|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 12 tháng 09, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 32. DUYÊN SINH-Thức Duyên Danh Sắc (Viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ)
Tổng quan
Duyên sinh là một trong phần quan trọng của Phật Pháp.
Đây cũng là một trong những điểm khó hiểu vì những liên
hệ chằng chịt. Rất nhiều đoạn kinh nói về duyên sinh
nhưng người mới đọc thoáng qua không nhận ra. Một người
có niềm tin chân chánh ở Tam Bảo phải có hiểu biết tương
đối về duyên sinh. Một vị Phật trong đêm thành đạo cũng
thắp sáng tuệ giác quán chiếu duyên sinh.
Duyên sinh, hay duyên khởi, là giáo nghĩa về nguyên
nhân, động thái, và tác động của vạn hữu. Hầu hết tôn
giáo đưa ra lập thuyết Sáng Tạo Chủ để nói về một đấng
quyền năng tối cao tạo ra tất cả hiện hữu. Tin vào một
tạo hoá duy nhất tạo ra tất cả thuộc về bản năng, hiểu
những tương quan phức tạp của đời sống đòi hỏi lý trí
nhận thức.
Giáo lý duyên sinh không phải chỉ nói về nguồn gốc tập
khởi mà còn nói về những dịch chuyển, tương tác trong
hiện tại, và tác động tạo nên hệ quả ở tương lai. Nói
cách khác trong duyên sinh không có sự an bài, định mệnh
mà là một dòng hiện hữu sinh động ở bất cứ thời điểm
nào. Phật Pháp không dạy rằng đời sống hiện tại là một
thành phẩm của quá khứ mà mọi thứ đã được lập trình sẳn
với tên gọi tiền định.
Giáo lý duyên sinh nêu rõ cái gì có thể và không có thể
trong nỗ lực chuyển hoá cuộc sống. Không có một nhân tố
quyết định tất cả, ngược lại, sự tồn tại của mỗi cá thể
không thể bị huỷ diệt bởi mãnh lực ngoại tại nào. Người
học Phật cần đặc biệt lưu ý trong giáo lý duyên khởi
chứa đựng những trọng điểm mà người tu tập có thể chuyển
hoá thân tâm.
Với định lý “do có cái nầy nên có cái kia”, sự hiểu biết
về duyên sinh tạo nên cái nhìn rất khác biệt với phản
ứng vui buồn chỉ y cứ trên một điểm. Thí dụ có một chiếc
xe mới không phải chỉ có hưởng thụ chuyện có xe mà còn
phải chấp nhận những phiền luỵ khi có một chiếc xe.
Một đặc điểm của duyên sinh là trình bày rõ giáo lý vô
ngã. Câu Phật ngôn quán chiếu “cái nầy không phải là ta,
không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta” chỉ
thật sự tỏ rõ khi hiểu theo định luật duyên khởi. Trên
cả hai phương diện pháp học và pháp hành thì điểm nầy
đều quan trọng.
Thập nhị nhân duyên hay mười hai duyên khởi là nội dung
chính của duyên sinh.
Một đặc điểm khi tìm hiểu về giáo lý duyên khởi là không
nên “đóng khung” những khái niệm. Thập nhị nhân duyên có
thể hiểu theo nhiều chiều kích và phạm trù khác nhau. Do
điểm nầy nên chú ý về cách trình bày.
Một cách ngắn gọn thì duyên khởi có nghĩa là “cái nầy có
thì cái kia có” như trường hợp trong cõi dục giới thì có
năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc; có năm dục trưởng
dưỡng thì có năm pháp cái là tham dục, sân độc, hôn
thuỵ, trạo hối, nghi hoặc; có năm pháp cái thì tâm không
an định nếu không tu tập chỉ tịnh. Đây là một thí dụ về
sự liên đới nếu nhìn theo thập nhị nhân duyên vẫn có thể
được nhưng là những “mảng rời rạc”.
Thập nhị nhân duyên có thể hiều theo cách đại loại
(marco) là sự hiện hữu rõ nét có thể nhận diện ngay
trong cuộc sống hằng ngày thí dụ thấy ai có món gì rất
đẹp nên sanh tâm thích thú rồi cố gắng tìm cách để có
được được. Quá trình đó có thể nhận diện từ xúc duyên
thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ và thủ duyên hữu.
Thập nhị nhân duyên cũng có thể hiểu theo cách vĩ mô
(micro), một cách tinh xác nhất nếu y cứ theo Thắng Pháp
Abhidhamma. Ở đây thập nhị nhân duyên có thể nói về sự
tương tác giữa các sát na trong một diễn trình tâm thức.
Điều nầy tương tự như chúng ta nói trái chuối là loại
trái cây có nhiều dinh dưỡng như cách nói chung chung
(marcro) nhưng chỉ có sự phân định chuẩn xác thì mới
hiểu tại sao chuối có nhiều potassium rất cần cho sức
khoẻ mà rất hại cho người bị bệnh đường huyết.
Thập nhị nhân duyên cũng có thể hiểu theo “tam sinh”:
đời trước, đời nầy, và đời sau trong tiến trình sanh tử.
Theo cách nầy
thì vô minh, hành thuộc kiếp trước. Thức, danh sắc, lục
nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu thuộc đời nầy. Sanh, lão tử
thuộc đời sau. Đây là cách trình bày rộng rãi nhất về
tiến trình luân hồi cho chúng ta có cái nhìn đại quan về
sự hiện hữu của chúng sanh.
Với những điểm trên thì cách trình bày nào cũng có vẻ
như phiến diện. Giống như mô tả về một toà lâu đài theo
du khách, theo người cư trú, theo kiến trúc sư đều đúng
nhưng không giống nhau. Phải rất cởi mở và hiểu đang nói
ở phạm trù nào mới không có sự phản bác đối với những dị
biệt.
Những trình bày về mười hai nhân duyên trong bài nầy cố
gắng bắt đầu từ định nghĩa của mỗi duyên sanh, sự liên
đới giữa mấu chốt nầy sang mấu chốt khác và nói theo
cách gần gũi dễ hiểu nhất. Nếu cần đi xa hơn, như giảng
theo Thắng Pháp, thì xem như là phần phụ chú.
Nên nhớ đây là đề tài rất tế nhị và khó trình bày
trong Phật học. Bài học ngày 29 tháng 8, 2022: Vô Minh Duyên Hành (avijjā paccayā sankhārā)
Vô minh - avijjā - được định nghĩa là không rõ biết.
Sự không rõ biết được đề cập với nhiều phương diện mà
hai điểm chính là không phân biệt được khổ đau, hạnh
phúc; và không rõ nơi xuất phát và điểm đến. Sự không rõ
biết là bản chất mà từ đó tạo nên những hiện tượng tưởng
là không liên hệ. Phải thấy được vô minh không đơn giản
chỉ là sự không sáng suốt mà còn là một động lực mãnh
liệt chi phối tất cả sở hành.
Khi nói vô minh là không phân biệt được khổ đau và hạnh
phúc thì theo ngôn ngữ Phật học là sự không nhận rõ cái
gì sự khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ và con đường đưa
đến diệt khổ.
Thí dụ như một người mới khởi nghiệp với quan niệm rằng
mình khổ vì không có tiền và giải pháp là vay tiền mượn
nợ để trang trãi những chi tiêu. Cái nhìn đó không giúp
giải quyết được
vấn đề mà tạo nên nhiều hệ luỵ khác. Không biết
rõ vấn đề là gì thì không thể đưa ra giải pháp.
Khi nói vô minh là không rõ nơi xuất phát và điểm đến có
nghĩa là không biết rõ quá khứ, tương lai và tương quan
quá khứ với tương lai (Pubbanta, aparanta,
pubbantāparanta).
Do sự tự nhiên không biết từ đâu đến và sẽ đi về đâu
cũng như sự liên hệ chằng chịt giữa điểm nầy và mấu chốt
kia nên gây ra vô số quyết định sai lầm. Có thể thí dụ
như một người làm một hành trình mà điểm xuất phát và
điểm đến đều không biết thì đúng là “lênh đênh giữa
trùng khơi”
Nói đến vô minh thì bản chất là không thật sự thấy biết
mà hiện tượng là thái độ sầu, bi, khổ, ưu, ai.
Thí dụ như chúng ta rất khổ khi một người thân vĩnh viễn
ra đi. Nếu thật sự hiểu về sự vô thường thì sẽ không có
bi luỵ như vậy. Sự mong mõi hay bám víu khác với thực
tướng các pháp khiến chúng ta khổ.
Sự không rõ biết của vô minh không đơn thuần là “không
biết thì nằm đắp chiếu” mà là một động lực mãnh liệt
đằng sau tất cả sở hành.
Có thể thí dụ như một người năng động khi không có một
nhận thức cái gì nên làm do vậy lăng xăng làm cái nầy
cái kia. Thoạt nhìn có vẻ như tích cực cho cuộc sống kỳ
thật chỉ là biểu hiện của sự không biết rõ cái gì nên
làm.
Hành – sankhārā - được định nghĩa là sự tạo tác trong
mọi hình thái.
Những
tạo tác sai lầm, muốn vui mà chuốc khổ, gọi là phi phúc
hành (apuññābhisaṅkhāra), . Những tạo tác tương đối
chính xác hơn, muốn vui mà biết đúng cách tạo niềm vui,
gọi là phúc hành (puññābhisaṅkhāra), . Những tạo tác
vượt lên trên những hạn cuộc vui khổ thông thường (…)
gọi là bất động hành (āneñjābhisaṅkhāra).. Dù ở phạm trù
nào trong ba điều vừa kể đều bị chi phối bởi vô minh.
Cũng có thể hiểu theo cách thông thường hành chỉ cho tất
cả tạo tác của thân, ngữ, ý trong đời sống hằng ngày.
Vô Minh Duyên Hành (avijjā paccayā sankhārā) được hiểu
theo nhiều phạm trù nhưng một cái đại lược nghĩa là
chính do sự mù mở là động lực khiến tạo nên tất cả sở
hành trong cuộc sống.
Động thái nầy có thể hiểu như câu “điếc hay ngóng, ngọng
hay nói”. Sự thiếu hiểu biết về những bí ẩn của cuộc
sống khiến chúng sanh hành động và từ đó tạo nên vô số
hệ quả. Có thể nêu là một số trường hợp: niềm tin là
thiên đàng là nơi hạnh phúc nhất, niềm tin là giết những
chúng sanh mang lại hạnh phúc; niềm tin là tự tử là chấm
dứt tất cả khổ đau; niềm tin là sanh về cảnh giới nào đó
sẽ vui hưởng vĩnh hằng; niềm tin là tế tự dẫn đến cảnh
giới an lạc; niềm tin là sự giải thoát đích thực đến từ
khổ hạnh ép xác; niềm tin là chết là hết; niềm tin là
bây giờ mình thế nào kiếp sau cũng linh hồn như vậy… tất
cả niềm tin nầy tạo nên nếp sống và sở hành. Đó là tại
sao chính vô minh duyên cho hành.
Bài học ngày 05 tháng 09, 2022: Hành Duyên Thức (saṇkhārapaccayā viññāṇaṃ)
Đây là một trong những mấu chốt có nhiều cách giải thích
khác biệt trong duyên sinh. Mặc dù trên căn bản có sự
đồng thuận là trọn đề tài duyên khởi phải được hiểu theo
nhiều phạm trù: tam sinh hoặc ngay trong hiện kiếp; quy
mô hoặc vĩ mô; Kinh tạng hay Thắng Pháp Tạng tuy nhiên
có những tranh luận và giải thích khác biệt giữa các học
giả nổi tiếng. Đơn cử là ngài Buddhaghosa trong Thanh
Tịnh Đạo thì nghiêng về cái giải thích theo “ba đời”
trong lúc ngài Buddhadasa thì nhấn mạnh cách hiểu duyên
khởi trong kiếp hiện tại. Ngài Payutto thì dung hợp. Sự
trình bày ở đây không mang tánh biên khảo mà là cố gắng
để trình bày theo cách dễ hiểu.
Trước hết “hành (saṇkhāra)” phải được hiểu theo cả hai
phương diện hiện tượng và bản chất.
Trên phương diện hiện tượng là hành vi tạo tác của thân,
ngữ, ý. Trên phương diện bản chất thì hành
là chủ tâm tạo tác
(cetanā). Có
thể nói hành ở đây đồng nghĩa với nghiệp (kamma). Tuy
nhiên nếu xem hành hoàn toàn đồng nghĩa với nghiệp thì
chỉ hiểu “hành duyên thức” theo một phương diện. Đây là
điều phải hết cẩn thận.
Trong cách hiểu “hành duyên
thức” nghĩa là hành động tạo tâm quả dị thục
(vipāka) nghĩa là chính những tạo tác kết thành thức tái
sanh (paṭisandhi viññāṇa).
Đây là mối nối giữa hai đời. Nói chi tiết hơn theo Thắng
Pháp Abhidhamma thì 12 tâm bất thiện và 17 tâm thiện tạo
nên 19 tâm quả làm việc tục sinh. Nhưng Thắng Pháp cũng
giải thích là thức trong duyên khởi bao gồm cả 32 tâm
quả (…). Đi xa hơn có thể nói tiềm thức (bhavaṅga) đóng
vai trò chi phối quan trọng trong cuộc sống. Tiềm thức
được xác lập bởi thức tái sanh. Thức tái sanh là kết quả
của nghiệp thiện và bất thiện của những kiếp quá khứ.
Trong cách hiểu khác, “hành duyên thức” nghĩa là chủ tâm
hành động tạo nên nhận thức chủ quan trong cuộc sống.
Ngài Payutto đưa ra thí dụ: cũng là miếng đất trống
nhưng có sự khác biệt trong cái nhìn của trẻ em thích
chơi đùa, nhà đầu tư tìm cơ hội ra vốn, nhà nông thường
nghĩ tới loại đất nào thích hợp cho hoa mầu, nhà xây
dựng nghĩ tới việc quy hoạch xây cất.
Nói theo thuật
ngữ Phật học thì nếu giải thích theo phương diện nầy thì
hành uẩn có ảnh hưởng lớn đối với thọ uẩn, tưởng uẩn và
thức uẩn. Sự liên đới nầy không nhất thiết là tác nhân
và quả dị thục. Cũng nên nói thêm là Thắng Pháp
Abhidhamma nói về sự tương quan nầy qua duyên hệ
(paccaya) chứ không nêu rõ trong bảng liệt kê về pháp là
quả, pháp là nhân, pháp không là nhân mà cũng chẳng là
quả. Nên hiểu cái nhìn chủ quan có mặt trong cả tâm
thiện, tâm bất thiện và tâm quả. Những giác quan như thị
giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác không đơn
thuần là sự nhận biết cảnh tốt hay cảnh xấu mà con mang
đặc tính chủ quan do nghiệp tạo (…)
Hai cách giải thích trên tạo nên hai ngã rẽ trong cách
giải thích thập nhị nhân duyên.
Một là giải mười hai nhân duyên theo “ba sinh” là đời
trước, đời nầy và đời sau. Hai là toàn bộ mười hai nhân
duyên được giải thích trong kiếp hiện tại, thậm chí
trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Nên nhớ là Đức Phật
giảng pháp theo cả hai cách như Phật ngôn:
Này trưởng thôn,
nếu Ta giảng cho ông về nguồn gốc của khổ và sự diệt khổ
dựa vào sự kiện trong quá khứ, nói rằng: “Trong quá khứ
nó như vậy”, có thể ông sẽ khởi lên hoang mang và nghi
ngờ. Và nếu Ta giảng cho ông về nguồn gốc của khổ và sự
diệt khổ dựa vào sự kiện trong tương lai, nói rằng:
“Trong tương lai nó sẽ như vậy”, có thể ông sẽ khởi lên
hoang mang và nghi ngờ. Này trưởng thôn, thay vào đó,
khi Ta đang ngồi đây, và ông đang ngồi ở đó, Ta sẽ giảng
cho ông nghe về nguồn gốc của khổ và con đường diệt khổ.
Hãy lắng nghe và chú tâm thật kỹ, Ta sẽ nói. (Tương Ưng
BK IV, phần số XI: Bhagandha-Hatthaha, tr. 512-517) (bản
dịch của HT Thích Minh Châu). Nói như vậy không có nghĩa
là Đức Phật chỉ dạy rằng sự tồn tại của chúng sanh chỉ
có một kiếp nầy. Bài học ngày 12.9.2022
Thức duyên danh sắc là phần khó hiểu nhất trong giáo lý
duyên khởi.
(Cũng
có thể nói phần tiếp theo là “danh sắc duyên lục nhập”
cũng có phần khó hiều gần như vậy). Danh sắc trong ý
nghĩa đại lược là tâm pháp và sắc pháp. Nói cách khác là
thân và tâm.
Những ý nghĩa chồng lấn của từ vựng có thể làm
rối trí. Để hiểu phần nầy cần nhìn chi tiết qua cả hai
phương diện đại loại và vĩ mô. Cách giải thích theo
Thắng Pháp Tạng cũng có những chi tiết rất khác biệt với
Kinh Tạng. Bốn trường hợp sau đây là bốn cách hiểu về
thức duyên danh sắc nên tìm hiểu một cách kiên nhẫn và
khách quan.
Ý nghĩa thứ nhất, thức duyên danh sắc có nghĩa là trạng
thái tâm có tác động nhất định đối vối thân tâm.
Điều nầy có nghĩa là tâm tác động tâm mà cũng tác động
thân. Thí dụ một người có tâm hận thù thì chính lòng
hiềm hận chi phối nội tâm và sắc diện cũng như sức khoẻ.
Điều nầy tương tự như cách nói của người đời: “tướng tự
tâm sinh” . Tác động nầy mang tính trực tiếp và luôn xẩy
ra trong đời sống hằng ngày con người. Theo Thắng Pháp
thì sắc trong ý nghĩa nầy thuộc về “sắc tâm”
Ý nghĩa thứ hai, thức duyên danh sắc nghĩa là thức tái
sanh tạo nên chủng loại và do chủng loại tạo nên các căn
(danh sắc duyên lục nhập).
Điều nầy có nghĩa là thức tái sanh có mãnh lực định hình
tâm lý và sinh lý của một chủng loại chúng sanh từ đó
tạo nên những giác quan. Như trường hợp thức tái sanh
của loài chó tạo nên những đặc tính về tâm pháp và sắc
pháp rồi từ đó cấu thành các giác quan như thị giác,
thính giác… khác biệt với những chủng loại khác. Theo
Thắng Pháp thì sắc trong ý nghĩa nầy thuộc về “sắc
nghiệp”.
Ý nghĩa thứ ba, thức duyên danh sắc là một hiện tượng
đồng sanh mà thức uẩn làm chủ vị.
Điều nầy cần hiểu rõ theo Thắng Pháp Abhidhamma. Nói về
sự hiện hữu của chúng sanh thì thức uẩn là chính và ba
uẩn thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn là sự gắn kết bất khả
phân – và sắc pháp hay xác thân cũng liên hệ với thức
uẩn. Từ ý nghĩa nầy những nhà dịch thuật Trung Hoa thời
xưa gọi thức uẩn là “tâm vương”; thọ uẩn, tưởng uẩn,
hành uẩn là “tâm sở”. Thí dụ như khi nói về một vương
triều thì phải nói đến vị vua là chính nhưng không thể
không nói đến triều thần. Có một liên hệ bất khả phân
nhưng giữa các thành tố đồng sanh thì thức uẩn đóng vai
trò chủ yếu. Có thể hiều nôm na như thành ngữ “rau nào
thì sâu nấy”. Theo Thắng Pháp sự liên hệ nầy không còn
là “nghiệp duyên” hay “quả duyên” mà là “đồng sanh
duyên”.
Ý nghĩa thứ tư, thức duyên danh sắc được hiểu một cách
phổ quát là “tâm dẫn đầu các pháp”.
Các pháp ở đây là các hiện tượng tâm lý và vật lý (danh
và sắc). Với cách hiểu nầy thì thức là “niệm thiện” hay
“niệm ác” ở mỗi chúng sanh từ đó tạo nên hành động tốt
xấu dẫn đến vui khổ. Cách hiểu nầy rất giống như hai kệ
ngôn đầu tiên trong kinh Pháp Cú nhưng hầu như không tìm
thấy trong các bản Sớ giải truyền thống và có phần thiếu
tinh xác mặc dù tương đối dễ hiểu.
Mặc dù trong duyên sinh nầy danh sắc có nghĩa là hai
hiện tượng tâm lý và vật lý nhưng mấu chốt nầy không
nhất thiết luôn luôn có cả hai danh và sắc.
Chúng sanh trong cõi vô tưởng chỉ có sắc mà không có
danh. Ngược lại chúng sanh trong cõi vô sắc chỉ có danh
mà không có sắc. Dù là ở những cõi đó chỉ có mộ trong
hai nhưng vẫn được đề cập trong cả hai mấu chốt thức
duyên danh sắc và danh sắc duyên lục nhập (….)
Nên lưu ý khi nói về mười hai nhân duyên không thể giảng
riêng lẻ từng chi phần mà phải giảng theo cách “liền
mạch”. Nói cách khác, tuy rằng có tương tự về ý nghĩa
nhưng phải đơn cử rõ ràng để thấy tại sao pháp nầy tạo
thành do pháp kia và tại sao tạo hệ quả để sanh khởi
pháp kế tiếp. Nếu không như vậy thì sẽ hiểu sai giáo lý
duyên khởi.
Phần
tiếp theo:
Danh sắc duyên lục nhập.
Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |