|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 27 tháng 09, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 202).
Bài
10. Kinh Tụng Niệm (Sajjhāyasuttaṃ)
-HẾT BỆNH KHÔNG CẦN UỐNG THUỐC.
Tụng niệm là sinh hoạt nhật hành của người xuất gia. Ngoài
sự lễ bái Tam Bảo, kinh văn tụng niệm còn chứa đựng những
Phật ngôn. Tụng kinh để tâm an tịnh; để nhớ lời Phật dạy; mà
cũng tạo nên lợi lạc cho chúng sanh chung quanh kể cả chư
thiên. Tất cả điều nầy rất cần, rất tốt con người đang tu
tập. Tuy vậy đối với bậc hoàn toàn giải thoát có thể không
cần thiết. Có những thiện sự chỉ tốt đối với người đang trên
hành trình đến giác ngộ giải thoát.
Ekaṃ samayaṃ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena so bhikkhu yaṃ sudaṃ pubbe
ativelaṃ sajjhāyabahulo viharati so aparena samayena
appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyati. Atha kho yā tasmiṃ
vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno dhammaṃ asuṇantī
yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ bhikkhuṃ
gāthāya ajjhabhāsi –
Một thuở có vị tỳ khưu trú tại một khu rừng trong xứ Kosala.
Vị tỳ khưu trước kia
thường tụng nhiều kinh bổng nhiên yên lặng trong sự tịnh
lạc. Bấy giờ một vị thiên trong khu rừng không còn được nghe
kinh tụng nên đi đến vị tỳ khưu nói lên kệ ngôn: nādhīyasi bhikkhūhi saṃvasanto; Sutvāna dhammaṃ labhatippasādaṃ, diṭṭheva dhamme _ labhatippasaṃsa’’nti. Tỳ khưu nên tụng kinh Tụng kinh tăng tín tâm Được mọi người tán thán
(Vị tỳ khưu): yāva virāgena samāgamimha; Yato virāgena samāgamimha, yaṃ kiñci diṭṭhaṃva sutaṃ mutaṃ vā; Aññāya nikkhepanamāhu santo’’ti. Khi chưa chứng ly dục Ta ưa thích Pháp kệ Từ khi chứng ly dục Thánh giả gọi liễu ngộ Không chấp những thấy, nghe…
Sutvāna dhammaṃ labhatippasādaṃ = nghe pháp khiến thành tựu niềm tịnh tín diṭṭheva dhamme labhatippasaṃsa’’nti = được tán thán ngay trong đời nầy ‘‘Ahu pure dhammapadesu chando = trước kia ta thích pháp kệ yāva virāgena samāgamimha = khi chưa đạt được trạng thái ly tham Yato virāgena samāgamimha = giờ chứng đạo ly dục yaṃ kiñci diṭṭhaṃva sutaṃ mutaṃ vā aññāya nikkhepanamāhu santo’’ti = không còn vương mang đối với những gì được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm, một trạng thái mà các bậc thánh giả gọi là liễu tri.
Theo Sớ Giải thì vì tỳ khưu sau khi chứng quả A la hán khởi
lên ý nghĩ: Ta đã thành tựu những gì đề cập trong kinh văn
tại sao tiếp tục tụng đọc?. Và từ đó vị ấy an hưởng quả vị
giác ngộ giải thoát trong im lặng.
Chữ Dhammapada thường được dịch là Pháp cú chỉ cho những lời
Phật dạy. Riêng ở đây thì có nghĩa là những Phật ngôn được
nói theo thể kệ tụng, một hình thức rất hữu ích trong cách
học truyền khẩu. Do vậy bảnh dịch nầy dùng chữ “pháp kệ”
Chữ muta bao gồm ba giác quan là khứu giác, vị giác, xúc
giác.Trọn cả câu nói về sự ly tham đối với năm trần cảnh.
Kệ ngôn của vị tỳ khưu trong bài kinh nầy có 5 câu. Đây là
trường hợp rất hiếm hoi trong văn học Phạn ngữ.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |