|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 28 tháng 09, 2023 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XIV.Phẩm Phật Đà (Buddhavagga). Gồm 18 bài kệ với 9 duyên sự - Kệ số 10, 11, 12, 13, 14 (dhp 188, 189, 190, 191, 192)
Duyên sự:
Những bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Sāvatthi,
Jetavana. Thế Tôn đã ngự trên đồi cát thuyết pháp độ
Aggidatta, quan tế tự của vua Pasenadi.
Tương truyền, Aggidatta vốn là quan tế tự của tiên đế
Mahākosala. Khi tiên đế băng hà, thái tử Pasenadi nối ngôi.
Vua Pasenadi vẫn để cựu thần Aggidatta giữ chức vụ quan tế
tự và dành cho một sự kính trọng đặc biệt như vị quốc sư.
Quốc sư Aggidatta đã suy nghĩ: vị vua trẻ nầy rất kính trọng
ta, nhưng vua còn trẻ, ta đã già, khó làm hài lòng vua. Vậy
ta hãy cáo lão đi tu.
Quốc sư Aggidatta vào triều xin đức Vua cho phép về hưu đi
tu. Vua Pasenadi khẩn thỉnh Quốc sư ở lại, nhưng quốc sư vẫn
không đổi ý. Cuối cùng đức Vua cũng đành cho phép.
Quốc sư về nhà bố thí hết tài sản của mình rồi xuất gia làm
đạo sĩ, có 10 ngàn tuỳ tùng cũng xuất gia theo.
Đạo sĩ Aggidatta dạy cho các đệ tử tuỳ tùng hãy nương tựa
bái tế núi, rừng, đến chùa, cội cây, làm vậy sẽ thoát mọi
khổ đau.
Uy tín của đạo sĩ Aggidatta ảnh hưởng rộng rải, dân chúng ba
xứ lớn là Aṅga, Magadha và Kuru theo về rất đông; Họ hộ độ
cúng dường đoàn đạo sĩ ấy dồi dào.
Thời bấy giờ, đức Phật đã xuất hiện ở thế gian. Một ngày kia
vào rạng đông, Ngài dùng Phật nhản quán xét thế gian, thấy
được duyên lành đắc A la hán của đạo sĩ Aggidatta và đồ
chúng của ông. Đức Thế Tôn biết rõ trước phải tạo niềm tin
cho họ rồi Ngài mới đến thuyết pháp độ được.
Thế nên, vào buổi chiều hôm ấy, đức Phật cho gọi Trưởng lão
Mahāmoggallāna và phán dạy:
“Này Moggallāna, ngươi có thấy Bà la môn Aggidatta chăng?
Ông ta dạy chúng đệ tử thực hành phi đạo giải thoát. Ngươi
hãy đên đó trước nhiếp phục họ có niềm tin, rồi Như Lai sẽ
đến sau”.
Trưởng lảo Mahāmoggallāna vâng lệnh đức Phật, đi đến trú xứ
của đạo sĩ bà la môn Aggidatta.
Ở gần trú xứ Bà la môn Aggidatta có một đồi cát do những đệ
tử của ông theo lời thày dạy hể lúc khởi tà tư duy thì hãy
múc một thùng cát ở bờ sông đem về đổ một nơi đó, lâu ngày
đống cát lớn thành đồi cát. Chỗ ây có con mảng xà trú ngụ,
nó rất hung dữ và kịch độc.
Khi trưởng lão Mahāmoggallāna đến chỗ đạo sĩ Aggidatta xin
tá túc một đêm, vị đạo sĩ từ chối với lý do không có tịnh
thất trống. Trưởng lão mới hỏi chỗ đống cát kia có được
không?
Đạo sĩ bảo: “chỗ đó có con mãng xà vương rất hung hăng”.
Trưởng lão nói: “Hãy cho ta tở chỗ ấy!”
Đạo sĩ miễn cưởng cho: “Thế thì tuỳ ông!”
Trưởng lão đi đến đồi cát và ngồi xuống. Mãng xà vương dưới
đống cát bị động liền bò ra, thấy có người ngồi trên đống
cát chỗ của nó, nó hung hản phun khói độc toan hại mạng
trưởng lão. Trưởng lão dùng thần thông phun khói mạnh hơn để
áp chế luồng khói độc của mãng xà vương.
Mãng xà vương tức tối liền phun lửa đốt trưởng lão, thần
thông của trưởng lão mạnh hơn, Ngài nhập thiền hoả giới phun
lửa đốt thân mãng xà vương cháy như ngọn đuốc, sáng rực góc
trời.
Các đạo sĩ nửa đêm thấy vậy nghĩ rằng: vị sa môn đã bị mảng
xà vương hại chết rồi.
Trưởng lão Moggallāna dùng thần lực chinh phục đươc mãng xà
vương. Ngài ngôi lại nơi đống cát, mãng xà vương dùng thân
khoanh tròn đống cát và ngẩng đầu cao phùng mang lớn như tán
lọng che trên đầu Ngài.
Sáng ra, các đạo sĩ đi đến đống cát để xem trưởng lão chết
sống như thế nào; Họ thất trưởng lão đang ngồi tỉnh toạ trên
đống cát bình an vô sự có mãng xà vương quấn chung quanh chỗ
ngồi và phùng mang che trên đấu trưởng lão, họ phát tâm kính
phục chấp tay đảnh lễ trưởng lão và đồng thanh tán thán:
“Thật kỳ diệu thay là thần lực của sa môn. Ngài sa môn đã
thu phục được độc xà”.
Các đạo sĩ đang đứng vây quanh trưởng lão với lời ca tụng,
đức Thế Tôn ngự đến, trưởng lão Mahāmoggallāna trông thấy
đức Thế Tôn đang đi đến liền đứng lên đảnh lễ đón rước đức
Thế Tôn.
Các Đạo sĩ hỏi trưởng lão: Thưa Ngài, vị sa môn này còn cao
quí hơn Ngài nữa sao?
Trưởng lão đáp: Đúng thế! Vì Ngài là bậc Đạo sư của ta, ta
là đệ tử của Ngài.
Khi đức Thế Tôn đã an toạ trên đống cát, các vị đạo sĩ chấp
tay đảnh lễ và tán dương:
“Thần lực của vị đệ tử đã như thế thì còn nói gì là thần lực
của vị Đạo sư như Ngài!”
Đức Thế Tôn cho mời đạo sĩ Aggidatta đến và hỏi rằng:
“Này Aggidatta, ngươi đã giáo huấn chúng đệ tử của ngươi thế
nào?”
“Thưa Ngài Sa môn, tôi đã dạy bảo đồ chúng như sau: hãy
nương tựa núi, rừng, đền tháp, cội cây, làm vậy sẽ thoát mọi
khổ đau”.
“Này Aggidatta, đi đến nương tự nơi núi, rừng, đền tháp, cội
cây, làm vậy không thoát khỏi khổ đau được. Người nào nương
tựa Phật Pháp Tăng và chánh kiến mới thoát khỏi đau khổ”.
Nói xong đức Phật thuyết lên năm kệ ngôn: Bahuṃ ve saraṇaṃ
yanti…v.v…
Dứt pháp thoại, đạo sĩ Aggidatta cùng chúng đạo sĩ đệ tử,
đều chứng đắc quả A la hán với tứ tuệ phân tích. Tất cả đồng
đảnh lễ dưới chân đức Phật và xin xuất gia.
Đức Thế Tôn đưa tay vẫy gọi: “ Etha bhikkhavo, caratha
brahmacariyaṃ _ Hãy đến đây, này các tỳ kheo, hãy sống đời
sống phạm hạnh”.
Tức thì, các vị đạo sĩ ấy tự nhiên có đầy đủ y bát cùng các
tư cụ tỳ kheo, y như vị trưởng lão sáu mươi hạ vậy.
Chánh văn:
Chuyển văn:
10, 11.
Bhayatajjitā manussā bahuṃ ve saraṇaṃ yanti pabbatāni vanāni
ārāme rukkhe cetiyāni ca. Etaṃ saraṇaṃ
na khemaṃ, etaṃ saraṇaṃ
na uttamaṃ; Etaṃ saraṇaṃ
na āgamma sabbadukkhā na pamuccati.
Loài người sợ hãi tai ương đi đến nương tựa nhiều chỗ như
núi non, rừng rậm, các khu vườn, các cội cây, các đền tháp.
Sự nương tựa đó không phải an ổn, sự nương tựa đó không phải
tối thượng, sự nương tựa chỗ đó không thoát mọi khổ đau.
12, 13, 14. Yo buddhañca dhammañca saṅghañca saraṇaṃ gato
cattāri ca ariyasaccāni sammappaññāya passati (seyyathīdaṃ)
dukkhaṃ, dukkhasamuppādaṃ, dukkhassa atikkamaṃ,
dukkhūpasamagāminaṃ aṭṭhaṅgikaṃ ariyamaggaṃ ca. Etaṃ kho
saranaṃ khemaṃ, etaṃ saraṇaṃ uttamaṃ; Etaṃ saraṇaṃ āgamma
sabbadukkhā pamuccati.
Ai qui y đức Phật, giáo pháp và tăng chúng, ai với chánh trí
thấy được bốn thánh đế (tức là) sự khổ, sự tập khởi của khổ,
sự vượt qua khổ, và thánh đạo tám chi phần đưa đến khổ diệt.
Sự nương tựa đó quả thật là an ổn, sự nương tựa đó là tối
thượng; Qui y đó là thoát mọi khổ đau.
Lý giải:
Loài người có hai cực đoan: tin vào tha lực hoặc không tin
gì cả. Tư tưởng tín ngưởng đa thần là đặt niềm tin vào tha
lực; Tư tưởng vô thần phủ bác không có các loại hoá sanh, đó
là một tư tưởng cực đoan không tin gì cả.
Đối với người tín ngưởng đa thần, mỗi khi hửu sự muốn thoát
khỏi tai ương hoặc có nguyện ước được con cái, được tài
lộc…họ đi đến khấn vái thần núi, thần rừng, thần biển, thần
cây, thần đình…v.v…
Đạo sĩ Aggidatta dạy đệ tử hãy nương tựa các tha lực ấy để
được thoát khổ đau.
Đức Phật thuyết hai bài kệ 188 và 189 để nói cho mọi người
biết: khổ tai ương xảy ra là do nghiệp ác mình đã làm thì
làm sao chỉ khấn vái thần núi, thần rừng…v.v…mà thoát khổ ấy
được; với lại chúng sanh lẻ thường phải bị khổ già, khổ
bệnh, khổ chết, thì làm sao chỉ khấn vái cầu tha lực giúp
cho thoát khỏi già bệnh chết được. Đó là ý nghĩa câu nói: N’
etaṃ saraṇaṃ āgamma sabbadukkhā pamuccati, đến nương tựa chỗ
ấy không thoát mọi khổ đau.
Ba bài kệ 190, 191, 192 đức Phật thuyết về sự nương tựa an
ổn tối thượng, thoát khỏi sự khổ đau sanh tử luân hồi, đó là
qui y Phật Pháp Tăng để giác ngộ tứ đế.
Qui y tam bảo không có nghĩa là nương nhờ tha lực. Nương tựa
đức Phật, xem Ngài là vị Đạo Sư chỉ con đường; Nương tựa
Giáo Pháp, xem lời dạy của Ngài như kim chỉ nam để hành
trình giải thoát; Nương tựa Tăng chúng, xem các đệ tử xuất
gia của Ngài như những hướng dẫn viên thay mặt Ngài dẫn dắt
thực hành giáo Pháp.
Khi đã có niềm tin vững chắc nơi tam Bảo, một người tự mình
nổ lực tinh tấn liểu tri bốn chân lý khổ, tập, diệt, đạo, sẽ
chứng ngộ níp bàn.
Người với trí tuệ chân chánh, chứng ngộ níp bàn, đắc quả A
la hán, người ấy giải thoát khỏi mọi khổ đau, chấm dứt sanh
tử luân hồi. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |