|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 26 tháng 09, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ V. PHẨM NGƯỜI NGU (Bālavagga)_Kệ số 7(dhp 66)
Duyên sự: Bài
kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài ngự tại Veḷuvana gần thành
Rājagaha, nhân cái chết của ông cùi Suppabuddha. Tại
Veḷuvana (Trúc lâm) đức Phật đang thuyết pháp cho hội chúng,
một người cùi tên Suppabuddha từ xa thấy hội chúng tụ họp,
người cùi ấy nghĩ rằng chỗ đó hội họp đông người ta đến đấy
có thể ăn xin được. Bèn đi đến, nhưng thấy đức Phật đang nói
pháp cho hội chúng, người cùi Suppabuddha cũng ngồi lại phía
sau hội chúng để nghe pháp. Đức
Phật quán xét căn duyên của người cùi ấy thấy ông ta hữu
duyên chứng đắc pháp nhãn nên Ngài đã thuyết pháp thích hợp
căn cơ của ông ta. Nghe dứt thời pháp ông cùi Suppabuddha
chứng quả dự lưu tại chỗ ngồi. Chờ hội chúng ra về, ông ta
vào gần đảnh lễ đức Phật và xin qui y tam bảo. Xong từ giả
đức Phật ra về.
Chẳng may ông cùi Suppabuddha đi được một đổi đã bị một con
bò cái húc chết. Chư
tỳ kheo biết chuyện ấy liền bạch hỏi đức Phật: Người cùi
Suppabuddha do nhân gì bị cùi? Do nhân gì bị chết thảm do bò
húc và sanh về đâu? Đức
Phật giải thích cho chư tỳ kheo nghe, ông Suppabuddha đã
chứng pháp nhãn không còn bị thối đoạ đã tái sanh về cõi
trời Đao lợi. Ông ta bị cùi là do nghiệp quá khứ đã hành
động vô lễ đối với vị độc giác Tagarasikhi, khi thấy vị độc
giác, ông ta đã phun nước bọt vào người của Ngài; Ông ta
sanh địa ngục thời gian dài, nay quả dư sót sanh làm người
bị cùi hủi. Còn việc ông ta bị con bò cái đoạt mạng sống là
do ác nghiệp quá khứ, có kiếp làm một công tử cùng với ba
người bạn bỏ tiền mua chuộc một cô gái dẫn vào rừng dạo chơi
rồi hãm hiếp và giết chết cô ấy để đoạt nữ trang; khi sắp
chết cô gái cột oan trái, sẽ trả thù. Cô gái ấy sanh làm dạ
xoa và tìm bốn người đàn ông để đoạt mạng bằng cách hoá hiện
thành con bò cái húc chết họ. Bốn người ấy là Pukkusāti,
Bāhiyadarucīriya, Tambadāṭhika và Suppabuddhakuṭṭhi. Sau
khi nhắc tiền nghiệp của Suppabuddha xong, đức Phật dạy:
“Này chư tỳ kheo, các chúng sanh tự mình tạo nghiệp có quả
đắng cay cho mình, quanh quẩn tự mình như là kẻ thù của
mình”. Rồi Ngài nói lên bài kệ kết luận: “Caranti bālā
dummedhā … yaṃ hoti kuṭukapphalaṃ”. Dứt
pháp thoại có nhiều vị tỳ kheo đắc thánh quả.
Chánh văn:
(dhp 66) amitteneva attanā karontā pāpakaṃ kammaṃ yaṃ hoti kaṭukapphalaṃ.
Thích văn: bālā [chủ cách số nhiều của danh từ nam tính bāla] những kẻ ngu. dummedhā [chủ cách số nhiều nam tính của hợp thể tính từ dummedha (du + medha)] thiểu trí, thiếu trí, thiếu sáng suốt. amitteneva [hợp âm amittena iva] amittena [sở dụng cách số ít của hợp thể danh từ nam tính amitta (na + mitta)] với kẻ thù, bởi kẻ không phải là bạn. iva [bất biến từ tỷ giảo. = viya] giống như, tỷ như, ví như. attanā [sở dụng cách số ít của danh từ nam tính atta] với chính mình, bởi tự mình. karontā [chủ cách số nhiều của hiện tại phân từ karonta (kar + o + nta)] đang tạo, đang hành động, đang làm. pāpakaṃ [đối cách số ít trung tính của tính từ pāpaka (pāpa + ka)] ác, xấu, quấy. kammaṃ [đối cách số ít của danh từ trung tính kamma] việc làm, sự hành động, nghiệp. yaṃ [đối cách số ít trung tính của quan hệ đại từ ya] nào, điều mà. hoti [động từ hiện tại ngôi III số ít (hū + a)] là, có. kaṭukapphalaṃ [chủ cách số ít của hợp thể danh từ trung tính kaṭukapphala (kaṭuka + phala)] quả đắng cay, quả khốc liệt.
(pc
66) với tự mình là thù tạo tác nghiệp ác xấu có kết quả đắng cay.
Chuyển văn:
Bālā dummedhā pāpakaṃ kammaṃ karontā yaṃ kaṭukapphalaṃ hoti
amittena iva attanā caranti.
Những kẻ ngu si thiếu trí tạo tác nghiệp ác là điều mà có
hậu quả đắng cay, họ tự hành động như một kẻ thù.
Lý giải:
Chúng sanh ai cũng thương yêu chính bản thân, mong muốn mình
được hạnh phúc, đừng bị khổ. Thế nhưng họ vẫn bị khổ, vẫn
gặp điều trái ý nghịch lòng. Vì sao thế? Vì họ tự tạo ác
nghiệp, gieo đau khổ cho người khác, hành động thân, khẩu, ý
bằng tham sân si. Gieo giống nào thì sẽ gặp quả nấy.
Chúng sanh lãnh chịu sự đau khổ do quả báo của nghiệp ác mà
họ tự tạo. Thành ra chính họ là kẻ thù của họ. Như
một kẻ thù luôn gieo đau khổ cho người nó thù ghét, kẻ thù
không đem lại lợi ích an vui cho người mà nó căm hận. Cũng
vậy, ác nghiệp chỉ tạo quả dị thục đắng cay cho người đã tạo
nghiệp, chứ không tạo quả ngọt ngào. Vì ý nghĩa nầy nên nói
rằng tự mình tạo ác nghiệp là tự mình thành kẻ thù của chính
mình.
Những chúng sanh thiếu trí hành động ác phải bị quả khổ đau. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |