|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 26 tháng 09, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 149...- Kinh Ovāda (Ovādasuttaṃ).
……
Rājagahe
veḷuvane. Atha kho āyasmā mahākassapo yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ
mahākassapaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘ovada, kassapa, bhikkhū;
karohi, kassapa, bhikkhūnaṃ dhammiṃ kathaṃ. Ahaṃ vā,
kassapa, bhikkhū ovadeyyaṃ tvaṃ vā; ahaṃ vā bhikkhūnaṃ
dhammiṃ kathaṃ kareyyaṃ tvaṃ vā’’ti.
‘‘Dubbacā kho, bhante, etarahi bhikkhū, dovacassakaraṇehi
dhammehi samannāgatā, akkhamā, appadakkhiṇaggāhino
anusāsaniṃ. Idhāhaṃ, bhante, addasaṃ bhaṇḍañca nāma bhikkhuṃ
anuruddhassa saddhivihāriṃ aññamaññaṃ sutena accāvadante –
‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṃ bhāsissati, ko sundarataraṃ
bhāsissati, ko cirataraṃ bhāsissatī’’’ti.
... Tại Rājagaha, Veḷuvana...
Tôn giả Kassapa đi đến Thế Tôn...
Thế Tôn nói với Tôn giả Mahā Kassapa đang ngồi một bên:
-- Này Kassapa, hãy giáo giới Tỷ-kheo! Này Kassapa, hãy nói
pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc Ông phải
giáo giới các Tỷ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho
các Tỷ-kheo!
-- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở
trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ
không kính trọng lời giáo giới. Bạch Thế Tôn, ở đây, con
thấy Tỷ-kheo Bhanda, đệ tử của Ānanda, và Tỷ-kheo Abhinjika,
đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau: "Hãy đến, này
Tỷ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ
nói dài hơn?".
Atha kho bhagavā aññataraṃ bhikkhuṃ āmantesi – ‘‘ehi tvaṃ,
bhikkhu, mama vacanena bhaṇḍañca bhikkhuṃ ānandassa
saddhivihāriṃ abhijikañca bhikkhuṃ anuruddhassa
saddhivihāriṃ āmantehi – ‘satthā āyasmante āmantetī’’’ti.
‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yena
te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca
– ‘‘satthā āyasmante āmantetī’’ti.
‘‘Evamāvuso’’ti kho te bhikkhū tassa bhikkhuno paṭissutvā
yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Ekamantaṃ nisinne kho te
bhikkhū bhagavā etadavoca – ‘‘saccaṃ kira tumhe, bhikkhave,
aññamaññaṃ sutena accāvadatha – ‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṃ
bhāsissati, ko sundarataraṃ bhāsissati, ko cirataraṃ
bhāsissatī’’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Kiṃ nu kho me tumhe,
bhikkhave, evaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānātha – ‘etha tumhe,
bhikkhave, aññamaññaṃ sutena accāvadatha – ehi, bhikkhu, ko
bahutaraṃ bhāsissati, ko sundarataraṃ bhāsissati, ko
cirataraṃ bhāsissatī’’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘No ce
kira me tumhe, bhikkhave, evaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānātha,
atha kiṃ carahi tumhe, moghapurisā, kiṃ jānantā kiṃ passantā
evaṃ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṃ
sutena accāvadatha – ‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṃ bhāsissati,
ko sundarataraṃ bhāsissati, ko cirataraṃ bhāsissatī’’’ti.
Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
-- Hãy đến, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta nói với Tỷ-kheo
Bhanda, đệ tử của Ānanda, và Tỷ-kheo Abhinjika, đệ tử của
Anuruddha: "Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả".
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến các Tỷ-kheo kia; sau khi
đến, nói với họ:
-- Bậc Ðạo Sư gọi chư Tôn giả.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo kia vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi
đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:
-- Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, các Ông nói với nhau như
sau: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai
là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?"
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có biết là Ta đã thuyết pháp như
vầy: "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy cùng nhau nói như sau:
'Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn?. Ai là
người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn?'
chăng?"
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông được biết là Ta không có
giảng như vậy, thời vì sao, này các Người ngu kia, do biết
cái gì, thấy cái gì, các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật
khéo giảng này, các Ông lại nói với nhau: "Hãy đến, này
Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói
tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?" như vậy ?
Atha kho te bhikkhū bhagavato pādesu sirasā nipatitvā
bhagavantaṃ etadavocuṃ – ‘‘accayo no, bhante, accagamā,
yathābāle yathāmūḷhe yathāakusale, ye mayaṃ evaṃ svākkhāte
dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṃ sutena accāvadimha
– ‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṃ bhāsissati, ko sundarataraṃ
bhāsissati, ko cirataraṃ bhāsissatī’ti. Tesaṃ no, bhante,
bhagavā accayaṃ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṃ saṃvarāyā’’ti.
‘‘Taggha tumhe, bhikkhave, accayo accagamā yathābāle
yathāmūḷhe yathāakusale, ye tumhe evaṃ svākkhāte
dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṃ sutena accāvadittha
– ‘ehi, bhikkhu, ko bahutaraṃ bhāsissati, ko sundarataraṃ
bhāsissati, ko cirataraṃ bhāsissatī’ti. Yato ca kho tumhe,
bhikkhave, accayaṃ accayato disvā yathādhammaṃ paṭikarotha,
taṃ vo mayaṃ paṭiggaṇhāma. Vuddhi hesā, bhikkhave, ariyassa
vinaye yo accayaṃ accayato disvā yathādhammaṃ paṭikaroti
āyatiñca saṃvaraṃ āpajjatī’’ti.
Rồi các Tỷ-kheo ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế
Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, chúng con đã phạm tội, ngu đần như vậy, si
mê như vậy, bất thiện như vậy; vì rằng chúng con đã xuất gia
trong Pháp và Luật khéo nói như vậy, chúng con lại nói với
nhau: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn?
Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài
hơn?". Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận tội lỗi ấy của
chúng con là tội lỗi, để chúng con ngăn ngừa trong tương
lai.
-- Thật sự, này các Tỷ-kheo, các Ông đã phạm tội, ngu đần
như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy! Vì rằng các Ông
đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói này, các Ông đã nói
với nhau: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều
hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài
hơn?". Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, các Ông đã thấy tội lỗi
là tội lỗi, như pháp sám hối, Ta chấp nhận tội lỗi ấy cho
các Ông!
Này các Tỷ-kheo, như vậy luật của bậc Thánh được tăng
trưởng, khi nào có người sau khi thấy tội lỗi là tội lỗi,
như pháp sám hối để ngăn ngừa trong tương lai!
Chú
Thích
……. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |