|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 11 tháng 09, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 372. Ý THỨC ĐƯỢC BẢN CHẤT SANH DIỆT.- Kinh Pháp Tập Khởi (Samudayadhammasuttaṃ). ******
(Ba bài kinh: Kinh Có Học
Hiểu
(S,ii,411), Kinh Kappa
(S,ii,411);
Kinh Kappa II (S,ii,411) có
nội dung trùng lập với những
bài kinh trước chỉ khác là
tên nhân vật. ******
Không dễ dàng để nắm bắt
thực tại mà không có sự can
thiệp của tư kiến, thành
kiến, ảo kiến. Sanh diệt là
hai đầu mối của thực tại mà
hành giả có thể ghi nhận một
cách trung thực. Sanh và
diệt nếu được quán sát rõ và
bền bĩ sẽ hiển thị những đặc
tính vô thường, khổ não, vô
ngã của pháp hữu vi. Chính
sự thấy biết xác thực thắp
sáng tuệ giác. Đó là lý do
tại sao Đức Phật dạy: “Ai
sống một trăm năm, không
thấy pháp sinh diệt, không
bằng sống một ngày, thấy
đưọc pháp sanh diệt”.
Nhân duyên tại Sāvatthī. Bấy
giờ có một vị tỳ khưu đi đến
Đức Thế Tôn, đảnh lễ ngài,
ngồi xuống một bên và thưa
rằng:
"Bạch Thế Tôn, khi nói 'vô
minh, vô minh' , vậy bạch
Thế Tôn, vô minh là gì, và
làm thế nào mà một người bị
chìm đắm trong vô minh?"
"Này Tỳ khưu, phàm phu thiếu
học hiểu
không như nhiên biết rõ: sắc
chịu tập khởi là “Sắc chịu
sự tập khởi”; không như
nhiên biết rõ: sắc chịu hoại
diệt là “Sắc chịu sự hoại
diệt” ; không như nhiên biết
rõ: sắc chịu sanh diệt là
“Sắc chịu sự sanh diệt”.
Không biết rõ thọ … Không
biết rõ tưởng … Không biết
rõ hành …
không như nhiên biết rõ:
thức chịu tập khởi là “Thức
chịu sự tập khởi”; không như
nhiên biết rõ: Thức chịu
hoại diệt là “Thức chịu sự
hoại diệt”; không như nhiên
biết rõ: thức chịu sanh diệt
là “Thức chịu sự sanh diệt”.
Đây được gọi là vô minh, và
theo cách này một người bị
chìm đắm trong vô minh."
Được nghe vậy, tỳ khưu ấy
thưa với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, khi nói
'chánh trí,
chánh trí', vậy bạch Thế
Tôn, chánh trí là gì, và làm
thế nào
một
người đạt được chánh trí?"
"Này Tỳ-kheo, một thánh đệ
tử có học
như nhiên biết rõ: sắc chịu
tập khởi là “Sắc chịu sự tập
khởi”; như nhiên biết rõ:
sắc chịu hoại diệt là “Sắc
chịu sự hoại diệt” ;
như nhiên biết rõ:
sắc chịu sanh diệt là “Sắc
chịu sự sanh diệt”.
Biết rõ thọ … Biết rõ tưởng
… Biết rõ hành … Như nhiên
biết rõ
thức chịu tập khởi là “Thức
chịu sự tập khởi”; như nhiên
biết rõ: Thức chịu hoại diệt
là “Thức chịu sự hoại diệt”;
như nhiên biết rõ:
thức chịu sanh diệt là “Thức
chịu sự sanh diệt”.
Đây được gọi là chánh trí,
và theo cách này một người
chứng đạt chánh trí."
Chú thích
Chữ samudaya có nghĩa là
nguồn gốc, sản sinh, tập
khởi.
Chữ vaya có nghĩa là lão
hoá, biến hoại. Ở đây có
nghĩa là cách pháp hữu vi
vốn có tự tánh hoại diệt dù
không bị tiêu diệt bởi năng
lực bên ngoài. Thí dụ như
hoa nở thì có lúc phải tàn.
Sanh diệt là hai điểm nắm
bắt thực tại đối với hành
giả tu thiền quán tứ niệm
xứ.
Một lần nữa, bản dịch chọn
chữ “chánh trí” đối lập với
vô minh cho dễ nghe theo
cách hành văn.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
_________________________________
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu
Sāvatthinidānaṃ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ
etadavoca:
Nhân duyên ở Sāvatthi.
Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến …
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế
Tôn:
“‘avijjā, avijjā’ti, bhante, vuccati. Katamā nu kho, bhante,
avijjā; kittāvatā ca avijjāgato hotī”ti?
: “Vô minh, vô minh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch
Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào được gọi là
vô minh?
“Idha, bhikkhu, assutavā puthujjano samudayadhammaṃ rūpaṃ
‘samudayadhammaṃ rūpan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti; vayadhammaṃ
rūpaṃ ‘vayadhammaṃ rūpan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti;
samudayavayadhammaṃ rūpaṃ ‘samudayavayadhammaṃ rūpan’ti
yathābhūtaṃ nappajānāti.
—Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, không như thật biết rõ:
“Sắc chịu sự tập khởi” là sắc chịu sự tập khởi, không như thật
biết rõ: “Sắc chịu sự đoạn diệt” là sắc chịu sự đoạn diệt, không
như thật biết rõ: “Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là sắc
chịu sự tập khởi và đoạn diệt.
Samudayadhammaṃ vedanaṃ ‘samudayadhammā vedanā’ti yathābhūtaṃ
nappajānāti; vayadhammaṃ vedanaṃ ‘vayadhammā vedanā’ti
yathābhūtaṃ nappajānāti; samudayavayadhammaṃ vedanaṃ
‘samudayavayadhammā vedanā’ti yathābhūtaṃ nappajānāti.
Samudayadhammaṃ saññaṃ …pe… samudayadhamme saṅkhāre
‘samudayadhammā saṅkhārā’ti yathābhūtaṃ nappajānāti; vayadhamme
saṅkhāre ‘vayadhammā saṅkhārā’ti yathābhūtaṃ nappajānāti;
samudayavayadhamme saṅkhāre ‘samudayavayadhammā saṅkhārā’ti
yathābhūtaṃ nappajānāti. Samudayadhammaṃ viññāṇaṃ
‘samudayadhammaṃ viññāṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti;
vayadhammaṃ viññāṇaṃ ‘vayadhammaṃ viññāṇan’ti yathābhūtaṃ
nappajānāti; samudayavayadhammaṃ viññāṇaṃ ‘samudayavayadhammaṃ
viññāṇan’ti yathābhūtaṃ nappajānāti.
… “Thọ … Tưởng … Các hành.”.
… không như thật biết rõ: “Thức chịu sự
tập khởi” là thức chịu sự tập khởi, không như thật biết rõ:
“Thức chịu sự đoạn diệt” là thức chịu sự đoạn diệt, không như
thật biết rõ: “Thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là thức chịu
sự tập khởi và đoạn diệt.
Ayaṃ vuccati, bhikkhu, avijjā; ettāvatā ca avijjāgato hotī”ti.
Như vậy, này Tỷ-kheo, gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi
là vô minh.
Evaṃ vutte, so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca:
“‘vijjā, vijjā’ti, bhante, vuccati. Katamā nu kho, bhante,
vijjā; kittāvatā ca vijjāgato hotī”ti?
Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
: “Minh, minh”, bạch Thế Tôn, được nói
đến như vậy. Thế nào là minh, bạch Thế Tôn? Cho đến như thế nào
được gọi là minh?
“Idha, bhikkhu, sutavā ariyasāvako samudayadhammaṃ rūpaṃ
‘samudayadhammaṃ rūpan’ti yathābhūtaṃ pajānāti; vayadhammaṃ
rūpaṃ ‘vayadhammaṃ rūpan’ti yathābhūtaṃ pajānāti;
samudayavayadhammaṃ rūpaṃ ‘samudayavayadhammaṃ rūpan’ti
yathābhūtaṃ pajānāti.
—Ở đây, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ: “Sắc chịu sự
tập khởi” là sắc chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: “Sắc chịu
sự đoạn diệt” là sắc chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: “Sắc
chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là sắc chịu sự tập khởi và đoạn
diệt.
Samudayadhammaṃ vedanaṃ ‘samudayadhammā vedanā’ti yathābhūtaṃ
pajānāti; vayadhammaṃ vedanaṃ ‘vayadhammā vedanā’ti yathābhūtaṃ
pajānāti; samudayavayadhammaṃ vedanaṃ ‘samudayavayadhammā
vedanā’ti yathābhūtaṃ pajānāti. Samudayadhammaṃ saññaṃ …
samudayadhamme saṅkhāre ‘samudayadhammā saṅkhārā’ti yathābhūtaṃ
pajānāti; vayadhamme saṅkhāre ‘vayadhammā saṅkhārā’ti
yathābhūtaṃ pajānāti; samudayavayadhamme saṅkhāre
‘samudayavayadhammā saṅkhārā’ti yathābhūtaṃ pajānāti.
Samudayadhammaṃ viññāṇaṃ ‘samudayadhammaṃ viññāṇan’ti
yathābhūtaṃ pajānāti; vayadhammaṃ viññāṇaṃ ‘vayadhammaṃ
viññāṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti; samudayavayadhammaṃ viññāṇaṃ
‘samudayavayadhammaṃ viññāṇan’ti yathābhūtaṃ pajānāti.
… “Thọ … Tưởng … Các hành.”.
… Như thật biết rõ: “Thức chịu sự tập
khởi” là thức chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: “Thức chịu sự
đoạn diệt” là thức chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: “Thức
chịu sự tập khởi và đoạn diệt” là thức chịu sự tập khởi và đoạn
diệt.
Ayaṃ vuccati, bhikkhu, vijjā; ettāvatā ca vijjāgato hotī”ti.
Như vậy, này Tỷ-kheo, được gọi là minh,
cho đến như vậy được gọi là minh. |