BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 02 tháng 09, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 42. Tương Ưng Thôn Trưởng- SN 42.2.
Bài 492. LỜI NGƯỜI XƯA NÓI… - Kinh Talapuṭa (Talapuṭasutta) .

....
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-492.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Xưa bày nay làm vốn là chuyện thường tình. Thế nhưng không có nghĩa vì thế mà những gì cổ nhân nói đều là chân lý. Thật ra khả năng nhận biết sự thật vốn không nằm trong hạn cuộc xưa hoặc nay. Con đường khai phóng vốn cần ánh sáng của trí tuệ và sự can đảm đặt lại vấn đề. Không ai đạt đến chỗ chí thiện chỉ đơn thuần bằng sự cả tin.

Kinh Văn
354. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. atha kho tālapuṭo {tālaputto (sī. syā. kaṃ.)} naṭagāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavantaṃ etadavoca — “sutaṃ metaṃ, bhante, pubbakānaṃ ācariyapācariyānaṃ naṭānaṃ bhāsamānānaṃ — ‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṃ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pahāsānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjatī’ti. idha bhagavā kimāhā”ti? “alaṃ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṃ. mā maṃ etaṃ pucchī”ti. dutiyampi kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavantaṃ etadavoca — “sutaṃ metaṃ, bhante, pubbakānaṃ ācariyapācariyānaṃ naṭānaṃ bhāsamānānaṃ — ‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṃ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pahāsānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjatī’ti. idha bhagavā kimāhā”ti? “alaṃ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṃ. mā maṃ etaṃ pucchī”ti. tatiyampi kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavantaṃ etadavoca — “sutaṃ metaṃ, bhante, pubbakānaṃ ācariyapācariyānaṃ naṭānaṃ bhāsamānānaṃ — ‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṃ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pahāsānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjatī’ti. idha bhagavā kimāhā”ti?

“addhā kho tyāhaṃ, gāmaṇi, na labhāmi {nālatthaṃ (syā. kaṃ. pī. ka.)} — ‘alaṃ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṃ, mā maṃ etaṃ pucchī’ti. api ca tyāhaṃ byākarissāmi. pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītarāgā rāgabandhanabaddhā. tesaṃ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā rajanīyā te upasaṃharati bhiyyosomattāya. pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītadosā dosabandhanabaddhā. tesaṃ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā dosanīyā te upasaṃharati bhiyyosomattāya. pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītamohā mohabandhanabaddhā. tesaṃ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā mohanīyā te upasaṃharati bhiyyosomattāya. so attanā matto pamatto pare madetvā pamādetvā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pahāso nāma nirayo tattha upapajjati. sace kho panassa evaṃdiṭṭhi hoti — ‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṃ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pahāsānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjatī’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi. micchādiṭṭhikassa kho panāhaṃ, gāmaṇi, purisapuggalassa dvinnaṃ gatīnaṃ aññataraṃ gatiṃ vadāmi — nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ vā”ti.

evaṃ vutte, tālapuṭo naṭagāmaṇi, parodi, assūni pavattesi. “etaṃ kho tyāhaṃ, gāmaṇi, nālatthaṃ — ‘alaṃ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṃ; mā maṃ etaṃ pucchī’”ti. “nāhaṃ, bhante, etaṃ rodāmi yaṃ maṃ bhagavā evamāha; api cāhaṃ, bhante, pubbakehi ācariyapācariyehi naṭehi dīgharattaṃ nikato vañcito paluddho — ‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṃ hāseti rameti so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pahāsānaṃ devānaṃ sahabyataṃ upapajjatī’”ti. “abhikkantaṃ, bhante, abhikkantaṃ, bhante! seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya — cakkhumanto rūpāni dakkhantīti; evamevaṃ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. esāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. labheyyāhaṃ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampadan”ti. alattha kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavato santike pabbajjaṃ, alattha upasampadaṃ. acirūpasampanno ca panāyasmā tālapuṭo ... pe ... arahataṃ ahosīti. dutiyaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Rājagaha, tại Trúc Lâm, chỗ Sóc Ăn. Bấy giờ, Talapuṭa, một diễn viên chính của đoàn kịch nghệ, đi đến Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Talapuṭa bạch Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, con đã nghe các diễn viên xưa, những bậc thầy trong nghề, truyền lại lời nói rằng: ‘Nếu một kịch sĩ, trong rạp hát hay ngoài hí trường, làm cho người ta cười bằng sự pha lẫn nữa thật và nữa hư, thì sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào chúng hội Tiếu sanh thiên..’ Điều nầy Thế Tôn dạy như thế nào?”

“Thôi vừa rồi, này anh kép chính, chớ hỏi Ta điều ấy.”
Lần thứ hai, lần thứ ba, Talapuṭa, kép chính đoàn kịch, lại thưa:
“Bạch Thế Tôn, con đã nghe các kịch sĩ xưa… Điều ấy Thế Tôn dạy như thế nào?”

“Chắc chắn, này anh kép chính, người không hiểu Ta khi Ta nói: ‘Thôi vừa rồi, chớ hỏi Ta điều ấy.’ Nhưng nay Ta sẽ trả lời. Trong hí trường hay rạp hát lộ thiên, đối với những người còn bị dục chi phối, bị trói buộc bởi dục, diễn viên làm cho họ càng bị dục lôi cuốn hơn. … Với những người bị sân chi phối, diễn viên làm cho họ càng sân hận hơn. … Với những người bị si chi phối, diễn làm cho họ càng mê hoặc hơn.”
“Như vậy, tự thân diễn viên ấy say đắm và phóng dật, lại khiến người khác cũng say đắm và phóng dật. Sau khi chết, vị ấy sanh vào Địa ngục Cười Cợt. Nhưng nếu lại chấp giữ quan niệm: ‘Kịch sĩ làm người ta vui thích bằng pha lẫn nữa thật và nữa hư thì chết đi sẽ sanh vào hội chư Thiên cười đùa’ — thì đó là tà kiến. Với kẻ tà kiến, Ta nói có hai chỗ đi đến: hoặc địa ngục, hoặc súc sanh.”

Nghe vậy, Talapuṭa kép chính đoàn kịch, kêu lên và bật khóc.
Thế Tôn bảo: “Thế là người đã chẳng hiểu khi Ta nói: ‘Thôi vừa rồi, anh kép chính, chớ hỏi Ta điều ấy.’”

“Bạch ĐứcThế Tôn, con không khóc vì lời Ngài dạy, mà vì con đã bị lừa gạt quá lâu bởi các diễn viên xưa, những bậc thầy trong nghề, truyền lại lời nói rằng: ‘Kịch sĩ làm người ta cười thì chết đi sẽ sanh về hội chư Thiên cười đùa.’”

“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Pháp được Ngài trình bày rõ ràng bằng nhiều cách: như dựng đứng vật bị lật ngược, phơi bày điều bị che giấu, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hay cầm đèn soi sáng trong bóng tối cho ai có mắt được thấy sắc. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y Tăng. Cúi xin Thế Tôn cho con được xuất gia, xin cho con được thọ Cụ túc giới.”
Rồi Thế Tôn cho Talapuṭa kép chính đoàn kịch xuất gia và thọ Cụ túc giới. Chẳng bao lâu sau khi thọ Cụ túc, Tôn giả Talapuṭa chứng đắc quả vị A-la-hán.

Chú Thích

Tên của ông có nghĩa là “màu trái thốt nốt.” Sớ giải nói ông được gọi như vậy vì màu da mặt giống như màu quả thốt nốt chín vừa rụng khỏi cuống. Ông là điều hành của một đoàn kịch lớn và đã trở nên nổi tiếng khắp Ấn Độ thời đó. Những bài kệ của vị nầy, nổi bật bởi tính chất đạo đức nghiêm trang, nằm trong Theragāthā các câu 1091–1145.

Chữ Saccālikena được dịch giả Woodward dịch là “bằng sự giả dạng sự thật”. nhưng ngài Bodhi y cứ theo Sớ giải chú thích thích đây là một hợp từ dvanda: nghĩa là “nữa thật nữa đùa.”

Theo Sớ giải thì không có một địa ngục riêng biệt nào với tên gọi này. Thật ra, đây chính là một phần của địa ngục Avīci, nơi các chúng sanh bị hành hạ trong hình thức như những diễn viên ca múa.

Kinh Ngưu Hành Giải, Cẩu Hành Giả trong Trung Bộ cũng có ghi là trường hợp tương tự như kinh nầy  nhưng liên quan đến một tà kiến khác về tái sanh.

Sớ Giải

354. dutiye tālapuṭoti evaṃnāmako. tassa kira bandhanā pamuttatālapakkavaṇṇo viya mukhavaṇṇo vippasanno ahosi, tenassa tālapuṭoti nāmaṃ akaṃsu. svāyaṃ abhinīhārasampanno pacchimabhavikapuggalo. yasmā pana paṭisandhi nāma aniyatā ākāse khittadaṇḍasadisā, tasmā esa naṭakule nibbatti. vuḍḍhippatto pana naṭasippe aggo hutvā sakalajambudīpe pākaṭo jāto. tassa pañca sakaṭasatāni pañca mātugāmasatāni parivāro, bhariyāyapissa tāvatakāvāti mātugāmasahassena ceva sakaṭasahassena ca saddhiṃ yaṃ yaṃ nagaraṃ vā nigamaṃ vā pavisati, tatthassa puretarameva satasahassaṃ denti. samajjavesaṃ gaṇhitvā pana mātugāmasahassena saddhiṃ kīḷaṃ karontassa yaṃ hatthūpagapādūpagādiābharaṇajātaṃ khipanti, tassa pariyanto natthi. so taṃdivasaṃ mātugāmasahassaparivārito rājagahe kīḷaṃ katvā paripakkañāṇattā saparivārova yena bhagavā tenupasaṅkami. ♦ saccālikenāti saccena ca alikena ca. tiṭṭhatetanti tiṭṭhatu etaṃ. rajanīyāti rāgappaccayā mukhato pañcavaṇṇasuttanīharaṇavātavuṭṭhidassanādayo aññe ca kāmassādasaṃyuttākāradassanakā abhinayā. bhiyyosomattāyāti adhikappamāṇattāya. dosanīyāti dosappaccayā hatthapādacchedādidassanākārā. mohanīyāti mohappaccayā udakaṃ gahetvā telakaraṇaṃ, telaṃ gahetvā udakakaraṇanti evamādayo māyāpabhedā. ♦ pahāso nāma nirayoti visuṃ pahāsanāmako nirayo nāma natthi, avīcisseva pana ekasmiṃ koṭṭhāse naccantā viya gāyantā viya ca naṭavesaṃ gahetvāva paccanti, taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. nāhaṃ, bhante, etaṃ rodāmīti ahaṃ, bhante, etaṃ bhagavato byākaraṇaṃ na rodāmīti evaṃ sakammakavasenettha attho veditabbo, na assuvimocanamattena. “mataṃ vā ammarodantī”tiādayo cettha aññepi vohārā veditabbā.

354. Dutiye tālapuṭo ti evaṃnāmako.
Trong kinh thứ hai (tức kinh Talapuṭa), nhân vật được gọi tên là Tālapuṭa.

“Tassa kira bandhanā pamuttatālapakkavaṇṇo viya mukhavaṇṇo vippasanno ahosi, tenassa tālapuṭoti nāmaṃ akaṃsu.”
Người ấy, dung sắc gương mặt sáng tươi, giống như màu của trái thốt nốt chín rụng khỏi cuống, nên được đặt tên là Tālapuṭa (“quả thốt nốt rụng”).

“Svāyaṃ abhinīhārasampanno pacchimabhavikapuggalo.”
Vị này vốn đã tu tập hạnh nguyện từ trước, là một bậc hành giả đủ duyên chứng quả ngay trong đời cuối cùng.

“Yasmā pana paṭisandhi nāma aniyatā ākāse khittadaṇḍasadisā, tasmā esa naṭakule nibbatti.”
Nhưng vì việc tái sanh vốn vô định, như cây gậy ném lên trời rơi đâu không nhất định, nên ông đã tái sanh vào trong một gia đình theo nghệ thuật diễn xuất.

“Vuḍḍhippatto pana naṭasippe aggo hutvā sakalajambudīpe pākaṭo jāto.”
Khi trưởng thành, ông trở thành bậc thượng thủ trong nghề hát kịch, nổi tiếng khắp Diêm Phù Đề.

“Tassa pañca sakaṭasatāni pañca mātugāmasatāni parivāro, bhariyāyapissa tāvatakā.”
Ông có năm trăm cỗ xe và năm trăm nữ nhân trong đoàn tùy tùng; số vợ của ông cũng nhiều đến thế.

“Mātugāmasahassena ceva sakaṭasahassena ca saddhiṃ yaṃ yaṃ nagaraṃ vā nigamaṃ vā pavisati, tatthassa puretarameva satasahassaṃ denti.”
Khi ông cùng một ngàn nữ nhân và một ngàn cỗ xe đi vào bất kỳ thành phố hay thị trấn nào, người dân ở đó dâng tặng trước cho ông mười vạn đồng tiền.

“Samajjavesaṃ gaṇhitvā pana mātugāmasahassena saddhiṃ kīḷaṃ karontassa yaṃ hatthūpagapādūpagādiābharaṇajātaṃ khipanti, tassa pariyanto natthi.”
Khi ông vào rạp hát, cùng ngàn nữ nhân biểu diễn, thì  vô số những đồ trang sức ném lên sân khấu cho ông từ khán giả – vòng tay, vòng chân, và các thứ trang sức khác .

“So taṃdivasaṃ mātugāmasahassaparivārito rājagahe kīḷaṃ katvā paripakkañāṇattā saparivārova yena bhagavā tenupasaṅkami.”
Trong ngày hôm ấy, sau khi biểu diễn tại Rājagaha với đoàn ngàn nữ nhân, ông đã chín muồi trí tuệ, liền cùng cả đoàn đi đến yết kiến Thế Tôn.

  • “Saccālikenā”ti = saccena ca alikena ca: “bằng sự thật và hư nguỵ.”
  • “Tiṭṭhatetanti” = tiṭṭhatu etaṃ: “thôi, chớ hỏi điều ấy.”
  • “Rajanīyā”ti = những vở diễn gợi dục, như thổi sáo, ca hát, múa với áo quần nhiều màu sắc, hoặc những trò kích  dục.
  • “Bhiyyosomattāyā”ti = khiến tăng trưởng, thêm nhiều hơn.
  • “Dosanīyā”ti = những tiết mục tác động sân hận, như diễn cảnh chém giết, cắt chân tay, gây phẫn nộ.
  • “Mohanīyā”ti = những trò khơi dậy si mê, như lấy nước biến thành dầu, lấy dầu biến thành nước, v.v. – tức là những loại ảo thuật.

Về “Pahāso nāma nirayo”

Không có một địa ngục riêng biệt nào tên là “Địa ngục Cười.” Đây chính là một phần của địa ngục Avīci, nơi các chúng sanh bị hành phạt trong hình dáng như kịch sĩ, múa hát, ca cười, rồi bị thiêu đốt. Vì thế, đoạn kinh nói “sanh vào địa ngục Cười.”

Giải thích câu Talapuṭa khóc

Câu: “Nāhaṃ, bhante, etaṃ rodāmī” nghĩa là: “Bạch Thế Tôn, con không khóc vì lời dạy của Ngài.” Ở đây cần hiểu theo nghĩa có chủ ý (sakammaka), tức Talapuṭa khóc vì tự nhận ra mình đã bị lừa gạt lâu dài, chứ không phải chỉ đơn thuần do xúc động rơi lệ. Tương tự như trong ngôn ngữ đời thường có câu “khóc vì người chết” (mataṃ vā ammarodantī), ở đây cũng phải hiểu theo ý nghĩa thông thường.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

X. Thăm Người Bệnh (S.iv,302)

II. Puta (S.iv,306)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?

-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.

4) Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?

-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.

5) Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, các vị Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?

-- Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: "Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này". Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.

6) Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng si, còn bị lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời khiến cho lòng si của họ càng tăng thịnh.

7) Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: "Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh.

8) Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi nước mắt.

-- Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và nói: "Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này".

-- Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư vũ kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con rằng: "Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười".

9) Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!

10) Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.

11) Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa... trở thành một vị A-la-hán nữa.

-oo0oo-