BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 20 tháng 09, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 200).

Bài 7. Kinh Nāgadatta (Nāgadattasuttaṃ) -SỐNG TRONG MÂU THUẪN.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

 Người tu trú trong rừng là chọn nếp sống viễn ly. Một tu sĩ thường lui tới thân thiết với những tại gia sĩ là chú trọng sự giao thiệp mang tính cách nặng lòng qua lại với người đời. Hai khuynh hướng nầy vốn đối ngược, trái chống nhau . Trớ trêu là có nhiều cuộc sống thường tự mâu thuẫn với chính mình. Một người thành công, dù đời hay đạo, chọn lựa sự tương thích giữa đường đi và điểm đến. Không ý thức được lối sống đi ngược lại với bản nguyện bình sinh là điều đáng tiếc như câu thơ của cổ đức: Tăng trụ thành hoàng Phật tổ ha (Tăng sĩ mà ở chốn phồn hoa thì Phật tổ cũng than thở dùm).

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Ekaṃ samayaṃ āyasmā nāgadatto kosalesu viharati aññatarasmiṃ vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena āyasmā nāgadatto atikālena gāmaṃ pavisati, atidivā paṭikkamati. Atha kho yā tasmiṃ vanasaṇḍe adhivatthā devatā āyasmato nāgadattassa anukampikā atthakāmā āyasmantaṃ nāgadattaṃ saṃvejetukāmā yenāyasmā nāgadatto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ nāgadattaṃ gāthāhi ajjhabhāsi –

Một thuở Tôn giả Nāgadatta  trú tại một khu rừng  trong xứ Kosala. Bấy giờ Tôn giả Nāgadatta thường đi vào làng quá sớm và mãi quá chiều tối mới trở về .

Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng trắc ẩn với Tôn giả Nāgadatta, muốn cảnh tỉnh và mang lại lợi lạc cho vị ấy liền đi đến, nói lên kệ ngôn:

‘‘Kāle pavisa nāgadatta, divā ca āgantvā ativelacārī;
Saṃsaṭṭho gahaṭṭhehi, samānasukhadukkho.
‘‘Bhāyāmi nāgadattaṃ suppagabbhaṃ, kulesu vinibaddhaṃ;
Mā heva maccurañño balavato, antakassa vasaṃ upesī’’ti.

“Nāgadatta vào làng
Thường sớm đi tối về
Quá gần hàng cư sĩ
Với bao chuyện buồn vui.

“Tôi thật sự ái ngại
Cho Nāgadatta
Thân thiết không biết thẹn
Đừng vào rọ của Ma .

Atha kho āyasmā nāgadatto tāya devatāya saṃvejito saṃvegamāpādīti.

Tôn giả Nāgadatta bừng tỉnh khi được vị thiên nhắc nhở.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Kāle pavisa nāgadatta divā ca āgantvā ativelacārī = Thầy Nāgadatta sớm tối đi về
Saṃsaṭṭho gahaṭṭhehi = quá gần gũi với những cư sĩ
samānasukhadukkho = chia sẻ niềm vui nỗi khổ
‘‘Bhāyāmi nāgadattaṃ suppagabbhaṃ = Tôi thật ái ngại cho thầy Nāgadatta không tàm quý
kulesu vinibaddhaṃ = vướng mắc với hàng tục gia
Mā heva maccurañño balavato antakassa vasaṃ upesī’’ti = Đừng rơi vào quyền lực khống chế của Tử thần

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Ngoài bài kinh nầy không tìm thấy bất cứ chi tiết nào khác về Tôn giả Nāgadatta trong Tam tạng và Sớ giải. Bản Sớ giải của riêng bài kinh nầy cũng không cung cấp dữ kiện gì về vị nầy.

Theo Tăng Chi Bộ, Phẩm Năm Pháp “Vào làng vào lúc quá sớm và trở về khi quá trễ (Kāle pavissa gāmaṃ / dvā ca āgantvā) là hai trong năm biểu hiện khiến một t khưu đi đến thối đoạ”(AN III 116, 27-117, 7).

Cụm từ samānasukhadukkha mang ý nghĩa là “đồng cam cộng khổ” hay “chia sẻ buồn vui” trong nhiều ngữ cảnh mang ý nghĩa tích cực nói về đặc điểm của một người bạn tốt. Tuy nhiên trong bài kinh nầy mang ý nghĩa tiêu cực có nghĩa là “dính dáng vào những vui buồn của người tại gia một cách không thích hợp cho một vị xuất gia”.

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-