|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 17 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 200).
Bài
6. Kinh Anuruddha (Anuruddhasuttaṃ)
-KHI SIÊU, ĐOẠ CHỈ MỘT ĐƯỜNG.
Thác sanh thiên giới được xem là là siêu thoát. Cái nhìn
thông thường là vậy. Một thiên nữ khuyến thỉnh Tôn giả
Anuruddha với công đức tu tập nên hướng cầu sanh thiên. Đối
với Tôn giả thì thì đó là con đường đoạ lạc chứ không siêu
thoát. Phải hiểu thiên lạc không là miên viễn, phải hiểu chư
hành là vô thường thì mới lãnh hội được lời dạy của Ngài.
Đôi khi điều quan trọng của hành trình không chỉ là điểm đến
mà chính là sau đó sẽ đi đâu, về đâu.
Ekaṃ samayaṃ āyasmā anuruddho kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Atha kho aññatarā tāvatiṃsakāyikā devatā jālinī
nāma āyasmato anuruddhassa purāṇadutiyikā yenāyasmā
anuruddho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ anuruddhaṃ
gāthāya ajjhabhāsi –
Một thời Một thuở Tôn giả Anuruddha trú tại một khu rừng
trong xứ Kosala. Rồi thiên nữ tên Jālinī ở cung trời
Tam Thập Tam Thiên vốn là chân ái (khi tôn giả còn là vị
thiên ở đấy trong kiếp trước) đi đến tôn giả và nói lên kệ
ngôn: Tāvatiṃsesu devesu, sabbakāmasamiddhisu; Purakkhato parivuto, devakaññāhi sobhasī’’ti. Nơi Ngài sống kiếp trước Giữa quần tiên Đạo Lợi Mọi ước muốn như ý Ngài sẽ được chói sáng Với tiên nữ tùy tùng
(Tôn giả Anuruddha): Te cāpi duggatā sattā, devakaññāhi patthitā’’ti. Do chấp chặt thân kiến Ai ái luyến tiên nữ Cũng đau khổ như vậy (Jālinī): Āvāsaṃ naradevānaṃ, tidasānaṃ yasassina’’nti. Chưa thấy Nandana Trú xứ của quần tiên Thuộc tam thập tam thiên (Tôn giả
Anuruddha): Aniccā sabbasaṅkhārā, uppādavayadhammino; Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho. ‘‘Natthi dāni punāvāso, devakāyasmi jālini; Vikkhīṇo jātisaṃsāro, natthi dāni punabbhavo’’ti. Lời nói chư Ứng cúng Pháp hành vốn vô thường Sanh diệt là tự tánh Có sanh ắt phải diệt Tịch tịnh là an lạc Ta không còn sanh thiên Giòng luân hồi đã dứt Không sanh hữu đời sau Này hỡi Jālinī
yattha te vusitaṃ pure =nơi Ngài đã sống trước đây Tāvatiṃsesu devesu = giữa quần tiên tam thập tam thiên sabbakāmasamiddhisu = những vị thoả mãn mọi ý muốn Purakkhato parivuto devakaññāhi sobhasī’’ti = Ngài sẽ chói sáng với tuỳ tùng là những thiên nữ. ‘‘Duggatā devakaññāyo = Những tiên nữ đoạ lạc sakkāyasmiṃ patiṭṭhitā = y cứ trên thân kiến Te cāpi duggatā sattā devakaññāhi patthitā’’ti = Ai ái luyến các thiên nữ cũng đoạ lạc như vậy ‘‘Na te sukhaṃ pajānanti = Họ không biết khoái lạc ye na passanti nandanaṃ = Chưa thưởng ngoạn thiên viên Nandana Āvāsaṃ naradevānaṃ = trú xứ của những thiên tử tidasānaṃ yasassina’’nti = thuộc quần thiên Ba Mươi ‘‘Na tvaṃ bāle vijānāsi = Người thật không biết, này kẻ thiểu trí yathā arahataṃ vaco = Lời nói của chư vị a la hán Aniccā sabbasaṅkhārā = Tất cả pháp hữu vi đều vô thường uppādavayadhammino = sanh diệt là tự tánh Uppajjitvā nirujjhanti = sau khi sanh khởi, chúng hoại diệt tesaṃ vūpasamo sukho = tịch tịnh là chân an lạc ‘‘Natthi dāni punāvāso devakāyasmi jālini = Hỡi Jālinī nay ta sẽ chẳng bao giờ trú giữa quần tiên. Vikkhīṇo jātisaṃsāro = giòng sanh tử luân hồi đã dứt natthi dāni punabbhavo’’ti = giờ chẳng có đời sau.
Tôn giả Anuruddha là một hoàng tử dòng Thích Ca xuất gia khi
Đức Phật trở về cố hương lần đầu tiên sau khi thành đạo. Tôn
giả được biết là bậc đệ nhất thiên nhãn.
Trước khi sanh làm người chứng quả giải thoát trong kiếp
chót, Tôn giả Anuruddha vốn là một thiên tử trên cõi trời
Đao lợi (Tam Thập Tam Thiên)
mà Tiên nữ Jālinī là chân ái (nói theo ngôn ngữ nhân
gian là chánh thất giữa hàng thê thiếp). Khi Tôn giả sanh
làm người xuất gia trở thành bậc thánh La Hán thì tiên nữ
nhiều lần thị hiện chăm sóc và mong mỏi Tôn giả sẽ hướng tâm
để sanh trở lại thiên giới.
Chữ duggata thường được dùng là đoạ xứ, cảnh khổ. Tôn giả
Anuruddha nói về cõi trời mà gọi là cảnh khổ là nói theo
phạm trù khác với thường thức. Đối với các bậc giải thoát
hoàn toàn thì “ba cõi như nhà lửa”, tất cả pháp hữu vi đều
khổ. Trong cái nhìn khác, chư thiên ở cõi trời do đắm chìm
trong thiên lạc nên sẽ đau khổ khi tuổi thọ chấm dứt và rất
có thể vì tâm tiếc nuối mà sanh vào khổ cảnh. Với ý nghĩa
nầy thì Tôn giả Anuruddha muốn dạy rằng những thiên nữ sẽ
khổ (nếu không khéo tu tập) mà những ai ái luyến những thiên
nữ cũng khổ như vậy.
Sớ giải nói chi tiết hơn về cụm từ sakkāyasmiṃ patittḥita
– an lập trên thân kiến – có nghĩa là sống với ngã chấp “tôi
là thế nầy, thế nầy là tôi”. Sự chấp thủ thân kiến nầy y cứ
trên tám phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, hư nguỵ, tà
kiến, và giao động.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |