước nhàn du mê thi phú
So me dhammamadesesi = Ngài dạy con chánh pháp
Bahunnaṃ vata atthāya = Quả thật vì lợi lạc cho muôn loài
mama buddhassa santike = được chứng ngộ trong hiện tiền của Phật
dibbacakkhuṃ visodhitaṃ = chứng thiên nhãn thanh tịnh
Câu bhikkhūnaṃ bhikkhunīnañca ye niyāmagataddasā
(cho những tỳ khưu,
tỳ khưu ni thấy được con đường chắc thật) được nêu rõ hơn
trong Trưởng Lão Tăng Kệ là “cho những người nam nữ hữu
duyên thực hành lời Phật dạy” có nghĩa là bao gồm cả tứ
chúng chứ không phải riêng hai giới xuất gia. Theo Sớ giải
của một số bài kinh thì có những đoạn kinh chữ bhikkhu không
hẳn là tỳ khưu (nam tu sĩ) mà chỉ cho hành giả, người tu tập
dùng xuất gia hay cư sĩ như trong Kinh Niệm Xứ.
Bài chứng đạo ca nầy tự nhiên sáng tác theo văn tự thuật.
Trong đó nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít (trong
Pāli là ngôi thứ ba) có thể dịch theo cả hai là “tôi” hay là
“con”. Dù cả hay đều dùng đươc nhưng văn khí rất khác biệt
theo tiếng Việt. Bản dịch chọn chữ “con” trong bốn kệ ngôn
đầu và chữ “tôi” trong kệ ngôn cuối. Điều nầy tạo nên hai âm
hưởng: nói với Phật và nói với thế hệ mai hậu. Đây là tư ý
của người dịch, hoàn toàn không có trong nguyên tác vốn hiểu
sao cũng được.
Kệ ngôn cuối cùng nêu lên một số năng lực siêu nhiên thắng
trí. Theo Sớ giải thì Tôn giả Vaṅgīsa có đủ lục thông. Đoạn
thơ nầy cần hiểu theo văn biền ngẫu: biết đời trước do túc
mạng thông, biết đời nầy với thiên nhãn thông; biết rõ mình
với tam minh, biết rõ người với tha tâm thông. Nói cách khác
là không còn nhìn đời với tâm lãng mạn của một thi nhân mà
thật sự biết rõ quá khứ, hiện tại, nội giới, ngoại giới bằng
thắng trí. Nếu dịch sát văn sẽ khiến mạch văn rời rạc.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |