|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 02 tháng 09, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 492. LỜI NGƯỜI XƯA NÓI… - Kinh Talapuṭa (Talapuṭasutta) . ....
Xưa bày nay làm vốn là chuyện thường tình. Thế nhưng
không có nghĩa vì thế mà những gì cổ nhân nói đều là chân lý.
Thật ra khả năng nhận biết sự thật vốn không nằm trong hạn cuộc
xưa hoặc nay. Con đường khai phóng vốn cần ánh sáng của trí tuệ
và sự can đảm đặt lại vấn đề. Không ai đạt đến chỗ chí thiện chỉ
đơn thuần bằng sự cả tin.
Kinh Văn
“addhā kho tyāhaṃ, gāmaṇi, na labhāmi {nālatthaṃ (syā. kaṃ.
pī. ka.)} — ‘alaṃ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṃ, mā maṃ etaṃ pucchī’ti.
api ca tyāhaṃ byākarissāmi. pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītarāgā
rāgabandhanabaddhā. tesaṃ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye
dhammā rajanīyā te upasaṃharati bhiyyosomattāya. pubbe kho,
gāmaṇi, sattā avītadosā dosabandhanabaddhā. tesaṃ naṭo
raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā dosanīyā te upasaṃharati
bhiyyosomattāya. pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītamohā
mohabandhanabaddhā. tesaṃ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye
dhammā mohanīyā te upasaṃharati bhiyyosomattāya. so attanā matto
pamatto pare madetvā pamādetvā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pahāso
nāma nirayo tattha upapajjati. sace kho panassa evaṃdiṭṭhi hoti
— ‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṃ hāseti
rameti, so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pahāsānaṃ devānaṃ
sahabyataṃ upapajjatī’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
micchādiṭṭhikassa kho panāhaṃ, gāmaṇi, purisapuggalassa dvinnaṃ
gatīnaṃ aññataraṃ gatiṃ vadāmi — nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ
vā”ti.
evaṃ vutte, tālapuṭo naṭagāmaṇi, parodi, assūni pavattesi.
“etaṃ kho tyāhaṃ, gāmaṇi, nālatthaṃ — ‘alaṃ, gāmaṇi,
tiṭṭhatetaṃ; mā maṃ etaṃ pucchī’”ti. “nāhaṃ, bhante, etaṃ rodāmi
yaṃ maṃ bhagavā evamāha; api cāhaṃ, bhante, pubbakehi
ācariyapācariyehi naṭehi dīgharattaṃ nikato vañcito paluddho —
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṃ hāseti
rameti so kāyassa bhedā paraṃ maraṇā pahāsānaṃ devānaṃ
sahabyataṃ upapajjatī’”ti. “abhikkantaṃ, bhante, abhikkantaṃ,
bhante! seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya,
paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya,
andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya — cakkhumanto rūpāni
dakkhantīti; evamevaṃ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
esāhaṃ, bhante, bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca
bhikkhusaṅghañca. labheyyāhaṃ, bhante, bhagavato santike
pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampadan”ti. alattha kho tālapuṭo
naṭagāmaṇi bhagavato santike pabbajjaṃ, alattha upasampadaṃ.
acirūpasampanno ca panāyasmā tālapuṭo ... pe ... arahataṃ
ahosīti. dutiyaṃ.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Rājagaha, tại Trúc Lâm, chỗ Sóc Ăn. Bấy giờ,
Talapuṭa, một diễn viên chính của đoàn kịch nghệ, đi đến Thế
Tôn; đến nơi, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một
bên, Talapuṭa bạch Thế Tôn:
“Thôi vừa rồi, này anh kép chính, chớ hỏi Ta điều ấy.”
“Chắc chắn, này anh kép chính, người không hiểu Ta khi Ta nói: ‘Thôi vừa
rồi, chớ hỏi Ta điều ấy.’ Nhưng nay Ta sẽ trả lời. Trong hí
trường hay rạp hát lộ thiên, đối với những người còn bị dục chi
phối, bị trói buộc bởi dục, diễn viên làm cho họ càng bị dục lôi
cuốn hơn. … Với những người bị sân chi phối, diễn viên làm cho
họ càng sân hận hơn. … Với những người bị si chi phối, diễn làm
cho họ càng mê hoặc hơn.”
Nghe vậy, Talapuṭa kép chính đoàn kịch, kêu lên và bật khóc.
“Bạch ĐứcThế Tôn, con không khóc vì lời Ngài dạy, mà vì con đã bị lừa gạt
quá lâu bởi các diễn viên xưa, những bậc thầy trong nghề, truyền
lại lời nói rằng: ‘Kịch sĩ làm người ta cười thì chết đi sẽ sanh
về hội chư Thiên cười đùa.’”
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Pháp
được Ngài trình bày rõ ràng bằng nhiều cách: như dựng đứng vật
bị lật ngược, phơi bày điều bị che giấu, chỉ đường cho kẻ lạc
lối, hay cầm đèn soi sáng trong bóng tối cho ai có mắt được thấy
sắc. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y Tăng. Cúi xin Thế
Tôn cho con được xuất gia, xin cho con được thọ Cụ túc giới.”
Chú Thích
Tên của ông có nghĩa là “màu trái thốt nốt.” Sớ giải nói ông được gọi như vậy vì màu da mặt giống như màu quả thốt nốt
chín vừa rụng khỏi cuống. Ông là điều hành của một đoàn kịch lớn
và đã trở nên nổi tiếng khắp Ấn Độ thời đó. Những bài kệ của vị
nầy, nổi bật bởi tính chất đạo đức nghiêm trang, nằm trong
Theragāthā các câu 1091–1145.
Chữ Saccālikena được dịch giả Woodward dịch là “bằng sự giả dạng sự thật”.
nhưng ngài Bodhi y cứ theo Sớ giải chú thích thích đây là một
hợp từ dvanda: nghĩa là “nữa thật nữa đùa.”
Theo Sớ giải thì không có một địa ngục riêng biệt nào với tên gọi này.
Thật ra, đây chính là một phần của địa ngục Avīci, nơi các chúng
sanh bị hành hạ trong hình thức như những diễn viên ca múa.
Kinh Ngưu Hành Giải, Cẩu Hành Giả trong Trung Bộ cũng có ghi là trường hợp
tương tự như kinh nầy nhưng
liên quan đến một tà kiến khác về tái sanh.
Sớ Giải
354. dutiye tālapuṭoti evaṃnāmako. tassa kira bandhanā
pamuttatālapakkavaṇṇo viya mukhavaṇṇo vippasanno ahosi, tenassa
tālapuṭoti nāmaṃ akaṃsu. svāyaṃ abhinīhārasampanno
pacchimabhavikapuggalo. yasmā pana paṭisandhi nāma aniyatā ākāse
khittadaṇḍasadisā, tasmā esa naṭakule nibbatti. vuḍḍhippatto
pana naṭasippe aggo hutvā sakalajambudīpe pākaṭo jāto. tassa
pañca sakaṭasatāni pañca mātugāmasatāni parivāro, bhariyāyapissa
tāvatakāvāti mātugāmasahassena ceva sakaṭasahassena ca saddhiṃ
yaṃ yaṃ nagaraṃ vā nigamaṃ vā pavisati, tatthassa puretarameva
satasahassaṃ denti. samajjavesaṃ gaṇhitvā pana mātugāmasahassena
saddhiṃ kīḷaṃ karontassa yaṃ hatthūpagapādūpagādiābharaṇajātaṃ
khipanti, tassa pariyanto natthi. so taṃdivasaṃ
mātugāmasahassaparivārito rājagahe kīḷaṃ katvā paripakkañāṇattā
saparivārova yena bhagavā tenupasaṅkami. ♦ saccālikenāti saccena
ca alikena ca. tiṭṭhatetanti tiṭṭhatu etaṃ. rajanīyāti
rāgappaccayā mukhato
pañcavaṇṇasuttanīharaṇavātavuṭṭhidassanādayo aññe ca
kāmassādasaṃyuttākāradassanakā abhinayā. bhiyyosomattāyāti
adhikappamāṇattāya. dosanīyāti dosappaccayā
hatthapādacchedādidassanākārā. mohanīyāti mohappaccayā udakaṃ
gahetvā telakaraṇaṃ, telaṃ gahetvā udakakaraṇanti evamādayo
māyāpabhedā. ♦ pahāso nāma nirayoti visuṃ pahāsanāmako nirayo
nāma natthi, avīcisseva pana ekasmiṃ koṭṭhāse naccantā viya
gāyantā viya ca naṭavesaṃ gahetvāva paccanti, taṃ sandhāyetaṃ
vuttaṃ. nāhaṃ, bhante, etaṃ rodāmīti ahaṃ, bhante, etaṃ
bhagavato byākaraṇaṃ na rodāmīti evaṃ sakammakavasenettha attho
veditabbo, na assuvimocanamattena. “mataṃ vā ammarodantī”tiādayo
cettha aññepi vohārā veditabbā.
354. Dutiye tālapuṭo ti evaṃnāmako.
“Tassa kira bandhanā pamuttatālapakkavaṇṇo viya mukhavaṇṇo vippasanno
ahosi, tenassa tālapuṭoti nāmaṃ akaṃsu.”
“Svāyaṃ abhinīhārasampanno pacchimabhavikapuggalo.”
“Yasmā pana paṭisandhi nāma aniyatā ākāse khittadaṇḍasadisā, tasmā esa
naṭakule nibbatti.”
“Vuḍḍhippatto pana naṭasippe aggo hutvā sakalajambudīpe pākaṭo jāto.”
“Tassa pañca sakaṭasatāni pañca mātugāmasatāni parivāro, bhariyāyapissa
tāvatakā.”
“Mātugāmasahassena ceva sakaṭasahassena ca saddhiṃ yaṃ yaṃ nagaraṃ vā
nigamaṃ vā pavisati, tatthassa puretarameva satasahassaṃ denti.”
“Samajjavesaṃ gaṇhitvā pana mātugāmasahassena saddhiṃ kīḷaṃ karontassa yaṃ
hatthūpagapādūpagādiābharaṇajātaṃ khipanti, tassa pariyanto
natthi.”
“So taṃdivasaṃ mātugāmasahassaparivārito rājagahe kīḷaṃ katvā
paripakkañāṇattā saparivārova yena bhagavā tenupasaṅkami.”
Về “Pahāso nāma nirayo”
Không có một địa ngục riêng biệt nào tên là “Địa ngục Cười.” Đây chính là
một phần của địa ngục Avīci, nơi các chúng sanh bị hành phạt
trong hình dáng như kịch sĩ, múa hát, ca cười, rồi bị thiêu đốt.
Vì thế, đoạn kinh nói “sanh vào địa ngục Cười.”
Giải thích câu Talapuṭa khóc
Câu: “Nāhaṃ, bhante, etaṃ rodāmī” nghĩa là: “Bạch Thế Tôn, con
không khóc vì lời dạy của Ngài.” Ở đây cần hiểu theo nghĩa có
chủ ý (sakammaka), tức Talapuṭa khóc vì tự nhận ra mình đã bị
lừa gạt lâu dài, chứ không phải chỉ đơn thuần do xúc động rơi
lệ. Tương tự như trong ngôn ngữ đời thường có câu “khóc vì người
chết” (mataṃ vā ammarodantī), ở đây cũng phải hiểu theo ý
nghĩa thông thường.
X. Thăm Người Bệnh (S.iv,302)
II. Puta (S.iv,306)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm,
chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
-- Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở
xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên
sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần
chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng
chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)". Ở
đây, Thế Tôn nói như thế nào?
-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi
Ta về điều này.
4) Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa
nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch, trên sân
khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần
chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng
chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế Tôn
nói như thế nào?
-- Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi
Ta về điều này.
5) Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, các vị Tổ sư
thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: "Ai là nhà vũ kịch,
trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật,
làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại
mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười". Ở đây, Thế
Tôn nói như thế nào?
-- Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: "Thôi vừa
rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều
này". Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.
6) Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước
chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ
kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp
hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn
trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ
lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân
khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân,
thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng,
đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng si, còn bị
lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch
trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời khiến cho lòng
si của họ càng tăng thịnh.
7) Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm
say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong
địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau:
"Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các
điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người
ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên
hay cười". Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn
trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một
là địa ngục, hai là súc sanh.
8) Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi
nước mắt.
-- Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và
nói: "Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi
Ta về điều này".
-- Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như
vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư vũ
kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn
lầm lạc con rằng: "Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch
trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười,
thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh
cộng trú với chư Thiên hay cười".
9) Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế
Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã
xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc
hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể
thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương
tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y
Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với
Thế Tôn, được thọ đại giới!
10) Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ
đại giới.
11) Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa... trở
thành một vị A-la-hán nữa. -oo0oo- |