|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 21 tháng 09, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 378. CỘI NGUỒN CŨNG BỞI LÒNG NGƯỜI MÀ RA- Kinh Nội Tại (Ajjhattasuttaṃ) ******
Khổ vui vốn là chuyện tất
nhiên phải có của kiếp
người. Rất ít người nhận ra
phần lớn niềm vui, nỗi khổ
đến từ cái nhìn thiếu trung
thực về tự nhiên. Khi vạn
hữu vô thường mà đòi hỏi
phải trường tồn thì không
thể không đau khổ. Cái khổ,
và ngay cả cái vui, đến từ
nhận thức thiếu chân xác
cuối cùng sẽ dẫn đến thất
vọng phiền muộn. Sự an nhiên
phải đến từ khả năng chấp
nhận bản chất tự nhiên.
Kinh Văn:
150.
sāvatthinidānaṃ. “kismiṃ nu
kho, bhikkhave, sati, kiṃ
upādāya uppajjati ajjhattaṃ
sukhadukkhan”ti?
bhagavaṃmūlakā no, bhante,
dhammā ... pe ... “rūpe kho,
bhikkhave, sati rūpaṃ
upādāya uppajjati ajjhattaṃ
sukhadukkhaṃ. vedanāya sati
... pe ... saññāya sati...
saṅkhāresu sati... viññāṇe
sati viññāṇaṃ upādāya
uppajjati ajjhattaṃ
sukhadukkhaṃ. taṃ kiṃ
maññatha, bhikkhave, rūpaṃ
niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“aniccaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ
sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ,
bhante”. “yaṃ panāniccaṃ
dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ,
api nu taṃ anupādāya
uppajjeyya ajjhattaṃ
sukhadukkhan”ti? “no hetaṃ,
bhante”. “vedanā ... pe ...
saññā... saṅkhārā...
viññāṇaṃ niccaṃ vā aniccaṃ
vā”ti? “aniccaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ, dukkhaṃ vā
taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ,
bhante”. “yaṃ panāniccaṃ
dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ,
api nu taṃ anupādāya
uppajjeyya ajjhattaṃ
sukhadukkhan”ti? “no hetaṃ,
bhante”. “evaṃ passaṃ ... pe
... nāparaṃ itthattāyāti
pajānātī”ti. paṭhamaṃ.
Tại Sāvatthī.
"Này chư Tỳ khưu, cảm giác
vui khổ nội tại khởi lên
khi có điều gì, dựa vào điều
gì ?"
"Bạch Đức Thế Tôn, các giáo nghĩa đều y chỉ ở
Thế Tôn ..."
"Này chư Tỳ khưu, khi
có sắc, dựa vào sắc mà khởi
lên cảm giác vui khổ nội
tại. Khi có thọ ... cho đến
... khi có tưởng... khi có
hành... khi có thức, dựa vào
thức mà khởi lên cảm giác
vui khổ nội tại.
Này chư Tỳ khưu, các thầy nghĩ thế nào, sắc là
thường hay vô thường?"
"Là vô thường, bạch Thế Tôn."
"Cái gì vô thường, thì là khổ hay lạc?"
"Là khổ, bạch Thế Tôn."
"Đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến đổi,
liệu
nếu không chấp thủ
nó thì có khởi lên cảm giác
vui khổ nội tại không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Tưởng ... hành... thức là thường hay vô thường?"
"Là vô thường, bạch Thế Tôn."
"Cái gì vô thường, thì là khổ hay lạc?"
"Là khổ, bạch Thế Tôn."
"Đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến đổi,
liệu
nếu không chấp thủ
nó thì có khởi lên cảm giác
vui khổ nội tại không?"
"Không, thưa Thế Tôn."
"Thấy rõ như vậy ... vị ấy hiểu rằng không còn tiếp
tục trạng thái nầy nữa."
Chú thích
Theo Sớ giải, mệnh đề “kiṃ
upādāya” có nghĩa là y cứ
hay tựa vào cái gì (kiṃ
paṭicca). Theo ngài Bodhi
thì cụm từ nầy bao hàm hai
nghĩa là khổ vui vốn do bản
chất của năm uẩn vốn vô
thường nên khổ; đồng thời
cũng cho chấp thủ năm uẩn
nên sanh ra khổ vui.
Cụm từ ajjhattaṃ
sukhadukkhaṃ - khổ vui nội
tại - chỉ cho sự vui khổ do
cái nhìn chủ quan. Cái khổ
tự nhiên do bản chất của
pháp hữu vi là cái khổ khách
quan. Khổ vui nội tại ở đây
chỉ cho vui khổ do cái nhìn
của mỗi cá nhân. Đây là một
trong những chìa khoá quan
trọng đối với hành giả
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
_________________________________
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu
XI. Thiện Nam Tử Khổ (Tạp
2, Ðại 2,12a) (S.iii,179)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các
Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammam): Hãy sống nhàm chán
nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với
các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
4) Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối
với tưởng... đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối
với thức thời sẽ biến tri sắc... thọ... tưởng... các hành,
biến tri thức.
5) Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ,
biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được
giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải
thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải
thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu,
bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.
XII. Thiện Nam Tử Khổ
(Như kinh trên, chỉ khác là "thấy vô thường" thay thế "sống
nhàm chán").
XIII. Thiện Nam Tử Khổ
(Như kinh trên, ở đây chỉ khác là "thấy vô ngã" ).
Tất cả 4 bài kinh nầy có cùng chú thích với bài kinh
Kukkuḷasutta (Kinh Than Hừng)
kukkuḷavaggassa paṭhame kukkuḷanti santattaṃ ādittaṃ
chārikarāsiṃ viya mahāpariḷāhaṃ. imasmiṃ sutte
dukkhalakkhaṇaṃ kathitaṃ, sesesu aniccalakkhaṇādīni. sabbāni
cetāni pāṭiyekkaṃ puggalajjhāsayena kathitānīti.
Trong bài kinh đầu tiên của Kukkuḷavagga, "kukkuḷa" có nghĩa
là nóng bỏng, rực cháy, giống như than hừng đang cháy rực,
tượng trưng cho sự đau khổ lớn.
Trong kinh này, tướng khổ được thuyết giảng, còn trong các
bài kinh khác, các tướng vô thường và vô ngã được đề cập.
Tất cả những điều này đều được thuyết giảng riêng biệt dựa
trên căn cơ của từng cá nhân. |