|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 27 tháng 09, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 150...- Kinh Giáo Giới II (Dutiyaovādasuttaṃ).
……
Rājagahe viharati veḷuvane. Atha kho āyasmā mahākassapo yena
bhagavā tenupasaṅkami...pe... ekamantaṃ nisinnaṃ kho
āyasmantaṃ mahākassapaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘ovada,
kassapa, bhikkhū; karohi, kassapa, bhikkhūnaṃ dhammiṃ
kathaṃ. Ahaṃ vā, kassapa, bhikkhū ovadeyyaṃ tvaṃ vā; ahaṃ vā
bhikkhūnaṃ dhammiṃ kathaṃ kareyyaṃ tvaṃ vā’’ti.
... Trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veḷuvana (Trúc Lâm).
Rồi Tôn giả Mahā Kassapa đi đến Thế Tôn...
Thế Tôn nói với Tôn giả Mahā Kassapa đang ngồi một bên:
-- Này Kassapa hãy giáo giới các Tỷ-kheo! Hãy thuyết pháp
thoại cho các Tỷ-kheo! Ta hay Ông hãy giáo giới các Tỷ-kheo!
Ông hay Ta hãy thuyết pháp thoại cho các Tỷ-kheo!
‘‘Dubbacā kho, bhante, etarahi bhikkhū, dovacassakaraṇehi
dhammehi samannāgatā akkhamā appadakkhiṇaggāhino anusāsaniṃ.
Yassa kassaci, bhante, saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī
natthi kusalesu dhammesu, ottappaṃ natthi kusalesu dhammesu,
vīriyaṃ natthi kusalesu dhammesu, paññā natthi kusalesu
dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva
pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
-- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở
trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn, họ
không kính trọng lời giáo giới!
Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp,
không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối
với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không
có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm
hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp,
không phải là sự tăng trưởng!
‘‘Seyyathāpi, bhante, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso
vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena, hāyati maṇḍalena, hāyati
ābhāya, hāyati ārohapariṇāhena. Evameva kho, bhante, yassa
kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu...pe... hirī
natthi... ottappaṃ natthi ... vīriyaṃ natthi... paññā
natthi... kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā
āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuddhi.
Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ tối trời, dầu
là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn
giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn
giảm dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng
tin đối vói thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện
pháp, không biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn
đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; với
người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối
với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!
‘‘‘Assaddho purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṃ;
‘ahiriko purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṃ; ‘anottappī
purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṃ; ‘kusīto
purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṃ; ‘duppañño
purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṃ; ‘kodhano
purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṃ; ‘upanāhī
purisapuggalo’ti, bhante, parihānametaṃ; ‘na santi bhikkhū
ovādakā’ti, bhante, parihānametaṃ.
Người không có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn
giảm. Người không biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là
tổn giảm. Người không biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là
tổn giảm. Người lười biếng, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là
tổn giảm. Người ác trí tuệ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là
tổn giảm. Người phẫn nộ... Người sân hận, bạch Thế Tôn, tức
có nghĩa là tổn giảm. Nếu vị Tỷ-kheo không được giáo giới,
bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.
‘‘Yassa kassaci, bhante, saddhā atthi kusalesu dhammesu,
hirī atthi kusalesu dhammesu, ottappaṃ atthi kusalesu
dhammesu, vīriyaṃ atthi kusalesu dhammesu, paññā atthi
kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati,
vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
Với ai, bạch Thế Tôn, có lòng tin đối với thiện pháp, có
biết thẹn đối với thiện pháp, có biết sợ đối với thiện pháp,
có tinh tấn đối với thiện pháp, có trí tuệ đối với thiện
pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi sự tăng
trưởng đối với thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
‘‘Seyyathāpi, bhante, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā
divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena, vaḍḍhati maṇḍalena,
vaḍḍhati ābhāya, vaḍḍhati ārohapariṇāhena. Evameva kho,
bhante, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu... hirī
atthi...pe... ottappaṃ atthi... vīriyaṃ atthi... paññā atthi
kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati,
vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ sáng trời, dầu
là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng
trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng
trưởng dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối
với thiện pháp, có biết thẹn...có biết sợ... có tinh tấn...
có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là
ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không
phải là tổn giảm.
‘‘‘Saddho purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṃ; ‘hirimā
purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṃ; ‘ottappī
purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṃ; ‘āraddhavīriyo
purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṃ; ‘paññavā
purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṃ; ‘akkodhano
purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṃ; ‘anupanāhī
purisapuggalo’ti, bhante, aparihānametaṃ; ‘santi bhikkhū
ovādakā’ti, bhante, aparihānameta’’nti.
Người có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn
giảm. Người có biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là
không tổn giảm. Người có biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa
là không tổn giảm. Người tinh cần, bạch Thế Tôn, tức có
nghĩa là không tổn giảm. Người không phẫn nộ, bạch Thế Tôn,
tức có nghĩa là không tổn giảm. Người không sân hận, bạch
Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có những Tỷ-kheo
được giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn
giảm.
‘‘Sādhu sādhu, kassapa. Yassa kassaci, kassapa, saddhā
natthi kusalesu dhammesu...pe... hirī natthi... ottappaṃ
natthi... vīriyaṃ natthi... paññā natthi kusalesu dhammesu
tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā
kusalesu dhammesu, no vuddhi.
-- Lành thay, lành thay, này Kassapa! Với ai, này Kassapa,
không có lòng tin đối với thiện pháp... không có biết
thẹn... không có biết sợ... không có tinh tấn... không có
trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là
ngày, chờ đợi là sự tổn giảm trong thiện pháp, không phải là
tăng trưởng.
‘‘Seyyathāpi, kassapa, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā
divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena... pe... hāyati
ārohapariṇāhena. Evameva kho, kassapa, yassa kassaci saddhā
natthi kusalesu dhammesu... pe... hirī natthi... ottappaṃ
natthi... vīriyaṃ natthi... paññā natthi kusalesu dhammesu
tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā
kusalesu dhammesu, no vuddhi. ‘Assaddho purisapuggalo’ti,
kassapa, parihānametaṃ; ahiriko...pe... anottappī...
kusīto... duppañño... kodhano... ‘upanāhī purisapuggalo’ti,
kassapa, parihānametaṃ; ‘na santi bhikkhū ovādakā’ti,
kassapa, parihānametaṃ.
Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ tối trời, dầu
là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn
giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, quỹ đạo nó đi tổn giảm dần.
Cũng vậy, này Kassapa, với ai không có lòng tin đối với
thiện pháp, không có biết thẹn... không có biết sợ... không
có tinh tấn... không có trí tuệ đối với thiện pháp; với
người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối
với thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng.
‘‘Yassa kassaci, kassapa, saddhā atthi kusalesu
dhammesu...pe... hirī atthi... ottappaṃ atthi... vīriyaṃ
atthi... paññā atthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā
divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu
dhammesu, no parihāni.
Người không có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn
giảm. Người không biết thẹn... Người không biết sợ... Người
biếng nhác... Người ác trí tuệ... Người phẫn nộ... Người sân
hận, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Không có Tỷ-kheo
được giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm.
Với ai, này Kassapa, có lòng tin đối với thiện pháp... có
biết thẹn... có biết sợ... có tinh tấn.. có trí tuệ đối với
thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự
tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.
‘‘Seyyathāpi, kassapa, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā
divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena, vaḍḍhati maṇḍalena,
vaḍḍhati ābhāya, vaḍḍhati ārohapariṇāhena. Evameva kho,
kassapa, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu hirī
atthi... ottappaṃ atthi... vīriyaṃ atthi... paññā atthi
kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati,
vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni.
Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ sáng trời, dầu
là đêm hay ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng
trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng
trưởng dần. Cũng vậy, này Kassapa, ai có lòng tin đối với
thiện pháp, có biết thẹn... có biết sợ... có tinh tấn... có
trí tuệ là sự tăng trưởng đối với thiện pháp; với người ấy,
dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện
pháp, không phải là sự tổn giảm.
‘‘‘Saddho purisapuggalo’ti, kassapa, aparihānametaṃ;
hirimā...pe... ottappī... āraddhavīriyo... paññavā...
akkodhano... ‘anupanāhī purisapuggalo’ti, kassapa,
aparihānametaṃ; ‘santi bhikkhū ovādakā’ti, kassapa,
aparihānameta’’nti.
Người có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn
giảm. Người biết thẹn... Người biết sợ... Người tinh tấn...
Người có trí tuệ... Người không phẫn nộ... Người không sân
hận, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm. Có Tỷ-kheo
được giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là không tổn giảm.
Chú
Thích
……. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |