|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 10 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 197).
Bài
3. Kinh Kassapagotta (Kassapagottasuttaṃ)
-KHI NGƯỜI TỐT KHUYÊN ĐỪNG LÀM ĐIỀU TỐT.
Người tu hành giảng pháp là chuyện tốt. Nhưng nói pháp không
đúng thời, không đúng đối tượng thì phản tác dụng. Điều nầy
có nghĩa là việc đúng đắn cần được làm đúng cách. Thoạt nghe
như dễ làm nhưng đây là điểm hết sức tế nhị. Rất nhiều người
muốn thuyết phục người khác thay đổi cái nhìn về cuộc sống
với những lý lẽ Phật pháp nhưng thực tế cho thấy sự cố gắng
cần hợp thời, hợp hoàn cảnh, hợp người và hợp duyên.
Ngay cả chư thiên, như trong bài kinh nầy, cũng trắc
ẩn khi thấy một tỳ khưu cố gắng cảm hoá thợ săn trong vô
vọng. Cố làm điều tốt nhưng không kết quả tốt thì không làm
tốt hơn.
Ekaṃ samayaṃ āyasmā kassapagotto kosalesu viharati
aññatarasmiṃ vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena āyasmā
kassapagotto divāvihāragato aññataraṃ chetaṃ ovadati. Atha
kho yā tasmiṃ vanasaṇḍe adhivatthā devatā āyasmantaṃ
kassapagottaṃ saṃvejetukāmā yenāyasmā kassapagotto
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ kassapagottaṃ
gāthāhi ajjhabhāsi –
Một thuở Tôn giả Kassapagotta trú tại một khu rừng
trong xứ Kosala,
Bấy giờ Tôn giả Kassapagotta, sau giờ nghỉ trưa.
khuyên dạy một người thợ săn.
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng trắc ẩn vị tỳ khưu muốn cảnh
tỉnh và mang lại lợi lạc cho vị ấy liền đi đến,
nói lên kệ ngôn: Akāle ovadaṃ bhikkhu, mandova paṭibhāti maṃ. ‘‘Suṇāti na vijānāti, āloketi na passati; Dhammasmiṃ bhaññamānasmiṃ, atthaṃ bālo na bujjhati. ‘‘Sacepi dasa pajjote, dhārayissasi kassapa; Neva dakkhati rūpāni, cakkhu hissa na vijjatī’’ti.
Tỳ khưu thật hoài công
Chỉ nghe nhưng không hiểu
Hỡi ngài Kassapa
Atha kho āyasmā kassapagotto tāya devatāya
saṃvejito saṃvegamāpādīti.
Tôn giả Kassapagotta bừng tỉnh khi được vị thiên nhắc nhở.
appapaññaṃ acetasaṃ = thiểu trí, không nghĩ suy Akāle ovadaṃ bhikkhu = tỳ khưu huấn thị không đúng lúc mandova paṭibhāti maṃ = tôi nhận thấy chỉ hoài công, tôi thấy (tỳ khưu nầy) như người điên rồ ‘‘Suṇāti na vijānāti = nghe nhưng không hiểu āloketi na passati =nhìn nhưng không thấy Dhammasmiṃ bhaññamānasmiṃ = dù chánh pháp được giảng atthaṃ bālo na bujjhati = nhưng kẻ thiểu trí không hiểu được ‘‘Sacepi dasa pajjote dhārayissasi kassapa = hỡi ngài Kassapa, ngay cả ngài có tới mười ngọn đèn Neva dakkhati rūpāni cakkhu hissa na vijjatī’’ti = người ấy cũng không thấy cảnh sắc vì vốn không có mắt mà!
Kassapagotta nên hiểu là “người dòng họ Kassapa” hơn là tên
riêng. Trong Kinh Tạng có nhiều vị tỳ khưu khác nhau với tên
gọi tương tự.
Theo Sớ giải thì người thợ săn là người chuyên săn nai. Bấy
giờ người nầy đang truy bắt một con nai trên triền núi rồi
gặp tỳ khưu Kassapagotta khuyên ngăn với những lời giảng
pháp. Tuy ngồi nghe với sự chú mục nhưng tâm thợ săn luôn
nghĩ hướng đi của con nai và cách nào để săn bắt.
Hai câu Akāle ovadaṃ bhikkhu mandova
paṭibhāti maṃ dịch sát nghĩa là “tôi thấy thầty tỳ khưu thật
điên rồ vì huấn thị không đúng lúc”. Chữ mandova cũng có
nghĩa là “làm chuyện không ra đâu” nên bản dịch chữ “chỉ
hoài công” cho văn khí nhẹ bớt.
Theo Sớ giải một bài kinh khác cũng trong phẩm nầy
(S.i.198f; SA.i.22)3thì sau khi được vị thiên nhắc nhở, tỳ
khưu Kassapagotta hướng tâm khai triển thiền quán và chứng
quả A la hán.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |