|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 29 tháng 09, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ V. PHẨM NGƯỜI NGU (Bālavagga)_Kệ số 8 và số 9 (dhp 67 , 68)
V. Phẩm
Người
Ngu_ Kệ số 8
(dhp 67)
Duyên sự:
Bài kệ nầy được đức Phật thuyết khi Ngài trú ở Jetavana Sāvatthi,
do
câu chuyện người cày ruộng.
Tương truyền, có người đàn ông đi cày thửa ruộng gần thành Sāvatthi,
trên
bờ ruộng của ông ta có một túi vàng do bọn trộm cướp lấy
được từ trong thành, đã đánh rơi ở đấy. Ông ta nhặt túi vàng
ấy và để qua một bên lấy cỏ che đậy sơ sài.
Ngay lúc ấy đức Phật và tôn giả
Ānanda
đi khất thực ngang qua chỗ ấy, Ngài quán xét biết người thợ
cày nầy sẽ gặp nạn và người nầy có duyên đắc thánh quả trong
ngày hôm nay. Đức Phật dừng chân chỗ để túi vàng, Ngài bảo
với tôn giả
Ānanda:
“Này
Ānanda,
ngươi có thấy con rắn độc đó không?”_Tôn giả
Ānanda
hiểu ý Phật nên đáp: “Dạ có thấy, bạch Thế Tôn”. Rồi các
Ngài đi tiếp.
Người thợ cày nghe nói vậy nhưng không hiểu gì vẫn tiếp tục
công việc cày ruộng của mình.
Những người dân trong thành đêm qua bị trộm mất của, họ lần
theo dấu vết đi tìm
bọn trộm. Khi đến chỗ ruộng mà người thợ cày đang làm việc,
họ phát hiện túi vàng cất dấu trên bờ, họ nghi ngờ người thợ
cày là kẻ trộm nên bắt trói và dẫn đến đức vua.
Đức vua có nhân chứng vật chứng bèn phán tội anh thợ cày và
truyền xữ phạt đánh đòn.
Trong khi bị đánh đòn, anh thợ cày nhớ lại lời của đức Phật
hỏi tôn giả
Ānanda.
Anh thợ cày luôn miệng thốt lên: “đồ rắn độc, đồ rắn độc”.
Người
lính vua hỏi anh ta nói vậy có nghĩa gì? Thì
anh ta chỉ bảo hãy cho tôi gặp đức vua, anh ta kêu oan và
thuật lại những lời đối thoại của đức Phật và tôn giả
Ānanda
lúc sáng sớm.
Đức vua Pasenadi nghe vậy nghĩ rằng anh thợ cày có đức Phật
làm chứng là vô tội. Đức vua bèn dẫn anh thợ cày đến chùa
gặp Đức Phật, vua bạch hỏi chuyện Ngài nói con rắn độc, có
thật vậy chăng?
Đức Phật đáp: “phải, tâu đại vương. Như Lai đã đi qua thấy
anh thợ cày nhặt của rơi, biết anh ta sắp gặp nạn nên Như
Lai đã nói lên mấy lời ấy”. Rồi đức Phật nói tiếp: “Đối với
người trí không nên làm việc gì mà làm xong sau đó bị khổ
luỵ”. Và đức Phật kết luận bằng bài kệ: “Na taṃ
kammaṃ kataṃ sādhu … vipākaṃ paṭisevati”.
Dứt pháp thoại, người thợ cày được chứng quả dự lưu, qui y
tam bảo và trở thành một cận sự nam.
Chánh văn:
(dhp
67) yaṃ katvā anutappati yassa assumukho rodaṃ vipākaṃ paṭisevati.
Thích văn: taṃ [chủ cách số ít của danh từ trung tính của chỉ thị đại từ ta] việc ấy, điều ấy. kammaṃ [chủ cách số ít của danh từ trung tính kamma] việc làm, hành vi, sự hành động. kataṃ [chủ cách số ít trung tính của quá khứ phân từ kata ( căn kar + ta)] đã được làm, đã làm xong. sādhu [(1) Tính từ, chủ cách số ít trung tính “tốt đẹp, thiện”. (2) Trạng từ “lành thay, thiện thay”. (3) Bất biến từ “dạ! vâng!”] Trong bài kệ nầy chữ sādhu dùng trong nghĩa tính từ (1). yaṃ [đối cách số ít trung tính của quan hệ đại từ ya] việc mà, điều mà. katvā [bất biến quá khứ phân từ của động từ karoti (căn kar + tvā)] sau khi làm, khi đã làm. anutappati [động từ thụ động ngôi III số ít (anu + căn tap + ya)] bị ray rức, bị đốt nóng, bị khổ tâm. yassa [sở thuộc cách số ít của quan hệ đại từ ya] của việc mà, của điều mà. assumukho [chủ cách số ít của hợp thể danh từ nam tính assumukha (assu + mukha)] mặt đầy nước mắt. rodaṃ [chủ cách số ít của hiện tại phân từ rodanta (căn rud + anta)] đang khóc than. vipākaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính vipāka] quả báo, quả dị thục. paṭisevati [động từ hiện tại ngôi III số ít (paṭi + căn sev + a)] lãnh nhận, hứng chịu, thụ hưởng.
Việt
văn:
(pc 67) việc làm rồi khổ tâm mặt nhuốm lệ, khóc than lãnh chịu quả dị thục.
Chuyển văn:
Yaṃ katvā anutappati yassa vipākaṃ paṭisevati assumukho
rodaṃ, taṃ kammaṃ kataṃ na sādhu
Sau khi làm
việc gì mà bị ray rức, lãnh chịu hậu quả vừa khóc than, mặt
đầy nước mắt, thì việc làm ấy là không tốt.
Lý giải:
Bài kệ nầy đức Phật dạy bằng cách nào để ta biết được là
hành vi xấu.
Có hai cách để nhận biết hành vi xấu, một là xem hiệu ứng
hành động, hai là xem hậu quả hành động.
Việc làm nào sau khi làm tâm bị ray rức nóng nảy, đó là hiệu
ứng hành động; Nên biết việc ấy là hành vi xấu.
Việc làm nào sau khi làm nhận lãnh quả dị thục phải khóc
than, nước mắt đầy mặt, đó là hậu quả hành động; Nên biết
việc ấy là hành vi xấu.
Hành vi xấu có thể xảy ra với một trong hai sự kiện ấy; Đôi
khi thực hiện một hành vi xấu chỉ xảy ra hiệu ứng hành động,
khiến tâm buồn phiền ray rức; Đôi khi thực hiện một hành vi
xấu không bị ray rức mà chỉ bị hậu quả hành động là ác
nghiệp chịu quả dị thục đắng cay; Cũng có những trường hợp
hành vi xấu đã thực hiện đem lại cả hai tác động, tâm bị ray
rức và lãnh chịu quả đắng cay.
V. Phẩm
Người
Ngu_ Kệ số 9
(dhp 68)
Duyên sự:
Bài kệ nầy được đức Phật thuyết khi Ngài trú tại chùa Veḷuvana,
nhân
câu chuyện người thợ tràng hoa tên Sumana.
Trong thành Rājagaha
có
người chuyên làm tràng hoa tên Sumana, hằng ngày ông có
trách nhiệm cung cấp cho vua Bimbisāra
các
loại hoa tươi.
Một hôm, ông Sumana mang hoa đến hoàng cung. Sáng hôm ấy đức
Phật cùng đại chúng tỳ kheo đi vào thành khất thực, ông
Sumana đang trên đường đi vừa nhìn thấy đoàn tăng lữ khất
thực, dẫn đầu là đức Phật với phong thái trang nghiêm toả
sáng, tướng hảo quang minh, ông Sumana phát tâm trong sạch,
hoan hỷ với đức Phật, ông ta muốn cúng dường bông hoa đến
đức Phật.
Ông Sumana nghĩ: “Hoa nầy để tiến dâng Nhà vua, nếu hôm nay
ta không đem hoa đến ắt hẵn vua sẽ thịnh nộ mà giết chết ta;
Tuy nhiên, cúng dường đến đức Thế Tôn ta sẽ được an lạc hạnh
phúc lâu dài, dù phải chết ta cũng mãn nguyện”. Nghĩ xong
ông ta đảnh lễ dưới chân bậc đạo sư và cúng dường Ngài tám
vòng hoa lài tươi thắm, ông tung những vòng hoa ấy lên hư
không, các vòng hoa tự kết lại thành tán lọng che trên đầu
đức Thế Tôn, và lơ lững bay theo khi Ngài cất bước, toàn
thân đức Phật toả sáng hào quang thù diệu.
Mục kích cảnh tượng nầy, dân chúng reo vang trong niềm hoan
hỷ, riêng ông Sumana phát sanh phỉ lạc khắp châu thân, ông
cất bước theo sau đức Phật một đổi rồi đảnh lễ Ngài từ biệt
trở về nhà.
Bà vợ của ông nghe ông thuật lại sự việc, sợ bị vạ lây nên
đã bỏ ông mà đi, và vào triều tâu với đức vua ly dị chồng.
Vua Bimbisāra
lúc
ấy là vị sơ quả, kính tin tam Bảo, nghe tấu
xong bèn giả vờ thịnh nộ liền cho mời ông Sumana vào triều.
Đức vua hỏi chuyện, ông Sumana vào triều. Đức vua hỏi
chuyện, Ông Sumana thành thật khai rõ chuyện cúng dường hoa
đến đức Phật.
Nhà vua không giận mà trái lại hoan hỷ và ban thưởng cho ông
Sumana nhiều vàng bạc châu báu, nhiều tôi trai tớ gái và
phóng thích tám cung nữ về làm vợ trưởng giả Sumana.
Chiều hôm đó, chư tỳ kheo hội họp bàn về sự hy sinh tính
mạng để cúng dường Phật nên ông Sumana phút chốc hưởng vinh
hạnh.
Đức Phật ngự đến giảng đường được các tỳ kheo trình bạch đề
tài bàn luận, đức Thế tôn thuyết pháp cho hội chúng và Ngài
kết luận với bài kệ: “Tañca
kammaṃ kataṃ sādhu … vipākaṃ paṭisevati”.
Chư tỳ kheo hoan hỷ tín thọ lời dạy của đức Thế tôn.
Chánh văn:
(dhp
68) yaṃ katvā n’ānutappati yassa patīto sumano vipākaṃ paṭisevati.
Thích văn: n’ānutappati [hợp âm na anutappati] patīto [chủ cách số ít nam tính của tính từ patīta (quá khứ phân từ của động từ pacceti)] được vui vẻ, được hân hoan. sumano [chủ cách số ít nam tính của tính từ sumana (su + mana)] thích ý, đẹp lòng.
Việt
văn:
(pc 68) làm rồi không khổ tâm được hoan hỷ, thích ý hưởng thụ quả dị thục.
Chuyển văn:
Yaṃ
katvā anutappati yassa vipākaṃ paṭisevati patīto sumano, taṃ
kammaṃ kataṃ sādhu.
Sau khi làm
việc gì mà không bị ray rức, hưởng quả báo hân hoan thích ý,
thì việc đã làm ấy là tốt.
Lý giải:
Bài kệ nầy đức Phật dạy có hai cách để nhận biết là việc làm
tốt. Ý nghĩa ngược lại với bài kệ pháp cú 67.
Một việc làm tốt là có hiệu ứng hành động sau khi làm việc
ấy mà tâm không bị ray rức ân hận.
Một việc làm tốt có hậu quả hành động là hưởng quả dị thục
vui vẻ, tâm hân hoan.
Có những trường hợp như: Hành động hiện tại khổ tương lai
quả báo lạc, và hành động hiện tại lạc tương lai quả báo
cũng lạc ..v.v..
Điều nầy nên hiểu là một người khi đang thực hiện điều thiện
cũng có thể bị khổ do thời tiết khắc nghiệt hoặc khổ do thân
đau bệnh hoặc khổ do người khác đánh đập … không phải làm
thiện rồi khổ tâm ray rức. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |