|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 22 tháng 09, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ V. PHẨM NGƯỜI NGU (Bālavagga)_Kệ số 5 và 6 (dhp 64 &65)
V. Phẩm Người Ngu_ Kệ số 5 (dhp 64)
Duyên sự:
Bài kệ nầy đức Phật thuyết tại chùa Jetavana Sāvatthi, vì
câu chuyện của tỳ kheo Udāyi.
Chuyện rằng, tỳ kheo Udāyi ở Jetavana nơi mà đức Phật và chư
thinh văn thường cư ngụ thuyết giảng giáo pháp, nhưng tỳ
kheo Udāyi thì không học hỏi được điều gì.
Những lúc các vị đại trưởng lão đi vắng, tỳ kheo Udāyi đến
giảng đường và ngồi trên pháp toạ. Một ngày kia chư tỳ kheo
khách tăng ghé về chùa thấy tỳ kheo Udāyi ngồi trên pháp toà
giảng đường, họ nghĩ rằng: “Hẵn đây là bậc đại trưởng lão đa
văn”. Nhưng khi các vị hỏi pháp liên quan đến uẩn, xứ, giới,
đế thì tỳ kheo Udāyi không biết và không giải thích được.
Chư tỳ kheo khách mới chê trách: “sư đó là ai, sao cư ngụ
chung một chùa với đức Phật và các vị đại trưởng lão mà
không hiểu biết pháp vậy?” Rồi các vị thuật lại việc ấy lên
đức Phật. Bậc đạo sư thuyết pháp cho các vị ấy và Ngài đã
nói lên bài kệ nầy: “Yāvajīvampi ce bālo … dabbī
sūparasaṃ yathā”.
Dứt pháp thoại các vị tỳ kheo khách đã chứng quả A la hán.
Chánh văn:
(dhp 64) paṇḍitaṃ payirupāsati na so dhammaṃ vijānāti dabbī sūparasaṃ yathā.
Thích văn: yāvajīvaṃ [trạng từ] trọn đời, suốt đời. api ce [bất biến từ] dù, cho dù, mặc dù. paṇḍitaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính paṇḍita] người trí, bậc trí. payirupāsati [động từ hiện tại ngôi III số ít (pari + upa + căn ās)] ngồi gần, quây quần, thân cận. dhammaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính dhamma] pháp, giáo pháp. vijānāti [động từ hiện tại ngôi III số ít (vi + căn ñā)] hiểu biết, nhận thức. dabbī [chủ cách số ít của danh từ nữ tính dabbī] cái muỗng, cái vá múc. sūparasaṃ [đối cách số ít của hợp thể danh từ nam tính sūparasa (sūpa + rasa)] vị canh, chất vị của súp canh. yathā [trạng từ] như thể, như là.
Việt văn:
(pc 64) thân cận bậc trí tuệ cũng không biết giáo pháp như muỗng với vị canh.
Chuyển văn:
Bālo api ce yāvajīvaṃ paṇḍitaṃ payirupāsati so dhammaṃ na
vijānāti yathā dabhī sūparasaṃ.
Kẻ ngu dốt cho dù thân cận bậc trí đến trọn đời nó cũng
không hiểu biết được giáo pháp, như thể cái muỗng với vị
canh.
Lý giải:
Kẻ ngu khác hơn người tối dạ. Người tối dạ là người chậm
hiểu, chậm nhớ, nhưng nó có thể dể dạy, kiên nhẫn, siêng
năng. Còn kẻ ngu là người không biết giá trị của kiến thức,
không biết làm lợi ích cho mình và người, không dể dạy,
không kiên nhẫn, lười biếng, lánh nặng tìm nhẹ.
Do đó kẻ ngu dù có sống gần với bậc trí trọn đời nó cũng
không lãnh hội được giáo pháp, bởi kẻ ngu lười biếng, khó
dạy, không kham nhẫn được lời dạy bảo nghiêm khắc không chịu
khó học hỏi với bậc trí. Đức Phật ví dụ kẻ ngu như cái muỗng
canh trong tô canh. Múc canh, tiếp xúc với canh, nhưng cái
muỗng không thưởng thức được vị của canh như thế nào.
Người tối dạ sống gần bậc trí dần dần cũng có thể hiểu biết
giáo pháp nhờ dể dạy, chịu khó học tập, kiên nhẫn với lời
giáo huấn nghiêm khắc và siêng năng. Cũng. Như câu tục ngữ
“cần cù bù thông minh” vậy.
V. Phẩm Người Ngu_ Kệ số 6 (dhp 65)
Duyên sự:
Bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Jetavana thành
Sāvatthi, do câu chuyện của ba mươi vị tỳ kheo xứ Pāvā
(tiṃsamattapāveyyakabhikkhu).
Ba mươi vị tỳ kheo Pāveyyaka nầy xuất gia với đức Phật lúc
sơ thời hoằng pháp.
Sau khi đức Phật chuyển pháp luân độ nhóm năm vị Koṇḍañña,
rồi Yasa và năm mươi bốn người bạn của Yasa. Lúc đó trong
thế gian có sáu mươi một vị A la hán. Đức Phật ban thông
điệp hoằng pháp, Ngài và sáu mươi vị thinh văn, mỗi người đi
một ngã để thuyết chánh pháp.
Đức Phật đi vào khu rừng Kappāsikavana. Bấy giờ có ba mươi
vị công tử dòng họ Bhadda ở xứ Pāvā dẫn vợ du ngoạn, có một
công tử chưa vợ dẫn theo một kỹ nữ làm bạn.
Thế rồi cô kỹ nữ ấy đã trộm lấy tư trang của họ và trốn đi.
Cả nhóm đi tìm cô kỹ nữ trong rừng Kappāsikavana, họ gặp đức
Phật hỏi Ngài có thấy một người phụ nữ không? đức Phật hỏi
lại họ rằng đi tìm một phụ nữ và tìm chính mình, điều nào
tốt hơn?
Cả nhóm lãnh hội được ý nghĩa lời nói nầy bèn ngồi lại nghe
Phật thuyết pháp. Họ đắc sơ quả và xin thọ cụ túc giới bằng
cách Thiện lai tỳ kheo (Ehibhikkhubhāvaṃ) thành tựu y
bát.
Ba mươi vị tỳ kheo ấy thọ trì hạnh đầu đà sống ở rừng. Thời
gian lâu sau, ba mươi vị trở về đảnh lễ bậc đạo sư và được
nghe pháp thoại Anamatagga (luân hồi không có khởi điểm). Cả
ba mươi vị đều chứng quả A la hán.
Khi biết được chuyện nầy, chư tỳ kheo tại Jetavana hội hợp ở
giảng đường bàn luận về ba mươi vị tỳ kheo Pāveyyaka lãnh
hội mau chóng.
Nghe chư Tăng bàn luận chuyện ấy, đức Phật đã giải thích
rằng người có trí tuệ khi được gần bậc trí dù phút chốc cũng
lãnh hội được giáo pháp nhanh chóng. Rồi đức Phật nói lên
bài kệ: “Muhuttamapi ce viññū … jivhā sūparasaṃ yathā”.
Dứt bài kệ nhiều vị tỳ kheo chứng đắc a la hán.
Chánh văn:
(dhp 65) paṇḍitaṃ payirupāsati khippaṃ dhammaṃ vijānāti jivhā sūparasaṃ yathā.
Thích văn: muhuttaṃ [trạng từ] phút chốc, một lát. api ce [bất biến từ] cho dù, mặc dù. viññū [chủ cách số ít của danh từ nam tính viññū] người trí, người hiểu biết khippaṃ [trạng từ] mau lẹ, nhanh chóng. jivhā [chủ cách số ít của danh từ nữ tính jivhā] cái lưỡi.
Việt văn: ở gần bậc hiền trí nhanh chóng hiểu giáo pháp như lưỡi với vị canh.
Chuyển văn:
Viññū api ce muhuttaṃ paṇḍitaṃ payirupāsati khippaṃ dhammaṃ
vijānāti yathā jivhā sūparasaṃ.
Người có trí mặc dù chỉ ở gần bậc hiền trí trong giây lát
cũng mau chóng hiểu được giáo pháp, như cái lưỡi với vị
canh.
Lý giải:
Người trí (viññū) là người có tuệ căn, thông minh,
biết tìm hiểu điều lợi ích, có tâm học hỏi.
Người như vậy khi gặp bậc hiền trí (paṇḍita) khác
giỏi hơn thì sẵn sàng học hỏi, cho dù chỉ gặp trong thời
gian ngắn ngủi cũng nhanh chóng lãnh hội được pháp học. Rồi
khi hiểu pháp tu liền tinh tấn thực hành chứng đắc pháp siêu
thế. Người trí ấy ví như lưỡi nếm vị canh, mau chóng biết vị
mặn lạt của canh.
Hãy sống làm người trí, đừng bở lỡ cơ hội được gần bậc hiền
trí để lãnh hội những điều hay điều tốt mà bậc hiền trí chỉ
dạy. Nếu chưa đắc đạo quả thì ít nhất cũng hiểu biết được
pháp học, hoặc biết được những luân lý trong cuộc sống. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |