|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 03 tháng 09, 2023 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XIII. PHẨM ĐỜI (Lokavagga) - Kệ số 11 (dhp 177)
Duyên sự:
Bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Jetavana, thành
Sāvatthi, do nhân vua Pasenadi làm cuộc đại thí vô song
(asadisadāna).
Tương truyền, vua Pasenadi và dân chúng, thành Sāvatthi
tranh nhau làm phước cúng dường đến đức Phật và chư Tăng.
Dân chúng mục kích thấy vua tổ chức lễ cúng dường long trọng
chừng ấy, họ không chịu thua đã cùng nhau góp sức tổ chức lễ
cúng dường trọng thể hơn vua. Nhà vua chứng kiến thấy vậy là
hôm sau tổ chức cúng dường trọng thể hơn dân chúng.
Cứ thế nhà vua và dân chúng cạnh tranh đến sáu lần. Dân
chúng chung tay góp sức tổ chức lễ nên không kém cạnh đức
vua.
Vua Pasenadi băn khoăn suy nghĩ tìm cách gì để cuộc lễ cúng
dường của Nhà vua trọng thể hơn thần dân.
Hoàng hậu Mallikā thấy vua đăm chiêu nghĩ ngợi mới hỏi duyên
cớ. Đức Vua tâm sự với hoàng hậu.
Hoàng hậu liền tham mưu cho đức vua tổ chức lễ cúng dường
đến đức Phật và năm trăm vị tỳ kheo với sự hoành tráng mà
dân chúng không thể chạy đua được.
Ngoài các món thức ăn thượng vị, đức vua cho sắp đặt mười
chiếc thuyền vàng ở giữa nơi hành lễ được đổ đầy bột trầm
hương để toả ra mùi thơm, bảo toạ đức Phật và chư tỳ kheo
ngồi bằng vàng ròng, bố trí một vương tượng quí cầm chiếc
lọng hai tán che cho đức Phật, 500 con voi chiến khác mỗi
con cầm lọng, một tán che cho 500 vị tỳ kheo.
Lễ cúng dường như thế diễn ra trong bảy ngày, một ngày đức
Vua đã tiêu hết một trăm bốn chục triệu tiền vàng (14 koṭi).
Đức vua Pasenadi có hai vị cố vấn đại thần là Kāḷa và Juṇha.
Quan đại thần Kāḷa thấy vua chi ra tài sản lớn để cúng dường
đức Phật và tăng chúng thì bất mãn, nghĩ rằng: “Sao nhà vua
lại phung phí tài sản lớn như vật để cúng dường các vị sa
môn nầy, các sa môn chỉ ăn rồi ngủ thôi. Ngân khố hoàng gia
sẽ khánh tận, hoàng triều sẽ suy vong mất”. Đại thần Kāḷa
không có niềm tin tam bảo nên đã suy nghĩ cạn cợt như thế.
Riêng Quan đại thần Juṇha là người tín thành Phật Pháp nên
thấy vua làm phước lớn như vậy thì hoan hỷ, nghĩ rằng: “Ôi!
Sự bố thí của vua là thiện thí, là thù diệu thí. Ngoài đức
vua, chắc chắn không ai có thể bố thí được như vậy. Ta hãy
tuỳ hỷ việc bố thí nầy.
Đức Phật đọc được tư tưởng hai vị đại thần ấy, Ngài suy xét
nếu bây giờ Ngài thuyết pháp tán thán cuộc đại thí cúng
dường của nhà vua thì đại thần Kāḷa sẽ tức tối vỡ tim chết.
Do đó, vì lòng bi mẫn với chúng sanh nên đức Phật sau khi đã
thọ thực xong Ngài chỉ nói lên bốn bài kệ tuỳ hỷ rồi đứng
dậy cùng tăng chúng đi về tịnh xá Jetavana.
Vua Pasenadi buồn bã, nghĩ rằng: “có lẽ ta đã làm gì tắc
trách trong cuộc lễ cúng dường, nên chi đức Thế Tôn không
thuyết pháp tán thán công đức cúng dường mà chỉ nói pháp với
bốn kệ ngôn ngắn thôi. Ta sẽ đến chùa hỏi đức Thế Tôn”.
Đức vua đi đến chùa Jetavana, vào đảnh lễ đức Phật và bạch
hỏi:
“Bạch Thế Tôn, có phải trẫm đã cúng dường lễ phẩm bất xứng,
không thanh tịnh chăng? Nên đức Thế Tôn không tán thán công
đức đại thí mà chỉ thuyết bốn kệ ngôn ngắn thôi”.
“Này đại vương, đại vương đã làm công đức đại thí không có
cuộc thí nào sáng bằng. Trong thời chư Phật quá khứ mỗi đời
Phật chỉ có một lần vô song thí như thế thôi. Vô song thí mà
đại vương đã làm lẽ ra phải dược tán dương công đức xứng
đáng nhưng vì trong hội chúng của đại vương có người tín tâm
tuỳ hỷ, có người không tín tâm lại bất mãn, nếu Như Lai tán
thán cuộc đại thí ấy thì kẻ không tuỳ hỷ sẽ tức mà chết, nên
Như Lai chỉ thuyết chúc phúc ngắn thôi”.
Rồi đức Phật thuật lại hai ý nghĩ của hai vị đại thần Kāḷa
và Juṇha cho vua Pasenadi nghe.
Đức vua nghe xong hồi triều, truyền gọi quan đại thần Kāḷa
đến hỏi: “có phả khanh thấy trẫm bố thí cúng dường hao tốn
như thế, khanh có ý nghĩ bất mãn chăng?”_ “Thưa đúng vậy,
tâu đại vương”.
“Ta và hoàng tộc đâu có lấy tài sản của khanh hay của gia
tộc khanh để cúng dường đức Phật, tại sao khanh phẫn nộ bất
mãn với việc làm của ta? Khanh hãy đi ra khỏi vương quốc của
trẫm ngay lập tức!”
Sau khi trục xuất đại thần Kāḷa, vua cho với đại thần Juṇha
đến phán hỏi:
“Nghe nói khanh có ý nghĩ hoan hỷ với việc cúng dường của
trẫm phải chăng?”
“Thưa đúng vậy, tâu đại vương!”
“Lành thay! Lành thay! Trẫm rất hài lòng về khanh. Trẫm sẽ
ban cho khanh ngôi vị quốc vương trong bảy ngày, khanh có
thể xuất của kho ra làm thí hạnh như trẫm đã làm”.
Vua Pasenadi giao quyền cho vị đại thần Juṇha rồi đi đến
chùa đảnh lễ đức Phật và trình bạch việc xử lý hai vị đại
thần.
Đức Thế Tôn phán: “Thưa đại vương, kẻ ngu keo bẩn nên không
hoan hỷ với việc bố thí của người khác, còn bậc trí thì vui
theo thí hạnh của người khác nên được an vui đời nầy và đời
sau”. Rồi đức Phật đã nói lên bài kệ: Na ve kadariyā
devalokaṃ vajanti…v.v… Tene va so hoti sukhī paratthā’ ti.
Dứt pháp thoại quan đại thần Juṇha chứng quả dự lưu, và pháp
thoại cũng đem lại lợi ích cho đại chúng.
Đại thần Juṇha đã thiết lễ cúng dường đến Đức Phật và tăng
chúng trọn bảy ngày như vua Pasenadi đã làm.
Chính văn: (dhp 177)
11. Na ve
kadariyā devalokaṃ vajanti Thích văn:
Kadariyā
[chủ cách, số nhiều, nam tính, danh tính từ
kadariya] những kẻ keo
kiết, những người bủn xỉn, những người bỏn xẻn. Việt văn: (pc 177)
11. Keo kiết không sanh thiên
Chuyển văn:
Kadariyā ve devalokaṃ na vajanti bālā have dānaṃ
nappasaṃsanti, dhīro ca dānaṃ anumodamāno so tena eva
parattha sukhī hoti.
Những kẻ keo kiết chắn chắn không đi đến cõi trời, kẻ ngu
không tán thán hạnh bố thí; người trí thì hoan hỷ việc bố
thí, chính nhờ đó người ấy về sau được an vui.
Lý giải:
Từ ngữ Kadariya đồng nghĩa với từ macchariya và từ macchera,
sự bỏn xẻn, sự keo kiết, sự bủn xỉn…
Gọi là kẻ ngu (bāla) là người không có trí tuệ hiểu biết lợi
ích đời nầy và đời sau. Một trong những đặc tính của kẻ ngu
là keo kiết, bủn xỉn.
Kẻ ngu không thích cho ra, không thích san sẻ, không thích
bố thí, chỉ biết bo bo tài sản của mình, sống ích kỷ.
Đã vậy, kẻ ngu cũng không thích ai bố thí,
thấy người khác làm việc bố thí nó ghét và không bao
giờ khen ngợi tán thán, động viên người khác bố thí.
Vì cớ sao? Kẻ ngu không thấy được sự lợi ích của việc bố thí
là nhân an vui đời hiện tại và là nhân tạo tài sản thiên
nhơn đời sau.
Do kẻ ngu không thích bố thí, không vui theo sự bố thí của
người khác làm nên kẻ ngu không đi đến cõi trời, sanh lại
làm người nó bị nghèo đói.
Trái lại, người trí là người hiểu biết lợi ích đời nầy và
đời sau, do đó một trong những thiện pháp mà người trí thích
làm là hạnh bố thí, thích san sẻ những gì mình có; chẳng
những thế, người trí thấy người khác bố thí thì vui thích
theo việc làm ấy. Chính bởi đức tính nầy mà người trí được
an vui đời nầy và an vui đời sau. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |