|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 06 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 197).
Bài
1. Kinh Sống Viễn Ly (Vivekasuttaṃ)
-THÂN VIỄN LY MÀ TÂM CHƯA VIỄN LY.
Sống một mình trong rừng là một trong những phương cách hữu
hiệu giúp người tu hướng nội với chánh niệm tỉnh giác. Thế
nhưng do bản năng tự nhiên trong sự cô tịch thường khởi sanh
dục vọng. Như cánh chim muốn bay cao, bay xa thì phải rũ
sạch bụi đất vương mang ở đôi cánh, hành giả muốn tâm tăng
thượng cần có thái độ rũ bỏ dứt khoát. Vị tỳ khưu trong bài
kinh là một người may mắn được nhắc nhở đúng thời điểm cần
cảnh tỉnh.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ aññataro bhikkhu kosalesu
viharati aññatarasmiṃ vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena so
bhikkhu divāvihāragato pāpake akusale vitakke vitakketi
gehanissite.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở có vị tỳ khưu trú tại một khu rừng
trong xứ Kosala, . Bấy giờ vị tỳ khưu ấy trong lúc đi
nghỉ trưa khởi lên những tư tưởng ác quấy, bất thiện, liên
hệ đến thế tục.
Atha kho yā tasmiṃ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa
bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṃ bhikkhuṃ saṃvejetukāmā
yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ
gāthāhi ajjhabhāsi –
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng thương xót vị tỳ khưu muốn
vị ấy được lợi lạc, được cảnh tỉnh liền đi đến tỳ khưu ấy
nói lên kệ ngôn
‘‘Vivekakāmosi vanaṃ paviṭṭho,
‘‘Aratiṃ pajahāsi sato,
‘‘Sakuṇo yathā paṃsukunthito,
Vào rừng muốn độc cư
Chánh niệm, không bất mãn
Như chim dính bùn đất
Atha kho so bhikkhu tāya devatāya saṃvejito saṃvegamāpādīti.
Tỳ khưu ấy bừng tỉnh khi được vị thiên nhắc nhở.
Atha te mano niccharatī bahiddhā = nhưng tâm lại hướng ngoại Jano janasmiṃ vinayassu chandaṃ = bỏ sự ham muốn người với người Tato sukhī hohisi vītarāgo = người ly dục ắt được an lạc ‘‘Aratiṃ pajahāsi sato = Chánh niệm, không bất mãn bhavāsi sataṃ taṃ sārayāmase = hãy cho nhắc nhở về (con đường) tốt đẹp Pātālarajo hi duttaro = Vực thẳm ôi khó vượt mā taṃ kāmarajo avāhari = Chớ để dục nhận chìm ‘‘Sakuṇo yathā paṃsukunthito = Như chim dính bùn đất vidhunaṃ pātayati sitaṃ rajaṃ = rung lắc để không còn vương mang Evaṃ bhikkhu padhānavā satimā = Tỳ khưu siêng tu niệm vidhunaṃ pātayati sitaṃ raja’’nti = rũ sạch những bụi trần
Bài kinh nầy mang cách hành văn rất cổ kính mà trong đó có
nhiều động từ bất quy tắc. Bởi kệ ngôn là lời nhắc nhở trực
tiếp với đương sự nên có nhiều động từ ngôi thứ hai mà bản
dịch lược bớt vì trong cách ngôn ngữ tiếng Việt có thể được
ngầm hiểu.
Câu Jano janasmiṃ vinayassu chandaṃ = bỏ sự ham muốn người
với người - được hiểu chỉ cho từ bỏ ham muốn nhục dục y cứ
theo bản Sớ Giải ( tvaṃ jano aññasmiṃ jane chandarāgaṃ
vinayassu)
Câu
Aratiṃ pajahāsi sato bhavāsi sataṃ taṃ sārayāmase = Chánh
niệm, không bất mãn.
Hãy
cho nhắc nhở về (con đường) tốt đẹp”
nầy được giảng phân
hai theo Sớ giải: một là “hãy để chúng tôi nhắc ngài - người
tu tập chánh niệm – là bậc trí tiêu trừ dục vọng bất cứ khi
nào chúng sanh khởi”. Hai là
“hãy để chúng tôi nhắc ngài Pháp cho người thiện
(satimantaṃ paṇḍitaṃ taṃ mayam pi [yathāuppannaṃ vitakkaṃ
vinodanāya] sārayāma, sata vā dhammaṃ [sappurisānaṃ
ilesavigamanadhammaṃ] mayaṃ tamsārayāma). Bản dịch nầy lấy
theo ý của ngài Bodhi với ý nghĩa gọn hơn theo mạch văn.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |