|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 09 tháng 09, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 143. BÃI BỂ NƯƠNG DÂU- Kinh Núi Vepulla (Vepullapabbatasuttaṃ).
Thời gian,
thường là nguyên do, khiến chúng sanh bị che khuất những đổi
thay, vì quá lâu để nhớ biết. Đức Phật là Phật, nên Ngài
biết rõ núi từng là biển, biển từng là núi. Một điều tương
đối quen thuộc, trong học thuật ngày nay nhưng thuở xưa là
điều không tưởng. Vì Phật là Phật, nên Ngài biết và nói rõ,
những sự tăng giảm của tuổi thọ loài người, những thay đổi
của nhân danh, địa danh. Phật cũng nói rõ về danh tánh, tộc
tánh và những chi tiết về chư Phật quá khứ. Tất cả đều mang
chung một ý nghĩa, vạn hữu vốn vô thường. Tất cả cái tốt,
cái xấu, cái vô tri rồi sẽ tan biến theo thời gian vô tận.
Và tất cả đều nên nhàm chán, xả ly, và giải thoát.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti.
‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā
etadavoca –
Một thuở Đức Thế Tôn trú tại núi Gijjhakūta (Linh Thứu),
Rājagaha (Vương Xá),
Tại đấy Đức Thế Tôn gọi các
Tỳ
Khưu:
“Này chư Tỳ
Khưu”.
Chư
Tỳ
Khưu
trả lời: “Dạ, bạch Đức Thế Tôn”. Rồi Đức Thế Tôn dạy như
sau:
‘‘Anamataggoyaṃ, bhikkhave, saṃsāro. Pubbā koṭi na paññāyati
avijjānīvaraṇānaṃ sattānaṃ taṇhāsaṃyojanānaṃ sandhāvataṃ
saṃsarataṃ. Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, imassa vepullassa
pabbatassa ‘pācīnavaṃso’tveva samaññā udapādi. Tena kho
pana, bhikkhave, samayena manussānaṃ ‘tivarā’tveva samaññā
udapādi. Tivarānaṃ, bhikkhave, manussānaṃ cattārīsa
vassasahassāni āyuppamāṇaṃ ahosi. Tivarā, bhikkhave, manussā
pācīnavaṃsaṃ pabbataṃ catūhena ārohanti, catūhena orohanti.
Tena kho pana, bhikkhave, samayena kakusandho bhagavā arahaṃ
sammāsambuddho loke uppanno hoti. Kakusandhassa, bhikkhave,
bhagavato arahato sammāsambuddhassa vidhurasañjīvaṃ nāma
sāvakayugaṃ ahosi aggaṃ bhaddayugaṃ. Passatha, bhikkhave, sā
cevimassa pabbatassa samaññā antarahitā, te ca manussā
kālaṅkatā, so ca bhagavā parinibbuto. Evaṃ aniccā,
bhikkhave, saṅkhārā; evaṃ addhuvā, bhikkhave, saṅkhārā; evaṃ
anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā. Yāvañcidaṃ, bhikkhave,
alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṃ, alaṃ virajjituṃ, alaṃ
vimuccituṃ.
-- Này chư Tỳ Khưu, cuộc trầm luân là vô thủy. Không thể nêu rõ khởi điểm đối
với luân hồi sanh tử đối với chúng sanh bị vô
minh bao phủ, ái dục buộc ràng. -- Này chư Tỳ Khưu, một thời xa xưa, núi Vepulla này, được biết với tên là
Pācīnavaṃsa. Bấy giờ, dân chúng xứ này được gọi là Tivāra.
Tuổi thọ dân chúng Tivāra đến 40.000 năm. Người Tivāra leo
núi Pācīnavaṃsa, mất bốn ngày lên và bốn ngày xuống.
Bấy giờ Đức Thế Tôn Kakusandha, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng
Giác xuất hiện ở đời. Hai vị thượng thủ thinh văn của Ngài
là Vidhura và Sajīva.
Này chư Tỳ Khưu, hãy
nhìn xem, tên của hòn núi không còn. Dân chúng đã mất hết.
Đức Thế Tôn đã viên tịch niết bàn. Pháp hữu vi vô thường là
thế, bất ổn là thế, bất an là thế. Quá đủ để nhàm chán, quá đủ để buông bỏ, quá đủ để giải
thoát khỏi pháp hữu vi.
‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, imassa vepullassa pabbatassa
‘vaṅkako’tveva samaññā udapādi. Tena kho pana, bhikkhave,
samayena manussānaṃ ‘rohitassā’tveva samaññā udapādi.
Rohitassānaṃ, bhikkhave, manussānaṃ tiṃsavassasahassāni
āyuppamāṇaṃ ahosi. Rohitassā, bhikkhave, manussā vaṅkakaṃ
pabbataṃ tīhena ārohanti, tīhena orohanti. Tena kho pana,
bhikkhave, samayena koṇāgamano bhagavā arahaṃ sammāsambuddho
loke uppanno hoti. Koṇāgamanassa, bhikkhave, bhagavato
arahato sammāsambuddhassa bhiyyosuttaraṃ nāma sāvakayugaṃ
ahosi aggaṃ bhaddayugaṃ. Passatha, bhikkhave, sā cevimassa
pabbatassa samaññā antarahitā, te ca manussā kālaṅkatā, so
ca bhagavā parinibbuto. Evaṃ aniccā, bhikkhave,
saṅkhārā...pe... alaṃ vimuccituṃ.
-- Này chư Tỳ Khưu, một thời xa xưa, núi Vepulla này được
biết với tên là Vaṅkaka. Bấy giờ, dân chúng xứ này được gọi
là Rohitassa. Tuổi thọ dân chúng Rohitassa đến 30.000 năm.
Người Rohitassa leo núi Vaṅkaka, mất ba ngày lên và ba ngày
xuống.
Bấy giờ Đức Thế Tôn Koṇāgamana , bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng
Giác xuất hiện ở đời. Hai vị thượng thủ thinh văn của Ngài
là Bhīyya và Suttara.
Này chư Tỳ Khưu, hãy
nhìn xem, tên của hòn núi không còn. Dân chúng đã mất hết.
Đức Thế Tôn đã viên tịch niết bàn. Pháp hữu vi vô thường là
thế, bất ổn là thế, bất an là thế. Quá đủ để nhàm chán, quá đủ để buông bỏ, quá đủ để giải
thoát khỏi pháp hữu vi.
‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, imassa vepullassa pabbatassa
‘supasso’tveva samaññā udapādi. Tena kho pana, bhikkhave,
samayena manussānaṃ ‘suppiyā’tveva samaññā udapādi.
Suppiyānaṃ, bhikkhave, manussānaṃ vīsativassasahassāni
āyuppamāṇaṃ ahosi. Suppiyā, bhikkhave, manussā supassaṃ
pabbataṃ dvīhena ārohanti, dvīhena orohanti. Tena kho pana,
bhikkhave, samayena kassapo bhagavā arahaṃ sammāsambuddho
loke uppanno hoti. Kassapassa, bhikkhave, bhagavato arahato
sammāsambuddhassa tissabhāradvājaṃ nāma sāvakayugaṃ ahosi
aggaṃ bhaddayugaṃ. Passatha, bhikkhave, sā cevimassa
pabbatassa samaññā antarahitā, te ca manussā kālaṅkatā, so
ca bhagavā parinibbuto. Evaṃ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā;
evaṃ addhuvā, bhikkhave, saṅkhārā...pe... alaṃ vimuccituṃ.
-- Này chư Tỳ Khưu, một thời xa
xưa, núi Vepulla này được biết với tên là Supassa. Bấy giờ,
dân chúng xứ này được gọi là Suppiya. Tuổi thọ dân chúng Suppiya
đến 20.000 năm. Người Suppiya leo núi Suppassa, mất hai ngày
lên và hai ngày xuống.
Bấy giờ Đức Thế Tôn Kassapa
, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Hai vị
thượng thủ thinh văn của Ngài là Tissa và Bhāradvāja.
Này chư Tỳ Khưu,
hãy nhìn xem, tên của hòn núi không còn. Dân chúng đã
mất hết. Đức Thế Tôn đã viên tịch niết bàn. Pháp hữu vi vô
thường là thế, bất ổn là thế, bất an là thế. Quá đủ để nhàm
chán, quá đủ để buông bỏ, quá đủ để giải thoát khỏi pháp hữu
vi.
‘‘Etarahi kho pana, bhikkhave, imassa vepullassa pabbatassa
‘vepullo’tveva samaññā udapādi. Etarahi kho pana, bhikkhave,
imesaṃ manussānaṃ ‘māgadhakā’tveva samaññā udapādi.
Māgadhakānaṃ, bhikkhave, manussānaṃ appakaṃ āyuppamāṇaṃ
parittaṃ lahukaṃ; yo ciraṃ jīvati so vassasataṃ appaṃ vā
bhiyyo. Māgadhakā, bhikkhave, manussā vepullaṃ pabbataṃ
muhuttena ārohanti muhuttena orohanti. Etarahi kho panāhaṃ,
bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho loke uppanno. Mayhaṃ kho
pana, bhikkhave, sāriputtamoggallānaṃ nāma sāvakayugaṃ aggaṃ
bhaddayugaṃ. Bhavissati, bhikkhave, so samayo yā
ayañcevimassa pabbatassa samaññā antaradhāyissati, ime ca
manussā kālaṃ karissanti, ahañca parinibbāyissāmi. Evaṃ
aniccā, bhikkhave, saṅkhārā; evaṃ addhuvā, bhikkhave,
saṅkhārā; evaṃ anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā. Yāvañcidaṃ,
bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṃ, alaṃ
virajjituṃ, alaṃ vimuccitu’’nti.
-- Này chư Tỳ Khưu, hiện nay, núi Vepulla này được biết với
tên là Vepulla. Bây giờ, dân chúng xứ này được gọi
Magadhaka. Tuổi thọ dân chúng Magadhaka ngắn ngủi ít ỏi,
nhiều lắm trên dưới một trăm năm. Người Magadhaka leo núi
Vepulla, trong vòng một giờ đi lên và một giờ đi xuống.
Hiện tại Như Lai , bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở
đời. Hai vị thượng thủ thinh văn của Ta là Sāriputta và
Moggallāna.
Này chư Tỳ Khưu, rồi sẽ đến lúc tên của hòn núi không còn.
Dân chúng cũng mất hết. Ta cũng sẽ viên tịch niết bàn. Pháp
hữu vi vô thường là thế, bất ổn là thế, bất an là thế. Quá
đủ để nhàm chán, quá đủ để buông bỏ, quá đủ để giải thoát
khỏi pháp hữu vi.
Chú Thích Vương
Xá trong bài kinh này là kinh đô Vương Xá. Không nên nhầm
lẫn với thành Vương Xá. Chùa Trúc Lâm toạ lạc ở kinh đô
Vương Xá, cách thành Vương Xá không xa. Kinh đô Vương Xá,
gần như được bao bọc bởi pháo đài thiên nhiên là rặng núi
Magadha. Trong rặng núi này, có ngọn Vepulla nằm ở phía bắc
ngọn đồi Linh Thứu. (Linh Thứu chỉ là một ngọn đồi nhỏ trong
rặng núi, chứ không phải là ngọn núi lớn) Sớ
giải ghi rằng, từ sau khi Đức Phật Kakusandha viên tịch, có
thời gian tuổi thọ nhân loại xuống thấp nhất khoảng 10 tuổi,
sau đó tăng trở lại đến mức độ asaṅkheyya, rồi sụt giảm đến
30 ngàn năm, thì Đức Phật Koṇāgamana xuất hiện. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |