|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, ngày 16, tháng 09, 2022 MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNGTHẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA)
Chánh văn Ālambanappabhedena catudh’āruppamānasaṁ Puññapākakriyābhedā puna dvādasadhā ṭhitaṁ.
Tâm vô sắc giới
được phân loại theo thiền án gồm có bốn. Khi chia những tâm
nầy theo thiện, quả, và duy tác thành 12 thứ tâm.
2. Sakadāgāmi-maggacittaṁ. 3. Anāgāmi-maggacittaṁ. 4. Arahatta-maggacittañ cā ti. Imāni cattāri pi lokuttara-kusalacittāni nāma.
1.
Tâm đạo nhập lưu
2.
Tâm đạo nhất lai
3.
Tâm đạo bất lai 4. Tâm đạo vô sanh ứng cúng maggacittaṁ > tâm đạo Sotāpatti > nhập lưu, vào giòng thánh vức Sakadāgāmi > nhất lai Anāgāmi > bất lai Arahatta > vô sanh ứng cúng, đoạn tận phiền não lokuttara-kusalacittāni > những tâm thiện siêu thế
Chú thích
Tâm siêu thế là tâm biết cảnh niết bàn - cảnh giới xuất thế
gian.
Có những tâm hiệp thế cũng biết cảnh niết bàn nhưng không
chuyên nhất và không đóng vai trò đặc biệt như tâm siêu thế.
Những giải thích về tâm siêu thế trong Thắng Pháp là mô tả
chi tiết nhất về hiện tượng “đắc chứng đạo quả” thường được
nghe. Hiện tượng nầy cần hiểu theo phạm trù vĩ mô
vì có sự khác biệt lớn giữa sát na nầy đối với sát na
khác.
Gọi là tâm thiện siêu thế vì tạo ra tâm quả siêu thế.
Chữ thiện ở đây phải hiểu tương đối khác với quan niệm bình
thường. Trong cách nói chuẩn xác thì niết bàn không nằm
trong đối đãi của thiện ác. Thắng Pháp đòi hỏi sự quy định
chính xác về cách dùng và hiểu thuật ngữ. Không thể dùng
cách hiểu về thiện trong tâm hiệp thế áp dụng với tâm siêu
thế.
Chữ đạo trong tâm đạo mang ý nghĩa “nẻo vào cảnh giới niết
bàn”.
Nói cách khác là niết bàn không phải là thành quả của bất cứ
duyên sanh nào. Con đường dẫn tới hòn núi không tạo ra hòn
núi. Chữ đạo ở đây vốn là gốc của nhiều cách dùng về “đạo”
hiện nay nhưng phải có định nghĩa “rất riêng”
Một đặc điểm chỉ có ở tâm đạo là sự hợp nhất nhuần nhuyễn
của tám đạo chi.
Tám đạo chi đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh
định. Sự đồng sanh của các đạo chi phải được nhìn trong phạm
trù vĩ mô. Điều nầy hoàn toàn không thể xẩy ra trong các tâm
hiệp thế.
Tất cả tâm siêu thế đều có sự có mặt các thiền chi tối thiều
ở mức độ sơ thiền.
Nhưng nên nhớ là trong tâm sắc giới và tâm vô sắc giới lấy
định lực là tâm điểm trong lúc tâm siêu thế lấy tuệ lực làm
lực chính yếu. Phải hiểu chính xác theo Phật học thì trong
chỉ (samatha) không nhất thiết có quán (vipassana) nhưng
trong quán luôn có chỉ.
Những tâm đạo chứng tri niết bàn trong trường hợp đặc biệt
là cùng lúc có niết bàn là cảnh đồng thời cũng đoạn tận hay
vĩnh viễn giảm thiểu các kiết sử.
Cũng giống như ánh sáng xuất hiện đồng thời cũng làn tan
biến bóng tối. Nghe như hai sư việc nhưng kỳ thật là một.
Không có sự thối thất hay trở lui trong đạo quả siêu thế.
Đây là điều khác biệt lớn so với thiền sắc giới và vô sắc
giới.
Về ý nghĩa của những thuật ngữ nhập lưu, nhất lai, bất lai,
vô sanh ứng cúng sẽ nói rõ trong phần tâm quả siêu thế.
Những thuật ngữ nầy được dịch và phiên âm thường tìm thấy
rất phổ biến trong Hán Tạng. Trong phần “tâm siêu thế” những
thuật ngữ nầy cần được định nghĩa rõ.
Để hiểu rõ về tâm thiện siêu thế cần hiểu rõ 10 kiết sử
(samyojana)
(phần chú thích đoạn nầy sẽ là nội dung của bài học tiếp
theo).
Bài học ngày 16.9.2022
Để hiểu rõ về tâm thiện siêu thế
cần hiểu rõ 10 kiết sử (samyojana). Kiết sử có nghĩa là sự cột trói khiến chúng sanh không thể tách
rời ra khỏi sự đau khổ và cuộc trầm luân. Giống như
một tội nhân bị gông cùm xiềng xích không thể đi lại
tự tại. Những kiết sử nầy là các phiền não nhưng
những phiền não ở đây đóng vai trò trói buộc. Chỉ có
tuệ giác trong tâm thiện siêu thế mới có khả năng
đoạn diệt hay giảm thiểu vĩnh viễn những kiết sử
nầy. Ý nghĩa của 10 kiết sự cần được hiểu rõ để thấy
tại sao là sự cột trói.
1.
Thân kiến (sakkāyadiṭṭhi) là chấp
thủ về cái tôi và liên hệ tới cái tôi. Nói một cách
chuyên môn thì chấp “ta là sắc uẩn, sắc uẩn là ta,
trong ta có sắc uản, trong sắc uẩn có ta”; đối với
thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn cũng vậy. Nói
theo cách thông thường thì đây là một cách tự nhận
về bản thân (self identification) như nói “tôi
giỏi”, tôi đẹp, tôi là thế đó…. Nhưng không phải chỉ
là cách nói phô trương với người khác mà một thứ ngã
chấp miên mật trong mọi lúc, mọi nơi.
2.
Nghi hoặc (vicikicchā) là sự không
trọn tin ở sự giác ngộ giải thoát (đạo quả, niết
bàn) vì còn bám víu thế gian pháp. Đây không phải
chỉ là thái độ nghi nan bày tỏ bằng lời mà tiềm ẩn
qua thái độ không dứt khoát với các sở y. Ví dụ như
tuy rằng đi tu nhưng không đủ can đảm để từ bỏ cả.
3.
Giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa) là
chấp trì những thứ không cần thiết cho sự giác ngộ
giải thoát, nói cách khác là sự hành trì vô ích mà
tiêu biểu là những lễ nghi cúng kiến tuy kết quả mơ
hồ như lại đặt để niềm tin mạnh mẽ. Đây là điều
thường dễ thấy ở những tu sĩ nặng về tín ngưỡng dân
gian. Khi người ta nghiêng về siêu hình, tín ngưỡng
thì luôn tìm về những giải pháp mơ hồ như cầu
nguyện, phong thuỷ, bói toán, cúng kiếng … Nên lưu ý
không phải chỉ có “người mê tín” mới có thái độ như
vậy mà tất cả chúng sanh khi đối diện với những khổ
ải, bế tắc đều như vậy.
4.
Dục ái (kāmacchando) là sự ưa thích
đối với sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc
lạc. Thí dụ như một người thường tu tập nhưng khi đi
máy bay hạng nhất với những chiêu đãi sang trọng thì
tâm vẫn đặc biệt ưa thích.
5.
Sân (vyāpādo hay byāpādo) là phản
ứng bất bình với điều không vừa ý. Sự bực bội không
đơn thuần do ngoại cảnh mà còn do thiếu sự bình ổn
của định lực. Còn dục ái thì con sân. Còn ưa thích
với những điều như ý thì còn bị chi phối bởi những
điều bất như ý.
6.
Sắc ái (rūparāgo) là ái chấp đối
với cảnh thiền sắc giới và cõi phạm thiên sắc giới.
Khi tâm không tham luyến đối với năm dục trưởng
dưỡng thì sắc ái sanh khởi để “lấp vào khoảng trống”
nếu không chứng tri niết bàn.
7.
Vô sắc ái (arūparāgo) là ái chấp
đối với cảnh thiền vô sắc giới và cõi phạm thiên vô
sắc giới. Cũng là một thứ ái chấp sau khi rời thiền
sắc giới.
8.
Mạn (māna) là ngã chấp tạo nên cái
nhìn khác biệt giữa bản thân và chúng sanh khác.
Trong sự tế nhị nhất vẫn thấy năm uẩn là một cá thể
chứ không là nhất thể đối với tất cả chúng sanh. Thí
dụ cũng thời đi học bằng lớp nhưng một học sinh có
thể tự thị là minh hơn những bạn học khác do ngoại
hình, gia thế…
9.
Phóng dật (uddhacca) là sự giao
động đối với chi phối của cảnh. Đây là trạng thái
đối lập với sự an nhiên. Chỉ có bậc đoạn tận lậu
hoặc thì tâm mới đạt tới cảnh giới trạm nhiên.
10. Vô minh (avijjā) là sự
không thật sự biết, thật sự thấy đối lập với sự tỉnh
thức trong mọi phản ứng của tâm đối với cảnh. Giống
như một người gặp những bài toán có khi giải đáp
đúng hay sai nhưng với một giáo sư toán thật sự giỏi
thì luôn tránh được những sai lầm.
Năm kiết sử đầu tiên gọi là hạ
phần kiết sử (orambhāgiyāni saṃyojanāni) và năm kiết
sử còn lại gọi là thượng phần kiết sử
(uddhambhāgiyāni saṃyojanāni). Sự phân biệt nầy do có sự cao
thấp, thô tế.
Vị chứng sơ đạo đoạn tận thân
kiến, hoài nghi, giới cấm thủ. Do thật sự chứng tri niết bàn, sơ khởi, nhưng do đã thấy
nên không còn ba tà kiến. Được gọi là nhập lưu – âm
là tu đà huờn – có nghĩa là người đã vào dòng thánh
vức chắc chắn sẽ đạt đến sự giải thoát hoàn toàn
trong tương lai. Vị nầy còn gọi là thánh thất lai
nghĩa là nếu còn luân hồi trong cõi dục giới thì tối
đa là bảy lần.
Vị chứng nhị đạo làm giảm thiểu
vĩnh viễn dục ái và sân.
Đây là hai kiết sử nặng về tập tánh nhiều đời. Sự ham muốn đối
với năm dục trưỡng dưỡng, và tự nhiên, có ham muốn
thì có bất mãn. Dục ái giảm thì sân cũng giảm. Được
gọi là nhất lai – âm là tư đà hàm – có nghĩa là nếu
còn tái sanh lại cõi dục giới thì chỉ một lần nữa
thôi.
Vị chứng tam đạo đoạn tận hoàn
toàn dục ái và sân. Đây là một sự chuyển hoá lớn khi một chúng sanh không còn tham luyến
và bất mãn với ngoại cảnh. Điều nầy có nghĩa là vượt
khỏi tập tánh từ nhiều đời. Được gọi là bất lai – âm
là a na hàm – là vị không còn sanh trở lại cõi dục
giới.
Vị chứng tứ đạo đoạn tận năm kiết
sử còn lại (hay thượng phần kiết sử). Không còn phiền não thô tế nên cũng gọi là bậc sát tặc; là bậc vô
nhiễm nên gọi là bậc trọn lành; là bậc hoàn toàn
xứng đáng được cúng dường trong ý nghĩa tuyệt đối
nên gọi là bậc ứng cúng. Được gọi là bậc viên giác
vô sanh – âm là a la hán – vì đoạn tận lậu hoặc chấm
dứt sanh tử.
Bốn thánh đạo trên không phải
phải là bốn quả chứng riêng biệt mà là bốn công đoạn. Tất cả chư vị viên giác, kể cả Đức
Phật, đều trãi qua cả bốn công đoạn nầy nhưng có
những vị chứng đắc rất nhanh nên chỉ nói đến quả vị
cuối cùng.
Nên lưu ý có một thí dụ khiến
người học dễ hiểu nhưng thường gây hiểu làm là dụ
ngôn người đi trong đêm nhờ trời chớp thấy được
đường đi (…). Các bậc đã chứng sơ đạo, nhị đạo, tam đạo sau khi chứng
đắc vẫn có thể quán chiếu niết bàn bằng thiền quả
hoặc tâm đại thiện dục giới tịnh hảo chứ không phải
như trời chớp rồi sau đó chỉ là đêm đen. Nên nhớ là
khi tâm đạo khởi lên ba lần đầu (sơ đạo, nhị đạo,
tam đạo)
chư đủ khả năng đoạn diệt tất cả kiết sử. Do còn
kiết sử nên sự chứng tri niết bàn vẫn còn hạn cuộc
bởi kiết sử.
Tỳ kheo Giác Đẳng I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |