|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 14 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 199).
Bài
5. Kinh Ānanda (Ānandasuttaṃ)
-GIỮA NHỮNG CÁI TỐT NÊN CÓ ƯU TIÊN.
Ở giai đoạn nào
đó của cuộc sống không phải chỉ có phân tốt và xấu mà phải
thấy cái tốt nào là ưu tiên để dốc lòng thực hiện. Câu
chuyện ngắn trong bài kinh nầy nói lên một điểm rất quan
trọng trong sự tu tập phải thấy cái gì là ưu tiên giữa bao
nhiêu việc đáng làm. Tôn giả Ānanda là thị giả của Đức Phật,
bậc Thủ Khố Chánh Pháp, bậc đại trí thế mà có những lúc
không thể toàn tâm cho việc khai triển tuệ quán bởi vì tâm
bi mẫn với hàng cư sĩ đang sầu muộn sau khi Đức Thế Tôn viên
tịch. Những việc Ngài làm đều là việc xứng đáng nhưng bản
thân Ngài có trọng nhiệm cấp thiết hơn là kết tập giáo điển
cho bao thế hệ mai hậu. Không có Ngài thì việc không thể
hoàn thành. Để làm việc đó thì bản thân phải viên thành đạo
quả - một yêu cầu quyết liệt mà Tôn giả huynh trưởng
Mahākassapa đề ra. Không ai có thể làm tất cả những điều tốt
trong cuộc đời nhưng ở mỗi con người – và trong mỗi giai
đoạn - nhận ra cái gì là ưu tiên số một luôn là điều cần
thiết.
Ekaṃ samayaṃ āyasmā ānando kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena āyasmā ānando ativelaṃ
gihisaññattibahulo viharati.
Một thuở Tôn giả Ānanda trú tại một khu rừng
trong xứ Kosala, Bấy
giờ Tôn giả Ānanda quá
bận rộn trong việc giảng dạy cho những cư sĩ tại gia.
Atha kho yā tasmiṃ vanasaṇḍe adhivatthā devatā āyasmato
ānandassa anukampikā atthakāmā āyasmantaṃ ānandaṃ
saṃvejetukāmā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
āyasmantaṃ ānandaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng trắc ẩn với Tôn giả Ānanda,
muốn cảnh tỉnh và mang lại lợi lạc cho vị ấy liền đi đến,
nói lên kệ ngôn:
‘‘Rukkhamūlagahanaṃ pasakkiya, nibbānaṃ hadayasmiṃ opiya; Trong tim hướng niết bàn Con Phật chớ xao lãng Tế toái có lợi gì?
Atha kho āyasmā ānando tāya devatāya saṃvejito saṃvegamāpādīti.
Tôn giả Ānanda bừng tỉnh khi được vị thiên nhắc nhở.
nibbānaṃ hadayasmiṃ opiya = đặt niết bàn trong tim Jhā gotama mā pamādo = đệ tử Đức Gotama chớ xao lãng kiṃ te biḷibiḷikā karissatī’’ti = những rộn ràng nầy có lợi lạc gì?
Theo Sớ giải thì sự kiện ghi lại trong bài kinh nầy xảy ra
sau khi Đức Thế Tôn viên tịch và trước mùa an cư kiết hạ.
(tính theo âm lịch Việt Nam khoảng giữa rằm tháng tư và rằm
tháng sáu). Bấy giờ chư vị thánh tăng A la hán dưới sự chủ
trì của Tôn giả Mahākassapa quyết định tổ chức Đại Hội Kết
Tập Giáo Điển trong ba tháng an cư. Tôn giả Mahākassapa đưa
ra một yêu cầu, có lẽ đây là trường hợp duy nhất xưa nay, là
Tôn giả Ānanda phải viên thành chánh quả A la hán trước khi
đại hội bắt đầu.
Trong thời gian ấy Tôn giả Ānanda vào rừng dốc lòng khai
triển thiền quán ở Kosala nhưng lại có quá nhiều cư sĩ sầu
muộn vì sự viên tịch của Đức Thế Tôn nên Tôn giả dãnh thì
giờ giảng dạy về sự vô thường để an ủi họ. Nhưng sự bận rộn
nầy làm chậm nỗ lực tu tập bản thân của Ngài nên vị thiên
nóng lòng. Câu Nibbānaṃ hadayasmiṃ opiya - đặt niết bàn trong tim - được Sớ Giải bàn rộng với hai ý nghĩa: một là nhất tâm hướng cầu chứng niết bàn; hai là là niết bàn làm thiền án tập chú. Chữ bilịbilịkā - việc vô bổ, vô ích - ở đây theo theo Sớ giải là sinh hoạt không có lợi lạc cho mục đích (atthavirahitā pavattā kiriyā) không có nghĩa là việc thuyết pháp giảng kinh là việc phù phiếm nhưng trong lúc Tôn giả Ānanda đang cần nỗ lực hoàn tất sự tu tập thì sự bận rộn thuyết pháp là điều chi phối nên tránh
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |