|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 04 tháng 09, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 494. KHI TỤNG NIỆM CHỈ LÀ CẦU NGUYỆN SUÔNG- Kinh Asibandhakaputta (Asibandhakaputtasutta) . Hai bài kinh Hatthārohasuttaṃ (Kinh Người điều khiển chiến tượng) và Kinh Assārohasuttaṃ (Chiến sĩ Kỵ Binh) có nội dung giống như kinh trước Hatthārohasuttaṃ (Kinh Người điều khiển chiến tượng) Bấy giờ, thôn trưởng Hatthāroha, người điều khiển chiến tượng, đi đến Thế Tôn … (phần kinh văn tương tự như trước, kết thúc với:) “… từ nay, xin Thế Tôn ghi nhớ con là một cư sĩ trọn đời quy ngưỡng.” 5 Assāroha (Kỵ binh) Bấy giờ, thôn trưởng giả Assāroha, một viên tướng kỵ binh, đi đến Thế Tôn … và bạch rằng: (Tất cả nội dung như trong đoạn §3, chỉ khác là được trình bày theo hình ảnh kỵ binh (assāroha), người nỗ lực và hăng hái trong chiến trận.) .
Nghi thức cầu nguyện vốn rất phổ thông trong các tôn
giáo. Theo Phật Pháp thì sự cầu nguyện đích thực cần thuận hợp
với nghiệp báo nhân quả. Nếu cầu nguyện chỉ là nghi lễ thì không
mang lại lợi lạc đích thực mà chỉ là hình thức lễ nghi. Người có
hiểu biết thì tạo tác phước lành bằng thiện nghiệp và hồi hướng
cho người mất. Tất nhiên, hiệu năng của sự hồi hướng còn tuỳ
thuộc một phần ở nghiệp riêng của người quá vãng.Kinh Văn
358. ekaṃ samayaṃ bhagavā nāḷandāyaṃ viharati pāvārikambavane.
atha kho asibandhakaputto gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
ekamantaṃ nisinno kho asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṃ
etadavoca — “brāhmaṇā, bhante, pacchā bhūmakā kāmaṇḍalukā
sevālamālikā udakorohakā aggiparicārakā. te mataṃ kālaṅkataṃ
uyyāpenti nāma saññāpenti nāma saggaṃ nāma okkāmenti. bhagavā
pana, bhante, arahaṃ sammāsambuddho pahoti tathā kātuṃ yathā
sabbo loko kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ
upapajjeyyā”ti? “tena hi, gāmaṇi, taññevettha paṭipucchissāmi.
yathā te khameyya tathā naṃ byākareyyāsī”ti.
“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, idhassa puriso pāṇātipātī adinnādāyī
kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī
abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko. tamenaṃ mahā janakāyo
saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya —
‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ
upapajjatū’ti. taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu so puriso mahato
janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā
anuparisakkanahetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ
lokaṃ upapajjeyyā”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“seyyathāpi, gāmaṇi, puriso mahatiṃ puthusilaṃ gambhīre
udakarahade pakkhipeyya. tamenaṃ mahā janakāyo saṅgamma
samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya —
‘ummujja, bho puthusile, uplava, bho puthusile, thalamuplava,
bho puthusile’ti. taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu sā puthusilā
mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā pañjalikā
anuparisakkanahetu vā ummujjeyya vā uplaveyya vā thalaṃ vā
uplaveyyā”ti? “no hetaṃ, bhante”. “evameva kho, gāmaṇi, yo so
puriso pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī
pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto
micchādiṭṭhiko. kiñcāpi taṃ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma
āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya — ‘ayaṃ puriso
kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjatū’”ti,
atha kho so puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ
vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyya.
“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, idhassa {idha (ka.), idha cassa (?)}
puriso pāṇātipātā paṭivirato adinnādānā paṭivirato
kāmesumicchācārā paṭivirato musāvādā paṭivirato pisuṇāya vācāya
paṭivirato pharusāya vācāya paṭivirato samphappalāpā paṭivirato
anabhijjhālu abyāpannacitto sammādiṭṭhiko. tamenaṃ mahā janakāyo
saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko anuparisakkeyya —
‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ
vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatū’ti. taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu
so puriso mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā
pañjalikā anuparisakkanahetu vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā
apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyyā”ti? “no hetaṃ,
bhante”.
“seyyathāpi, gāmaṇi, puriso sappikumbhaṃ vā telakumbhaṃ vā
gambhīre udakarahade ogāhetvā bhindeyya. tatra yāssa sakkharā vā
kaṭhalā vā sā adhogāmī {adhogāminī (?)} assa; yañca khvassa
tatra sappi vā telaṃ vā taṃ uddhaṃ gāmi assa. tamenaṃ mahā
janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko
anuparisakkeyya — ‘osīda, bho sappitela, saṃsīda, bho sappitela,
adho gaccha, bho sappitelā’ti. taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, api nu
taṃ sappitelaṃ mahato janakāyassa āyācanahetu vā thomanahetu vā
pañjalikā anuparisakkanahetu vā osīdeyya vā saṃsīdeyya vā adho
vā gaccheyyā”ti? “no hetaṃ, bhante”. “evameva kho, gāmaṇi, yo so
puriso pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato,
kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, pisuṇāya
vācāya paṭivirato, pharusāya vācāya paṭivirato, samphappalāpā
paṭivirato, anabhijjhālu, abyāpannacitto, sammādiṭṭhiko, kiñcāpi
taṃ mahā janakāyo saṅgamma samāgamma āyāceyya thomeyya pañjaliko
anuparisakkeyya — ‘ayaṃ puriso kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ
duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjatū’ti, atha kho so puriso
kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyyā”ti.
evaṃ vutte, asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṃ etadavoca —
“abhikkantaṃ, bhante ... pe ... ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ
gatan”ti. chaṭṭhaṃ.
Một lần, Thế Tôn trú tại Nālandā,
trong vườn xoài của Pāvārika. Khi ấy, thôn trưởng
Asibandhakaputta đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên và bạch
rằng:
[Thế Tôn bảo:]
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Cũng vậy, thôn trưởng, như một tảng đá lớn bị ném xuống hồ nước sâu. Một
đám đông lớn đến cầu nguyện, tán dương, đi nhiễu quanh tảng đá,
nói: ‘Hãy nổi lên, hòn đá tốt! Hãy trồi lên bờ, hòn đá tốt!’ Này
thôn trưởng, với lời
tụng xưng tán, kính lễ nguyện cầu thì hòn đá có thể nổi lên,
trồi lên bờ không?”
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Cũng vậy, thôn trưởng, nếu một người sát sinh, trộm cắp… có tà kiến, thì
dẫu có đám đông cầu nguyện, tán dương, cung kính, người ấy sau
khi chết sẽ sanh vào ác thú, đọa xứ, địa ngục.”
“Này thôn trưởng, ngược lại, giả sử có người không sát sinh, không trộm
cắp, không tà hạnh, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói
thô ác, không nói phù phiếm, không tham, không sân, có chánh
kiến. Rồi một đám đông tụ họp quanh, với lời
tụng xưng tán, kính lễ nguyện cầu, đi nhiễu quanh và nói:
‘Sau khi chết, mong người này đọa ác thú, địa ngục.’ Này thôn
trưởng, người ấy có đọa ác thú không?”
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Cũng như người ta nhận chìm một hũ bơ sữa hoặc dầu trong hồ nước sâu rồi
đập vỡ. Các mảnh sành thì chìm xuống, nhưng bơ sữa hoặc dầu thì
nổi lên mặt nước. Dẫu đám đông có cầu nguyện: ‘Hãy chìm xuống
đi, dầu tốt ơi! Hãy lặn xuống!’ Thì bơ sữa hoặc dầu ấy có chìm
xuống không?”
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Cũng vậy, thôn trưởng, nếu một người không sát sinh… có chánh kiến, thì
dẫu đám đông có vì lời
tụng xưng tán, kính lễ nguyện cầu, người ấy sau khi chết
vẫn được sanh vào thiện thú, thiên giới.”
Khi nghe vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch rằng:
Chú Thích
Asibandhakaputta là một gāmaṇi (trưởng thôn, tộc trưởng). Ông đến gặp Đức
Phật tại vườn xoài Pārileyyaka ở Nālandā và thưa hỏi nhiều vấn
đề, được ghi lại trong Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya
IV.312tt).
Pacchābhūmaka (Tây Vức) có lẽ là nguyên quán của Asibandhakaputta
Câu trả lời của Đức Phật với những ví dụ để dạy rằng: chỉ có nghiệp
(kamma) của mỗi người mới quyết định tái sinh về đâu.
Trong một dịp khác, Đức Phật nói với ông (đáp lại một câu hỏi) rằng Như
Lai chỉ thuyết pháp đầy đủ cho một số đệ tử nhất định, chứ không
phải cho tất cả; cũng giống như một người nông dân gieo hạt,
trước hết chọn ruộng tốt nhất, rồi đến ruộng trung bình, và sau
cùng mới đến thửa đất xấu nhất. (bài kinh tiếp theo)
Asibandhakaputta cũng nói với Đức Phật rằng, theo quan điểm của Nigaṇṭha
Nātaputta vì ông được mô tả là một Nigaṇṭha-sāvak (SN IV.317),
thì “con người sẽ đi theo định mệnh đúng như cách sống hằng ngày
của mình”. Đức Phật chỉ rõ sự vô lý của quan điểm ấy, và dạy
rằng tất cả chư Như Lai đều đặt ra những quy tắc rõ ràng để
hướng dẫn hàng đệ tử, nhờ đó họ có thể tu tập và tăng trưởng.
Sử ghi lại (SN IV.322tt) rằng, có lần Nālandā bị nạn đói, Asibandhaka đến
gặp Nigaṇṭha Nātaputta. Thầy ông yêu cầu ông đi tranh luận để
đánh bại Đức Phật. Ban đầu Asibandhaka còn do dự, nhưng
Nātaputta đưa ra một thế lưỡng nan để ông đem hỏi Phật, và cuối
cùng ông đồng ý.
Câu hỏi ấy là: “Có thật Đức Phật tán dương lòng từ bi đối với thân tộc
không? Vậy thì tại sao Ngài lại đi khất thực ở một nơi đang bị
nạn đói?” Đức Phật trả lời rằng có tám cách gây tổn hại cho thân
tộc, và việc đi khất thực không nằm trong số đó. Nghe xong,
Asibandhakaputta hoan hỷ với câu trả lời
Sớ Giải
358. chaṭṭhe
pacchābhūmakāti pacchābhūmivāsino. kāmaṇḍalukāti sakamaṇḍaluno.
sevālamālikāti pātova udakato sevālañceva uppalādīni ca gahetvā
udakasuddhikabhāvajānanatthāya mālaṃ katvā piḷandhanakā.
udakorohakāti sāyaṃpātaṃ udakaṃ orohanakā. uyyāpentīti upari
yāpenti. saññāpentīti sammā ñāpenti. saggaṃ nāma okkāmentīti
parivāretvā ṭhitā “gaccha, bho, brahmalokaṃ, gaccha, bho,
brahmalokan”ti vadantā saggaṃ pavesenti. anuparisakkeyyāti
anuparigaccheyya. ummujjāti ummujja uṭṭhaha. thalamuplavāti
thalamabhiruha. tatra yāssāti tatra yā bhaveyya. sakkharā vā
kaṭhalā vāti sakkharā ca kaṭhalā ca. sā adhogāmī assāti sā adho
gaccheyya, heṭṭhāgāmī bhaveyya. adhogacchāti heṭṭhā gaccha.
Chaṭṭhe pacchābhūmakāti pacchābhūmivāsino.
Kāmaṇḍalukāti sakamaṇḍaluno.
Sevālamālikāti pātova udakato sevālañceva uppalādīni ca gahetvā
udakasuddhikabhāvajānanatthāya mālaṃ katvā piḷandhanakā.
Udakorohakāti sāyaṃpātaṃ udakaṃ orohanakā.
Uyyāpentīti upari yāpenti. Saññāpentīti sammā ñāpenti.
Saggaṃ nāma okkāmentīti parivāretvā ṭhitā ‘gaccha, bho, brahmalokaṃ,
gaccha, bho, brahmalokan’ti vadantā saggaṃ pavesenti.
Anuparisakkeyyāti anuparigaccheyya.
Ummujjāti ummujja uṭṭhaha.
Thalamuplavāti thalam abhiruha.
Tatra yāssāti tatra yā bhaveyya.
Sakkharā vā kaṭhalā vāti sakkharā ca kaṭhalā ca.
Sā adhogāmī assāti sā adho gaccheyya, heṭṭhāgāmī bhaveyya. Adhogacchāti
heṭṭhā gaccha.
VI. Người Ðất Phương
Tây hay Người Ðã Chết (S.iv,311)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
2) Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi
đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế
Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, các vị Bà-la-môn trú đất phương Tây, mang
theo bình nước, đeo vòng hoa huệ (sevàla), nhờ nước được thanh
tịnh. Những người thờ lửa, khi một người đã chết, đã mệnh chung,
họ nhắc bổng và mang vị ấy ra ngoài (uyyàpenti), kêu tên vị ấy
lên, và dẫn vị ấy vào Thiên giới. Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là
bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Thế Tôn có thể làm như thế nào
cho toàn thể thế giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh
lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?
4) -- Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông
kham nhẫn hãy trả lời.
5) Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một người sát
sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói
láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam,
sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ
họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng:
"Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên
thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn
trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do
nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân
hoại mạng chung, người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới,
cõi đời này?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
6) -- Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn
ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập,
tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói
rằng: "Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy
trôi vào bờ, này tảng đá lớn!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn
trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy,
hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể
trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của
không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai
lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo
tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu
khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người
này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú,
Thiên giới, cõi đời này!" Nhưng người ấy, sau khi thân hoại mạng
chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
7) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ở đây, có người từ bỏ
sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các
dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ
bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân hận, có chánh
tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu
khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: "Mong người
này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi dữ, ác thú,
đọa xứ, địa ngục!" Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy
do nhân cầu khẩn của quần chúng đông đảo ấy, hay do nhân tán
dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng
chung, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
8) -- Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè
sữa đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi
đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay từng
mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời nổi lên
trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn,
tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: "Hãy chìm xuống, này
sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa đông và dầu. Hãy
chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!". Ông nghĩ thế nào, này
Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có do nhân cầu khẩn của đám
quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán dương, do nhân chấp tay đi
cùng khắp của quần chúng đông đảo ấy nên bị chìm xuống, hay chìm
sâu xuống, hay đi xuống tận đáy không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ
lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói
láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù
phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri kiến. Rồi một
quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương,
chấp tay đi cùng khắp và nói: "Mong rằng người này, sau khi thân
hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!"
Nhưng người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện
thú, Thiên giới, cõi đời này.
9) Khi nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế
Tôn:
-- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế
Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã
xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc
hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể
thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương
tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y
Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ,
từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng! -oo0oo- |