|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 07 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 197).
Bài
2. Kinh Thức Dậy (Upaṭṭhānasuttaṃ)
-GIẤC NGỦ VÀ PHIỀN NÃO.
Khi nói về phiền não, pháp bất thiện ít có người nghĩ tới
giấc ngủ. Ngủ nghỉ là điều tự nhiên của thân thể tuy vậy có
sự khác biệt giữa cách ngủ của bậc giải thoát phiền não và
người ham ăn mê ngủ. Bậc không phiền não luôn ngủ với chánh
niệm và lập tâm về thời điểm thức dậy. Dĩ nhiên các bậc giải
thoát không xem sự ngủ là một lạc thú nên không có chuyện mê
ngủ. Cái ngài cũng không đi vào giấc ngủ với sự uể
oải dã dượi. Hôn trầm, thuỵ miên thường được xem là
“không gây hại cho ai” nhưng là một ngăn ngại lớn cho sự tu
tập nội tại.
Ekaṃ samayaṃ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena so bhikkhu divāvihāragato
supati. Atha kho yā tasmiṃ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa
bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṃ bhikkhuṃ saṃvejetukāmā
yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ
gāthāhi ajjhabhāsi –
Một thuở có vị tỳ khưu trú tại một khu rừng
trong xứ Kosala. Bấy giờ vị tỳ khưu ấy đang
nghỉ trưa.
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng thương xót vị tỳ khưu muốn
vị ấy được lợi lạc, được cảnh tỉnh liền đi đến tỳ khưu ấy
nói lên kệ ngôn: Āturassa hi kā niddā, sallaviddhassa ruppato. ‘‘Yāya saddhāya pabbajito, agārasmānagāriyaṃ; Tameva saddhaṃ brūhehi, mā niddāya vasaṃ gamī’’ti.
Hỡi tỳ khưu hãy thức dậy.
Trưởng dưỡng niềm tịnh tín
(Vị
tỳ khưu)
‘‘Aniccā addhuvā kāmā, yesu mandova mucchito;
‘‘Chetvā avijjaṃ vijjāya, āsavānaṃ parikkhayā;
Các dục vốn vô thường,
Khí dục, ái không còn
Với tuệ, phá vô minh
Tinh cần và nhiệt tâm
ko attho supitena te = cứ ngủ để làm gì? Āturassa hi kā niddā = Dật dờ như bệnh nhân sallaviddhassa ruppato = bị thương với mũi tên ‘‘Yāya saddhāya pabbajito agārasmānagāriyaṃ Tameva saddhaṃ brūhehi = Hãy làm lớn mạnh niềm tin sơ phát tâm xuất gia sống không nhà mā niddāya vasaṃ gamī’’ti = Đừng để sự mê ngủ chi phối ‘‘Aniccā addhuvā kāmā = Các dục lạc là vô thường, bất ổn yesu mandova mucchito = dù kẻ ngu mê đắm chúng Baddhesu muttaṃ asitaṃ = Bậc giải thoát dứt mọi trói buộc kasmā pabbajitaṃ tape = sao lại làm phiền bậc ly trần? ‘‘Chandarāgassa vinayā =khi đã đoạn tận dục tham avijjāsamatikkamā = làm vô minh tan biến Taṃ ñāṇaṃ paramodānaṃ = trí tuệ được thanh tịnh hoá ‘‘Chetvā avijjaṃ vijjāya = đoạn vô minh với tuệ giác āsavānaṃ parikkhayā = phá huỷ những lậu hoặc Asokaṃ anupāyāsaṃ = Không ưu phiền sầu não ‘‘Āraddhavīriyaṃ pahitattaṃ = tinh cần và nhiệt tâm niccaṃ daḷhaparakkamaṃ = luôn với nghị lực dõng mãnh Nibbānaṃ abhikaṅkhantaṃ = tâm hướng cầu niết bàn
Theo Sớ Giải thì vị tỳ khưu là bậc a la hán nhưng vị thiên
không nhận ra. Vị tỳ khưu nầy sau khi đi khất thực về vì
đường xa nên thân thể mệt mỏi nằm nghỉ dưỡng nhưng không ngủ
dù chánh văn ghi là ngủ (supati)
Mạch văn của các kệ ngôn có chỗ tối nghĩa. Điều nầy khíến
chư vị a xà lê làm sớ giải phân hai: Câu “kasmā pabbajitaṃ
tape?” có thể hiểu
là “sự ngủ nghỉ sao có thề làm phiền bậc la hán?” mà cũng có
thể hiểu là “sao vị thiên có thể làm phiền bậc la hán?”
Theo
Sớ giải thì “taṃ
ñāṇaṃ
- tuệ tri
ấy” chỉ cho sự thấu triệt tứ thánh đế.
Theo Ngài Bodhi thì trong bốn bài kệ được nói lên bởi vị tỳ
khưu thì dường như ba bài kệ đầu nói về bậc a la hán vô học
trong lúc bài kệ thứ tư nói về bậc thánh hữu học. (trong
kinh điển thuật ngữ “vô học” là đã hoàn tất sự tu tập, “hữu
học” là còn đang hoàn thiện sự tu tập)
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |