|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 18 tháng 09, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 374, 374, 376, 377. CHUYỂN MÊ KHAI NGỘ, LY KHỔ ĐẮC LẠC- Kinh Thường Yểm Ly (nibbidābahulasuttaṃ), Kinh Tùy Quán Vô Thường, Kinh Tùy Quán Khổ Não, Kinh Tùy Quán Vô Ngã. ******
Theo lời Phật dạy,
biểu hiện rõ nét của
khổ đau là tâm thái sầu, bi,
khổ, ưu, ai. Sự giải thoát
có thể hiểu là khi tâm không
còn những giao động đó. Để
được vậy cần hiểu rõ để
buông xả. Muốn hiểu rõ cần
thường sống với cái nhìn
thuận theo chánh pháp: năm
uẩn không đáng bám víu, năm
uẩn là vô thường, là khổ
não, là vô ngã. Khổ đau và
hạnh phúc được hiểu là tương
quan mật thiết với mê và
ngộ.
Kinh Văn:
Kinh Thường Yểm Ly
(Nibbidābahulasuttaṃ) (SN
22. 146)
146. sāvatthinidānaṃ.
“saddhāpabbajitassa,
bhikkhave, kulaputtassa
ayamanudhammo hoti — yaṃ
rūpe nibbidābahulo
{nibbidābahulaṃ (syā. kaṃ.
pī. ka.)} vihareyya.
vedanāya ... pe ...
saññāya... saṅkhāresu...
viññāṇe nibbidābahulo
vihareyya. yo rūpe
nibbidābahulo viharanto,
vedanāya... saññāya...
saṅkhāresu... viññāṇe
nibbidābahulo viharanto
rūpaṃ parijānāti, vedanaṃ...
saññaṃ... saṅkhāre...
viññāṇaṃ parijānāti; so
rūpaṃ parijānaṃ vedanaṃ
parijānaṃ saññaṃ parijānaṃ
saṅkhāre parijānaṃ viññāṇaṃ
parijānaṃ parimuccati
rūpamhā, parimuccati
vedanāya, parimuccati
saññāya, parimuccati
saṅkhārehi, parimuccati
viññāṇamhā, parimuccati
jātiyā jarāya maraṇena
sokehi paridevehi dukkhehi
domanassehi upāyāsehi;
‘parimuccati dukkhasmā’ti
vadāmī”ti. ekādasamaṃ.
Tại Sāvatthī. “Này chư Tỳ khưu, đối với một thiện gia nam tử xuất gia vì
lòng tin, điều này là thuận
hợp với Chánh Pháp: người ấy
thường sống yểm ly đối với
sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Người nào thường sống yểm ly
đối với sắc, thọ, tưởng,
hành,
thức
sẽ
liễu tri sắc, thọ, tưởng,
hành, thức. Người nào liễu
tri sắc, thọ, tưởng, hành,
thức sẽ được giải thoát khỏi
sắc, thọ, tưởng, hành, và
thức. Người ấy được giải
thoát khỏi sanh, già, chết;
được giải thoát khỏi sầu,
bi, khổ, ưu, và não; ta nói
rằng người ấy được giải
thoát khổ đau.”
Kinh Tùy Quán Vô Thường
(aniccānupassīsuttaṃ) (SN 22.
147)
147. sāvatthinidānaṃ. “saddhāpabbajitassa, bhikkhave,
kulaputtassa ayamanudhammo
hoti — yaṃ rūpe
aniccānupassī vihareyya.
vedanāya... saññāya...
saṅkhāresu... viññāṇe
aniccānupassī vihareyya ...
pe ... ‘parimuccati
dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
dvādasamaṃ.
Tại Sāvatthī. “Này chư Tỳ khưu, đối với một thiện gia nam
tử xuất gia vì lòng tin,
điều này là thuận hợp với
Chánh Pháp: người ấy nên
sống tuỳ quán vô thường đối
với sắc, thọ, tưởng, hành,
thức. Người nào sống tuỳ
quán vô thường đối với sắc,
thọ, tưởng, hành, thức
sẽ liễu tri sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Người nào
liễu tri sắc, thọ, tưởng,
hành, thức sẽ được giải
thoát khỏi sắc, thọ, tưởng,
hành, và thức. Người ấy được
giải thoát khỏi sanh, già,
chết; được giải thoát khỏi
sầu, bi, khổ, ưu, và não; ta
nói rằng người ấy được giải
thoát khổ đau.”
Kinh Tùy Quán Khổ Não
(dukkhānupassīsuttaṃ)
(SN 22. 147)
147. sāvatthinidānaṃ. “saddhāpabbajitassa, bhikkhave,
kulaputtassa ayamanudhammo
hoti — yaṃ rūpe
aniccānupassī vihareyya.
vedanāya... saññāya...
saṅkhāresu... viññāṇe
aniccānupassī vihareyya ...
pe ... ‘parimuccati
dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
dvādasamaṃ.
Tại Sāvatthī. “Này chư Tỳ khưu, đối với một thiện gia nam
tử xuất gia vì lòng tin,
điều này là thuận hợp với
Chánh Pháp: người ấy nên
sống tuỳ quán khổ não đối
với sắc, thọ, tưởng, hành,
thức. Người nào sống tuỳ
quán khổ não đối với sắc,
thọ, tưởng, hành, thức
sẽ liễu tri sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Người nào
liễu tri sắc, thọ, tưởng,
hành, thức sẽ được giải
thoát khỏi sắc, thọ, tưởng,
hành, và thức. Người ấy được
giải thoát khỏi sanh, già,
chết; được giải thoát khỏi
sầu, bi, khổ, ưu, và não; ta
nói rằng người ấy được giải
thoát khổ đau.”
Kinh Tùy Quán Vô Ngã
(anattānupassīsuttaṃ)
(SN 22. 147)
147. sāvatthinidānaṃ. “saddhāpabbajitassa, bhikkhave,
kulaputtassa ayamanudhammo
hoti — yaṃ rūpe
aniccānupassī vihareyya.
vedanāya... saññāya...
saṅkhāresu... viññāṇe
aniccānupassī vihareyya ...
pe ... ‘parimuccati
dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
dvādasamaṃ.
Tại Sāvatthī. “Này chư Tỳ khưu, đối với một thiện gia nam tử xuất gia vì
lòng tin, điều này là thuận
hợp với Chánh Pháp: người ấy
nên sống tuỳ quán vô ngả đối
với sắc, thọ, tưởng, hành,
thức. Người nào sống tuỳ
quán vô ngã đối với sắc,
thọ, tưởng, hành, thức
sẽ liễu tri sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Người nào
liễu tri sắc, thọ, tưởng,
hành, thức sẽ được giải
thoát khỏi sắc, thọ, tưởng,
hành, và thức. Người ấy được
giải thoát khỏi sanh, già,
chết; được giải thoát khỏi
sầu, bi, khổ, ưu, và não; ta
nói rằng người ấy được giải
thoát khổ đau.”
Chú thích
Chữ kulaputta có nghĩa là một thanh niên trai trẻ xuất
thân từ gia đình gia giáo.
Các bản kinh chữ Hán thường
dịch là “thiện gia nam tử”
hàm ý là một thanh niên có
đầy đủ sự giáo dục. Cũng
thường viết ngắn là “thiện
nam tử” nhưng cắt gọn như
vậy đánh mất ý nghĩa “con
nhà gia giáo”. Đức Phật dùng
từ nầy chỉ cho nhân tuyển
tốt nhất cho đời sống tu
hành.
Chữ nibbidābahulo có nghĩa là thường sông với thái độ
không thích thú hay nhàm
chán. Chữ yểm ly được chọn
vì đôi khi chữ nhàm chán
khiến người ta có ý tưởng
mang tính tiêu cực.
Chữ anupassī có nghĩa là người thường suy niệm về (vô
thường, khổ não, vô ngã). Ở
đây dịch là tuỳ quán hàm ý
là dựa trên những gì xẩy ra
lấy đó là thiền án để chiêm
nghiệm về bản chất vô
thường, khổ não, vô ngãl
Đại ý của cả bốn bài kinh nầy đều minh hoạ tiến trình
chuyển hoá tâm thức trong sự
tu tập. Có nhìn đúng góc
cạnh mới hiểu rõ. Có hiểu rõ
thì không còn vướng mắc. Có
không vướng mắc mới thoát
khổ.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
_________________________________
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu
XI. Thiện Nam Tử Khổ (Tạp
2, Ðại 2,12a) (S.iii,179)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các
Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammam): Hãy sống nhàm chán
nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với
các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
4) Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối
với tưởng... đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối
với thức thời sẽ biến tri sắc... thọ... tưởng... các hành,
biến tri thức.
5) Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ,
biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được
giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải
thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải
thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu,
bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.
XII. Thiện Nam Tử Khổ
(Như kinh trên, chỉ khác là "thấy vô thường" thay thế "sống
nhàm chán").
XIII. Thiện Nam Tử Khổ
(Như kinh trên, ở đây chỉ khác là "thấy vô ngã" ).
Tất cả 4 bài kinh nầy có cùng chú thích với bài kinh
Kukkuḷasutta (Kinh Than Hừng)
kukkuḷavaggassa paṭhame kukkuḷanti santattaṃ ādittaṃ
chārikarāsiṃ viya mahāpariḷāhaṃ. imasmiṃ sutte
dukkhalakkhaṇaṃ kathitaṃ, sesesu aniccalakkhaṇādīni. sabbāni
cetāni pāṭiyekkaṃ puggalajjhāsayena kathitānīti.
Trong bài kinh đầu tiên của Kukkuḷavagga, "kukkuḷa" có nghĩa
là nóng bỏng, rực cháy, giống như than hừng đang cháy rực,
tượng trưng cho sự đau khổ lớn.
Trong kinh này, tướng khổ được thuyết giảng, còn trong các
bài kinh khác, các tướng vô thường và vô ngã được đề cập.
Tất cả những điều này đều được thuyết giảng riêng biệt dựa
trên căn cơ của từng cá nhân. |