BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 04 tháng 09, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 42. Tương Ưng Thôn Trưởng- SN 42.6.
Bài 494. KHI TỤNG NIỆM CHỈ LÀ CẦU NGUYỆN SUÔNG- Kinh Asibandhakaputta (Asibandhakaputtasutta) .

Hai bài kinh Hatthārohasuttaṃ (Kinh Người điều khiển chiến tượng) và Kinh Assārohasuttaṃ (Chiến sĩ Kỵ Binh) có nội dung giống như kinh trước Hatthārohasuttaṃ (Kinh Người điều khiển chiến tượng) Bấy giờ, thôn trưởng Hatthāroha, người điều khiển chiến tượng, đi đến Thế Tôn … (phần kinh văn tương tự như trước, kết thúc với:) “… từ nay, xin Thế Tôn ghi nhớ con là một cư sĩ trọn đời quy ngưỡng.” 5 Assāroha (Kỵ binh) Bấy giờ, thôn trưởng giả Assāroha, một viên tướng kỵ binh, đi đến Thế Tôn … và bạch rằng: (Tất cả nội dung như trong đoạn §3, chỉ khác là được trình bày theo hình ảnh kỵ binh (assāroha), người nỗ lực và hăng hái trong chiến trận.) .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-494.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Nghi thức cầu nguyện vốn rất phổ thông trong các tôn giáo. Theo Phật Pháp thì sự cầu nguyện đích thực cần thuận hợp với nghiệp báo nhân quả. Nếu cầu nguyện chỉ là nghi lễ thì không mang lại lợi lạc đích thực mà chỉ là hình thức lễ nghi. Người có hiểu biết thì tạo tác phước lành bằng thiện nghiệp và hồi hướng cho người mất. Tất nhiên, hiệu năng của sự hồi hướng còn tuỳ thuộc một phần ở nghiệp riêng của người quá vãng.

Kinh Văn

358. ekaṃ samayaṃ bhagavā nāḷandāyaṃ viharati pāvārikambavane. atha kho asibandhakaputto gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṃ etadavoca — “brāhmaṇā, bhante, pacchā bhūmakā kāmaṇḍalukā sevālamālikā udakorohakā aggiparicārakā. te mataṃ kālaṅkataṃ uyyāpenti nāma saññāpenti nāma saggaṃ nāma okkāmenti. bhagavā pana, bhante, arahaṃ sammāsambuddho pahoti tathā kātuṃ yathā sabbo loko kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyyā”ti? “tena hi, gāmaṇi, taññevettha paṭipucchissāmi. yathā te khameyya tathā naṃ byākareyyāsī”ti.

“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, idhassa puriso pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko. tamenaṃ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya — ‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatū’ti. taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu so puriso mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā anuparisakkanahetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyyā”ti? “no hetaṃ, bhante”.

“seyyathāpi, gāmaṇi, puriso mahatiṃ puthusilaṃ gambhīre udakarahade pakkhipeyya. tamenaṃ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya — ‘ummujja, bho puthusile, uplava, bho puthusile, thalamuplava, bho puthusile’ti. taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu sā puthusilā mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā anuparisakkanahetu vā ummujjeyya vā uplaveyya vā thalaṃ vā uplaveyyā”ti? “no hetaṃ, bhante”. “evameva kho, gāmaṇi, yo so puriso pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko. kiñcāpi taṃ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya — ‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatū’”ti, atha kho so puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyya.

“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, idhassa {idha (ka.), idha cassa (?)} puriso pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhiko. tamenaṃ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya — ‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatū’ti. taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu so puriso mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā anuparisakkanahetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyyā”ti? “no hetaṃ, bhante”.

“seyyathāpi, gāmaṇi, puriso sappikumbhaṃ vā telakumbhaṃ vā gambhīre udakarahade ogāhetvā bhindeyya. tatra yāssa sakkharā vā kaṭhalā vā sā adhogāmī {adhogāminī (?)} assa; yañca khvassa tatra sappi vā telaṃ vā taṃ uddhaṃ gāmi assa. tamenaṃ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya — ‘osīda, bho sappitela, saṃsīda, bho sappitela, adho gaccha, bho sappitelā’ti. taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu taṃ sappitelaṃ mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā anuparisakkanahetu vā osīdeyya vā saṃsīdeyya vā adho vā gaccheyyā”ti? “no hetaṃ, bhante”. “evameva kho, gāmaṇi, yo so puriso pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, pisuṇāya vācāya paṭivirato, pharusāya vācāya paṭivirato, samphappalāpā paṭivirato, anabhijjhālu, abyāpannacitto, sammādiṭṭhiko, kiñcāpi taṃ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya — ‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatū’ti, atha kho so puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyyā”ti. evaṃ vutte, asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṃ etadavoca — “abhikkantaṃ, bhante ... pe ... ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatan”ti. chaṭṭhaṃ.

Một  lần, Thế Tôn trú tại Nālandā, trong vườn xoài của Pāvārika. Khi ấy, thôn trưởng Asibandhakaputta đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn ở Phương Tây — những người mang bình nước, đội vòng hoa thủy sinh, tắm ngụp trong nước, và nuôi lửa thiêng — được nói rằng có thể dẫn dắt người chết đi lên, hướng dẫn họ, đưa họ đến cõi trời. Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, chắc chắn Ngài có khả năng khiến cho, sau khi thân hoại mạng chung, cả thế gian này được tái sanh vào thiện thú, thiên giới.”

[Thế Tôn bảo:]
“Này thôn trưởng, Ta sẽ hỏi ông. Hãy trả lời như ông nghĩ. Này thôn trưởng, giả sử có một người sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, đầy tham dục, sân hận, và có tà kiến. Rồi một đám đông lớn tụ hội quanh người ấy, với lời  tụng xưng tán, kính lễ nguyện cầu: ‘Sau khi chết, mong người này được sanh vào thiện thú, thiên giới.’ Này thôn trưởng, vì với lời  tụng xưng tán, kính lễ nguyện cầu, người kia sau khi chết có được sanh vào thiện thú, thiên giới không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Cũng vậy, thôn trưởng, như một tảng đá lớn bị ném xuống hồ nước sâu. Một đám đông lớn đến cầu nguyện, tán dương, đi nhiễu quanh tảng đá, nói: ‘Hãy nổi lên, hòn đá tốt! Hãy trồi lên bờ, hòn đá tốt!’ Này thôn trưởng, với lời  tụng xưng tán, kính lễ nguyện cầu thì hòn đá có thể nổi lên, trồi lên bờ không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Cũng vậy, thôn trưởng, nếu một người sát sinh, trộm cắp… có tà kiến, thì dẫu có đám đông cầu nguyện, tán dương, cung kính, người ấy sau khi chết sẽ sanh vào ác thú, đọa xứ, địa ngục.”

“Này thôn trưởng, ngược lại, giả sử có người không sát sinh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thô ác, không nói phù phiếm, không tham, không sân, có chánh kiến. Rồi một đám đông tụ họp quanh, với lời  tụng xưng tán, kính lễ nguyện cầu, đi nhiễu quanh và nói: ‘Sau khi chết, mong người này đọa ác thú, địa ngục.’ Này thôn trưởng, người ấy có đọa ác thú không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Cũng như người ta nhận chìm một hũ bơ sữa hoặc dầu trong hồ nước sâu rồi đập vỡ. Các mảnh sành thì chìm xuống, nhưng bơ sữa hoặc dầu thì nổi lên mặt nước. Dẫu đám đông có cầu nguyện: ‘Hãy chìm xuống đi, dầu tốt ơi! Hãy lặn xuống!’ Thì bơ sữa hoặc dầu ấy có chìm xuống không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Cũng vậy, thôn trưởng, nếu một người không sát sinh… có chánh kiến, thì dẫu đám đông có vì lời  tụng xưng tán, kính lễ nguyện cầu, người ấy sau khi chết vẫn được sanh vào thiện thú, thiên giới.”

Khi nghe vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch rằng:
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … Từ nay, xin Thế Tôn chứng minh cho con là một cư sĩ trọn đời quy ngưỡng.”

Chú Thích

Asibandhakaputta là một gāmaṇi (trưởng thôn, tộc trưởng). Ông đến gặp Đức Phật tại vườn xoài Pārileyyaka ở Nālandā và thưa hỏi nhiều vấn đề, được ghi lại trong Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya IV.312tt).

Pacchābhūmaka (Tây Vức) có lẽ là nguyên quán của Asibandhakaputta

Câu trả lời của Đức Phật với những ví dụ để dạy rằng: chỉ có nghiệp (kamma) của mỗi người mới quyết định tái sinh về đâu.

Trong một dịp khác, Đức Phật nói với ông (đáp lại một câu hỏi) rằng Như Lai chỉ thuyết pháp đầy đủ cho một số đệ tử nhất định, chứ không phải cho tất cả; cũng giống như một người nông dân gieo hạt, trước hết chọn ruộng tốt nhất, rồi đến ruộng trung bình, và sau cùng mới đến thửa đất xấu nhất. (bài kinh tiếp theo)

Asibandhakaputta cũng nói với Đức Phật rằng, theo quan điểm của Nigaṇṭha Nātaputta vì ông được mô tả là một Nigaṇṭha-sāvak (SN IV.317), thì “con người sẽ đi theo định mệnh đúng như cách sống hằng ngày của mình”. Đức Phật chỉ rõ sự vô lý của quan điểm ấy, và dạy rằng tất cả chư Như Lai đều đặt ra những quy tắc rõ ràng để hướng dẫn hàng đệ tử, nhờ đó họ có thể tu tập và tăng trưởng.

Sử ghi lại (SN IV.322tt) rằng, có lần Nālandā bị nạn đói, Asibandhaka đến gặp Nigaṇṭha Nātaputta. Thầy ông yêu cầu ông đi tranh luận để đánh bại Đức Phật. Ban đầu Asibandhaka còn do dự, nhưng Nātaputta đưa ra một thế lưỡng nan để ông đem hỏi Phật, và cuối cùng ông đồng ý.

Câu hỏi ấy là: “Có thật Đức Phật tán dương lòng từ bi đối với thân tộc không? Vậy thì tại sao Ngài lại đi khất thực ở một nơi đang bị nạn đói?” Đức Phật trả lời rằng có tám cách gây tổn hại cho thân tộc, và việc đi khất thực không nằm trong số đó. Nghe xong, Asibandhakaputta hoan hỷ với câu trả lời

Sớ Giải

 358. chaṭṭhe pacchābhūmakāti pacchābhūmivāsino. kāmaṇḍalukāti sakamaṇḍaluno. sevālamālikāti pātova udakato sevālañceva uppalādīni ca gahetvā udakasuddhikabhāvajānanatthāya mālaṃ katvā piḷandhanakā. udakorohakāti sāyaṃpātaṃ udakaṃ orohanakā. uyyāpentīti upari yāpenti. saññāpentīti sammā ñāpenti. saggaṃ nāma okkāmentīti parivāretvā ṭhitā “gaccha, bho, brahmalokaṃ, gaccha, bho, brahmalokan”ti vadantā saggaṃ pavesenti. anuparisakkeyyāti anuparigaccheyya. ummujjāti ummujja uṭṭhaha. thalamuplavāti thalamabhiruha. tatra yāssāti tatra yā bhaveyya. sakkharā vā kaṭhalā vāti sakkharā ca kaṭhalā ca. sā adhogāmī assāti sā adho gaccheyya, heṭṭhāgāmī bhaveyya. adhogacchāti heṭṭhā gaccha.

Chaṭṭhe pacchābhūmakāti pacchābhūmivāsino.
Trong bài kinh thứ sáu, “pacchābhūmaka” nghĩa là những người cư trú ở vùng phía Tây.

Kāmaṇḍalukāti sakamaṇḍaluno.
“Kāmaṇḍaluka” nghĩa là những người mang theo bình nước (kamandalu).

Sevālamālikāti pātova udakato sevālañceva uppalādīni ca gahetvā udakasuddhikabhāvajānanatthāya mālaṃ katvā piḷandhanakā.
“Sevālamālika” nghĩa là những người sáng sớm lấy rong rêu, sen và các loại thủy thảo trong nước, kết thành tràng hoa đeo trên người, để biểu thị việc thanh tịnh bằng nước.

Udakorohakāti sāyaṃpātaṃ udakaṃ orohanakā.
“Udakorohaka” nghĩa là những người sáng chiều xuống nước tắm rửa.

Uyyāpentīti upari yāpenti. Saññāpentīti sammā ñāpenti.
“Uyyāpenti” = nâng lên, dẫn đi; “saññāpenti” = báo tin, làm cho hiểu rõ.

Saggaṃ nāma okkāmentīti parivāretvā ṭhitā ‘gaccha, bho, brahmalokaṃ, gaccha, bho, brahmalokan’ti vadantā saggaṃ pavesenti.
“Đưa vào cõi trời” nghĩa là: họ đứng vây quanh người chết, nói: “Này ông, hãy đi lên Phạm thiên giới, hãy đi lên Phạm thiên giới,” rồi coi như đã đưa vào cõi trời.

Anuparisakkeyyāti anuparigaccheyya.
“Anuparisakkheyya” = có thể đi theo, đi cùng.

Ummujjāti ummujja uṭṭhaha.
“Ummujja” = trồi lên, nổi lên.

Thalamuplavāti thalam abhiruha.
“Thalamuplava” = nổi lên và trồi hẳn lên mặt đất.

Tatra yāssāti tatra yā bhaveyya.
“Tatra yāssa” = bất cứ thứ gì ở đó có.

Sakkharā vā kaṭhalā vāti sakkharā ca kaṭhalā ca.
“Sakkharā vā kaṭhalā vā” = sỏi đá hay cục đất.

Sā adhogāmī assāti sā adho gaccheyya, heṭṭhāgāmī bhaveyya. Adhogacchāti heṭṭhā gaccha.
Cái đó sẽ đi xuống, chìm xuống, hướng xuống phía dưới. “Adhogaccha” = hãy đi xuống.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

VI. Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết (S.iv,311)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.

2) Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn trú đất phương Tây, mang theo bình nước, đeo vòng hoa huệ (sevàla), nhờ nước được thanh tịnh. Những người thờ lửa, khi một người đã chết, đã mệnh chung, họ nhắc bổng và mang vị ấy ra ngoài (uyyàpenti), kêu tên vị ấy lên, và dẫn vị ấy vào Thiên giới. Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Thế Tôn có thể làm như thế nào cho toàn thể thế giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?

4) -- Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn hãy trả lời.

5) Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một người sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

6) -- Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!" Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

7) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ở đây, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân hận, có chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của quần chúng đông đảo ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

8) -- Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: "Hãy chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!". Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: "Mong rằng người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!" Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

9) Khi nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:

-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

-oo0oo-