|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 13 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 199).
Bài
4. Kinh Nhiều Tỳ Khưu (Sambahulasuttaṃ)
-KIẾP SA MÔN THÂN VÔ SỞ TRỤ.
Xuất gia đúng
nghĩa là nếp sống không nhà. Những ràng buộc về tư hữu và
sợi dây liên hệ với người nầy người kia thường là chướng
ngại cho đời sa
môn. Điều nầy tương đối khó thực hiện với bối cảnh xã hội
ngày nay nhưng dù vậy vẫn là cốt lõi của người rời bỏ thế
tục đi tu. Thay vì đặt trọng tâm ở sự “an cư lạc nghiệp” thì
người xuất gia cần tôi luyện bản lãnh sống không vướng mắc,
thích nghi, tự tại và biết tìm nơi thích hợp để huân tập
pháp học và pháp hành. Đức Phật chưa bao giờ khuyến khích
hàng đệ tử xuất gia xây dựng chùa chiền to lớn, mà thay vào
đó, Ngài hướng dẫn đời sống tự tại thênh thang như mây trắng
thong dong.
Ekaṃ samayaṃ sambahulā bhikkhū kosalesu viharanti
aññatarasmiṃ vanasaṇḍe. Atha kho te bhikkhū vassaṃvuṭṭhā
[vassaṃvutthā (sī. syā. kaṃ. pī.)] temāsaccayena cārikaṃ
pakkamiṃsu.
Một thuở có nhiều vị tỳ khưu trú tại một khu rừng
trong xứ Kosala.
Sau khi đã an cư kiết hạ với ba tháng trôi qua, chư vị tỳ
khưu khởi sự
hành hoá.
Atha kho yā tasmiṃ vanasaṇḍe adhivatthā devatā te bhikkhū
apassantī paridevamānā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ gāthaṃ abhāsi –
Bấy giờ một vị Thiên
trú ở khu rừng ấy không thấy
chư tỳ khưu ấy
nên buồn và
than
thở với kệ ngôn:
‘‘Arati viya mejja khāyati, Bahuke disvāna vivitte āsane; Đã đi đâu cả rồi? Đệ tử Đức Cồ Đàm Bậc biện tài đa văn
Evaṃ vutte, aññatarā devatā taṃ devataṃ gāthāya paccabhāsi –
Nghe vậy, một vị Thiên khác nói
lên kệ ngôn với
vị
Thiên ấy:
‘‘Māgadhaṃ gatā kosalaṃ gatā, ekacciyā pana vajjibhūmiyā; Kosala, Vajji Tỳ khưu sống không nhà Như loài nai thong dong
Bahuke disvāna vivitte āsane = thấy nhiều chỗi ngồi bỏ trống Te cittakathā bahussutā = họ là những bậc đa văn, biện tài Kome gotamasāvakā gatā’’ti = Đệ tử Đức Gotama đã đi đâu? ‘‘Māgadhaṃ gatā kosalaṃ gatā = Họ đã đi Magadha, họ đã đi Kosala ekacciyā pana vajjibhūmiyā = Một số trú ở vùng đất Vajji Magā viya asaṅgacārino = Giống như loài nai đến đi không ràng buộc aniketā viharanti bhikkhavo’’ti = chư tỳ khưu trú vô sở trụ, chư tỳ khưu sống kiếp không nhà.
Câu Arati viya mejja khāyati (dường như không thích thú) không
phải nói lên tâm trạng của vị thiên mà là ý nghĩ của vị
thiên về lý do chư tỳ khưu rời khu rừng đi nơi khác. Theo Sớ Giải thì loài nai có đặc tính không vướng mắc bám víu
một khu vực nào dù là nơi cư trú của cha mẹ chúng. Loài nai
thường đi đó đây để tìm nơi thích hợp về thời tiết, thực
phẩm, bầy đàn. Đặc tính nầy dùng là thí dụ cho chư tỳ khưu
đệ tử Phật sống rày đây mai đó với tâm tự tại không bận lòng
với tư hữu, quan hệ mà nơi nào thích hợp để học và hành Phật
pháp thì cư trú. Nếu không thì tiếp tục lên đường.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |