|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 24 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 201).
Bài
9. Kinh Hoàng Tử Xứ Vajji (Vajjiputtasuttaṃ)
-KHI NHÀ SƯ CÔ ĐƠN.
Sống độc cư là
một trong những thuận duyên mà đời phạm hạnh có được. Nhưng
sống một mình thường bị cảm giác cô đơn trống trãi. Người tu
cần tỉnh táo ý thức giá trị của nếp sống mình đã lựa chọn.
Và cũng cần nhớ là nhiều người, giữa những lao lung trong
cuộc sống, mơ ước có được nếp sống ít lo lắng, ít buộc ràng.
Không phải dễ dàng để có cái mình muốn và cũng không dễ để
thật sự muốn cái mình
có. Sự mâu thuẫn nội tại nầy vốn luôn xẩy ra giữa cuộc đời
như câu “kẻ hòng ra khỏi, người mong chui vào”
Ekaṃ samayaṃ aññataro vajjiputtako bhikkhu vesāliyaṃ
viharati aññatarasmiṃ vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena
vesāliyaṃ vajjiputtako sabbaratticāro hoti. Atha kho so
bhikkhu vesāliyā tūriya-tāḷita-vādita-nigghosasaddaṃ sutvā
paridevamāno tāyaṃ velāyaṃ imaṃ gāthaṃ abhāsi –
Một thuở có vị tỳ khưu, nguyên là hoàng tử xứ Vajji, trú
trong rừng tại Vesālī. Bấy giờ có lễ hội náo nhiệt suốt đêm
tại Vesālī với những âm thanh của chuông trống, kèn phách,
lời ca tiếng hát. Khi ấy vị tỳ khưu thốt lên kệ ngôn tự
thán: Apaviddhaṃva vanasmiṃ dārukaṃ; Etādisikāya rattiyā, Ko su nāmamhehi pāpiyo’’ti. Như khúc gỗ lăn lóc Trong đêm như đêm nay, Có ai khổ hơn mình?
Atha kho yā tasmiṃ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa
bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṃ bhikkhuṃ saṃvejetukāmā
yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ
gāthāya ajjhabhāsi –
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng trắc ẩn với vị tỳ khưu, muốn
cảnh tỉnh và mang lại lợi lạc cho vị ấy liền đi đến, nói lên
kệ ngôn:
‘‘Ekakova tvaṃ araññe viharasi, apaviddhaṃva vanasmiṃ
dārukaṃ; Như khúc gỗ lăn lóc Nhiều người mong được vậy Như kẻ đoạ muốn siêu
Atha kho so bhikkhu tāya devatāya saṃvejito saṃvegamāpādīti.
Vị tỳ khưu bừng tỉnh khi được vị thiên nhắc nhở.
Apaviddhaṃva vanasmiṃ dārukaṃ = như khúc gỗ bị quăng bỏ trong rừng Etādisikāya rattiyā = trong một đêm (có cuộc vui) rộn rã Ko su nāmamhehi pāpiyo’’ti = Ai là người thảm hơn chúng ta? ‘‘Ekakova tvaṃ araññe viharasi = Ngài sống trong rừng một mình apaviddhaṃva vanasmiṃ dārukaṃ = như khúc gỗ quăng bỏ trong rừng Tassa te bahukā pihayanti = Nhiều người ganh tị với Ngài nerayikā viya saggagāmina’’nti = giống như chúng sanh trong địa ngục ganh tỵ với người sanh thiên giới
Câu
chuyện trong bài kinh nầy được mô tả chi tiết hơn trong Sớ
giải Kinh Pháp Cú, câu kệ 302.
Theo Sớ Giải thì vị tỳ khưu trong bài kinh nầy nguyên là một
hoàng thân của xứ Vajji, một xứ cộng hoà duy nhất thời Đức
Phật trụ thế. Tại xứ nầy quyền cai trị không nằm trong tay
một vị vua mà luân phiên bởi những người cầm đầu các bộ tộc.
Khi vị hoàng thân đến lượt nắm quyền thì lại phát tâm xuất
gia trở thành một tỳ khưu đệ tử Phật sống độc cư trong rừng. Kệ
ngôn tự thán của vị tỳ khưu nói lên tâm trạng tưởng tiếc
cuộc sống đầy vui thú trước khi chưa xuất gia chứ không phải
là phiền muộn vì tiếng ồn ào của lễ hội. Sau
khi bừng tỉnh nhờ lời nhắc nhở của vị thiên, vị tỳ khưu đã
đến đảnh lễ Đức Phật vào ngày hôm sau và được khai thị về
những điều khó chịu đựng trong cuộc đời.
(Đức Phật đã dạy
cho tỳ khưu ấy: Vui hạnh xuất gia khó Sống bạn không đồng, khổ, Trôi lăn luân hồi, khổ. Vậy chớ sống luân hồi, Chớ chạy theo đau khổ
Pháp cú câu 302
Bản dịch của HT
Thích Minh Châu)
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |