BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 21 tháng 09, 2024

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III - Chương I. Tương Ưng Uẩn. Phần III-Phẩm Kiến. (S.22.150).
Bài 378. CỘI NGUỒN CŨNG BỞI LÒNG NGƯỜI MÀ RA-
Kinh Nội Tại (Ajjhattasuttaṃ)
 ******

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 Khổ vui vốn là chuyện tất nhiên phải có của kiếp người. Rất ít người nhận ra phần lớn niềm vui, nỗi khổ đến từ cái nhìn thiếu trung thực về tự nhiên. Khi vạn hữu vô thường mà đòi hỏi phải trường tồn thì không thể không đau khổ. Cái khổ, và ngay cả cái vui, đến từ nhận thức thiếu chân xác cuối cùng sẽ dẫn đến thất vọng phiền muộn. Sự an nhiên phải đến từ khả năng chấp nhận bản chất tự nhiên.

Kinh Văn:

 150. sāvatthinidānaṃ. “kismiṃ nu kho, bhikkhave, sati, kiṃ upādāya uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhan”ti? bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā ... pe ... “rūpe kho, bhikkhave, sati rūpaṃ upādāya uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. vedanāya sati ... pe ... saññāya sati... saṅkhāresu sati... viññāṇe sati viññāṇaṃ upādāya uppajjati ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ. taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṃ sukhadukkhan”ti? “no hetaṃ, bhante”. “vedanā ... pe ... saññā... saṅkhārā... viññāṇaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ, dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ anupādāya uppajjeyya ajjhattaṃ sukhadukkhan”ti? “no hetaṃ, bhante”. “evaṃ passaṃ ... pe ... nāparaṃ itthattāyāti pajānātī”ti. paṭhamaṃ.

Tại Sāvatthī.

"Này chư Tỳ khưu, cảm giác vui khổ nội tại khởi lên khi có điều gì, dựa vào điều gì ?"

"Bạch Đức Thế Tôn, các giáo nghĩa đều y chỉ ở  Thế Tôn ..."

"Này chư Tỳ khưu, khi có sắc, dựa vào sắc mà khởi lên cảm giác vui khổ nội tại. Khi có thọ ... cho đến ... khi có tưởng... khi có hành... khi có thức, dựa vào thức mà khởi lên cảm giác vui khổ nội tại.

Này chư Tỳ khưu, các thầy nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?"

"Là vô thường, bạch Thế Tôn."

"Cái gì vô thường, thì là khổ hay lạc?"

"Là khổ, bạch Thế Tôn."

"Đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến đổi, liệu  nếu không chấp thủ nó thì có khởi lên cảm giác vui khổ nội tại không?"

"Thưa không, bạch Thế Tôn."

"Tưởng ... hành... thức là thường hay vô thường?"

"Là vô thường, bạch Thế Tôn."

"Cái gì vô thường, thì là khổ hay lạc?"

"Là khổ, bạch Thế Tôn."

"Đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến đổi, liệu  nếu không chấp thủ nó thì có khởi lên cảm giác vui khổ nội tại không?"

"Không, thưa Thế Tôn."

"Thấy rõ như vậy ... vị ấy hiểu rằng không còn tiếp tục trạng thái nầy nữa."

Chú thích

Theo Sớ giải, mệnh đề “kiṃ upādāya” có nghĩa là y cứ hay tựa vào cái gì (kiṃ paṭicca). Theo ngài Bodhi thì cụm từ nầy bao hàm hai nghĩa là khổ vui vốn do bản chất của năm uẩn vốn vô thường nên khổ; đồng thời cũng cho chấp thủ năm uẩn nên sanh ra khổ vui.

Cụm từ ajjhattaṃ sukhadukkhaṃ - khổ vui nội tại - chỉ cho sự vui khổ do cái nhìn chủ quan. Cái khổ tự nhiên do bản chất của pháp hữu vi là cái khổ khách quan. Khổ vui nội tại ở đây chỉ cho vui khổ do cái nhìn của mỗi cá nhân. Đây là một trong những chìa khoá quan trọng đối với hành giả

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

_________________________________

Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

 

XI. Thiện Nam Tử Khổ (Tạp 2, Ðại 2,12a) (S.iii,179)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammam): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.

4) Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc... thọ... tưởng... các hành, biến tri thức.

5) Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.

XII. Thiện Nam Tử Khổ

(Như kinh trên, chỉ khác là "thấy vô thường" thay thế "sống nhàm chán").

XIII. Thiện Nam Tử Khổ

(Như kinh trên, ở đây chỉ khác là "thấy vô ngã" ).

 

Sớ Giải

Tất cả 4 bài kinh nầy có cùng chú thích với bài kinh Kukkuḷasutta (Kinh Than Hừng)

kukkuḷavaggassa paṭhame kukkuḷanti santattaṃ ādittaṃ chārikarāsiṃ viya mahāpariḷāhaṃ. imasmiṃ sutte dukkhalakkhaṇaṃ kathitaṃ, sesesu aniccalakkhaṇādīni. sabbāni cetāni pāṭiyekkaṃ puggalajjhāsayena kathitānīti.

Trong bài kinh đầu tiên của Kukkuḷavagga, "kukkuḷa" có nghĩa là nóng bỏng, rực cháy, giống như than hừng đang cháy rực, tượng trưng cho sự đau khổ lớn. Trong kinh này, tướng khổ được thuyết giảng, còn trong các bài kinh khác, các tướng vô thường và vô ngã được đề cập. Tất cả những điều này đều được thuyết giảng riêng biệt dựa trên căn cơ của từng cá nhân.

-ooOoo-