|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 21 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 201).
Bài
8. Kinh Bà Chủ Nhà (Kulagharaṇīsuttaṃ)
-THỊ PHẠM HOÁ THỊ PHI.
Bài kinh nầy ghi
lại một chuyện trớ trêu. Thông thường thì chư thiên được
hiểu là biết rõ chuyện hơn loài người. Thế nhưng trong giai
thoại nầy thì vị tiên nữ do không nhận biết sự giác ngộ của
một bậc a la hán nên tìm cách nhắc nhở vị nầy thấy vị tỳ
khưu thường lui tới với một gia đình. Thí chủ vốn có lời
thỉnh cầu. Vì tỳ khưu mỗi ngày tới chỉ để nhận thực phẩm. Do
hiểu lầm mà có chuyện có gắng thức tỉnh một bậc hoàn toàn
tỉnh thức. Đúng là ở đời chuyện gì cũng có thể xẩy ra.
Ekaṃ samayaṃ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena so bhikkhu aññatarasmiṃ
kule ativelaṃ ajjhogāḷhappatto viharati. Atha kho yā tasmiṃ
vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā
atthakāmā taṃ bhikkhuṃ saṃvejetukāmā yā tasmiṃ kule
kulagharaṇī, tassā vaṇṇaṃ abhinimminitvā yena so bhikkhu
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ gāthāya ajjhabhāsi
–
Một thuở có vị tỳ khưu
trú tại một khu rừng
trong xứ Kosala. Bấy giờ vị tỳ khưu lui tới mật thiết
với một gia đình.
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng trắc ẩn với vị tỳ khưu, muốn
cảnh tỉnh và mang lại lợi lạc cho vị ấy liền biến thành
bà chủ nhà đi đến, nói lên kệ ngôn:
‘‘Nadītīresu saṇṭhāne, sabhāsu rathiyāsu ca; Hội trường và đường đi Người gặp nhau đàm tiếu Chuyện giữa tôi và ngài
(Vị tỳ khưu): Na tena maṅku hotabbaṃ, na hi tena kilissati. ‘‘Yo ca saddaparittāsī, vane vātamigo yathā; Lahucittoti taṃ āhu, nāssa sampajjate vata’’nti.
Có những lời không đẹp
Nghe tiếng, tâm bấn loạn
sabhāsu rathiyāsu ca = hội trường và đường đi Janā saṅgamma mantenti = Người ta họp lại đàm tiếu mañca tañca kimantara’’nti = Những gì đang xẩy ra giữa tôi với Ngài. ‘‘Bahūhi saddā paccūhā = Có những âm thanh không vừa ý khamitabbā tapassinā = bậc thanh tu cần kham nhẫn Na tena maṅku hotabbaṃ = không nên buồn nản vì chuyện ấy na hi tena kilissati = Vì điều ấy không làm người uế nhiễm ‘‘Yo ca saddaparittāsī = nếu một người bị bấn loạn vì âm thanh vane vātamigo yathā = như loài nai trong rừng Lahucittoti taṃ āhu = được gọi là “yếu bóng vía” nāssa sampajjate vata’’nti = sự tu tập không có kết quả
Theo Sớ giải thì vị tỳ khưu trong bài kinh nầy nhận thiền án
từ Đức Phật rồi vào rừng chuyên tâm tu tập. Ngày hôm sau có
một gia đình cúng dường thực phẩm và xin tiếp tục hộ độ cho
vị nầy suốt thời gian tu tập trong rừng. Sau đó không lâu vị
tỳ khưu chứng quả a la hán và lưu lại cảm nghiệm quả vị giác
ngộ giải thoát. Thiên nữ trú trong rừng không biết được sở
chứng của Ngài nên nghĩ rằng vị tỳ khưu có quan hệ ái luyến
với nữ chủ nhân nên hoá thành nữ chủ nhân với mục đích cảnh
tỉnh. Chữ
vātamiga
(nghĩa đen là “nai gió”) một loại hưu hoẵng trong rừng
thường nhạy cảm với tiếng động. Chữ
lahucitta – tâm nhẹ theo ý nghĩa tiêu cực - tạm dịch là “yếu
bóng vía” theo cách nói thông thường cho dễ hiểu.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |