|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 10 tháng 09, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 498. SA MÔN KHÔNG THỦ ĐẮC VÀNG BẠC- Kinh Maṇicūḷaka (Maṇicūḷakasuttaṃ) . ... .
Trên phương diện vật chất, đời sống của một sa môn
theo lời Phật chế định học giới không thủ đắc vàng và bạc vốn
mời gọi trộm cướp; chi phối sự toàn tâm tu tập; đôi khi cũng có
thể khiến bỏ cuộc tu vì sự lôi cuốn của đời sống thế tục. Trong
thời cổ đại, sa môn hạnh được biết là cuộc sống du phương với tư
cụ giản dị là y và bát. Không làm gánh nặng cho ai mà tự thân
cũng thong dong như hạc nội mây ngàn.
Kinh Văn
362. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane
kalandakanivāpe. tena kho pana samayena rājantepure rājaparisāya
sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi — “kappati
samaṇānaṃ sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, sādiyanti samaṇā
sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā
jātarūparajatan”ti!
tena kho pana samayena maṇicūḷako gāmaṇi tassaṃ parisāyaṃ
nisinno hoti. atha kho maṇicūḷako gāmaṇi taṃ parisaṃ etadavoca —
“mā ayyo {ayyā (sī. pī.)} evaṃ avacuttha. na kappati samaṇānaṃ
sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, na sādiyanti samaṇā
sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nappaṭiggaṇhanti samaṇā
sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā
sakyaputtiyā apetajātarūparajatā”ti. asakkhi kho maṇicūḷako
gāmaṇi taṃ parisaṃ saññāpetuṃ. atha kho maṇicūḷako gāmaṇi yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho maṇicūḷako gāmaṇi
bhagavantaṃ etadavoca — “idha, bhante, rājantepure rājaparisāya
sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi — ‘kappati
samaṇānaṃ sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, sādiyanti samaṇā
sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā
jātarūparajatan’ti. evaṃ vutte, ahaṃ, bhante, taṃ parisaṃ
etadavocaṃ — ‘mā ayyo evaṃ avacuttha. na kappati samaṇānaṃ
sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, na sādiyanti samaṇā
sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nappaṭiggaṇhanti samaṇā
sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā
sakyaputtiyā apetajātarūparajatā’ti. asakkhiṃ khvāhaṃ, bhante,
taṃ parisaṃ saññāpetuṃ. kaccāhaṃ, bhante, evaṃ byākaramāno
vuttavādī ceva bhagavato homi, na ca bhagavantaṃ abhūtena
abbhācikkhāmi, dhammassa cānudhammaṃ byākaromi, na ca koci
sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṃ ṭhānaṃ āgacchatī”ti? “taggha tvaṃ, gāmaṇi, evaṃ byākaramāno vuttavādī ceva me hosi, na ca maṃ abhūtena abbhācikkhasi, dhammassa cānudhammaṃ byākarosi, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṃ ṭhānaṃ āgacchati. na hi, gāmaṇi, kappati samaṇānaṃ sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, na sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nappaṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā sakyaputtiyā apetajātarūparajatā. yassa kho, gāmaṇi, jātarūparajataṃ kappati, pañcapi tassa kāmaguṇā kappanti. yassa pañca kāmaguṇā kappanti ( ) {(tassapi jātarūparajataṃ kappati,) (syā. kaṃ.)}, ekaṃsenetaṃ, gāmaṇi, dhāreyyāsi assamaṇadhammo asakyaputtiyadhammoti. api cāhaṃ, gāmaṇi, evaṃ vadāmi — tiṇaṃ tiṇatthikena pariyesitabbaṃ, dāru dārutthikena pariyesitabbaṃ, sakaṭaṃ sakaṭatthikena pariyesitabbaṃ, puriso purisatthikena pariyesitabbo {pariyesitabbo””ti (?)} . natvevāhaṃ, gāmaṇi, kenaci pariyāyena ‘jātarūparajataṃ sāditabbaṃ pariyesitabban’ti vadāmī”ti. dasamaṃ.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Rājagaha, tại Trúc Lâm (Veḷuvana),
trong khu vực Kalandakanivāpa. Lúc bấy giờ, những người trong
hoàng tộc nhóm họp tại cung điện, ngồi lại với nhau, và câu
chuyện sau đây khởi lên:
Nếu vàng bạc là hợp pháp cho bất cứ ai, thì năm dục trưởng dưỡng cũng là
hợp pháp cho người ấy. Nếu năm dục trưởng dưỡng là hợp pháp cho
bất cứ ai, thì, này thôn trưởng, chắc chắn ông có thể xem người
ấy không có hạnh của Sa-môn, không có hạnh của bậc Thích tử.”
Chú Thích
Quy định này thuộc điều luật ưng xả đối trị số 18; xem Vinaya I
236–239[Luật Tạng quyển I, trang 236 đến 239] và Vinaya I trang
245, đoạn 2–7. Bài kinh này được trích dẫn tại Vinaya I trang
296–297 như là minh chứng cho việc cấm chư Tỳ-khưu nhận vàng và
bạc.
Không có nhiều sử liệu về thôn trưởng Maṇicūḷaka ngoài sự ghi nhận ông là
một trưởng làng tại kinh đô Rājagaha. Đây là bài kinh duy nhất
trong Tam tạng đề cập tới nhân vật nầy. Tên của ông có nghĩa là
“viên ngọc trên búi tóc”
Theo lời Phật dạy sự chấp nhận cho những tăng sĩ thủ đắc vàng đồng nghĩa
với việc cho phép năm dục trưởng dưỡng (pañca kāmaguṇā). Như
vậy, nhất định phải hiểu rằng đó không phải là hạnh của Sa-môn,
không phải là hạnh của bậc Thích tử
Sớ Giải
362. dasame taṃ parisaṃ etadavocāti tassa kira evaṃ ahosi
“kulaputtā pabbajantā puttadārañceva jātarūparajatañca pahāyeva
pabbajanti, na ca sakkā yaṃ pahāya pabbajitā, taṃ tehi
gahetun”ti nayaggāhe ṭhatvā “mā ayyo”tiādivacanaṃ avoca.
ekaṃsenetanti etaṃ pañcakāmaguṇakappanaṃ assamaṇadhammo
asakyaputtiyadhammoti ekaṃsena dhāreyyāsi.
Tiṇanti senāsanacchadanatiṇaṃ. pariyesitabbanti tiṇacchadane
vā iṭṭhakacchadane vā gehe palujjante yehi taṃ kāritaṃ, tesaṃ
santikaṃ gantvā “tumhehi kāritasenāsanaṃ ovassati, na sakkā
tattha vasitun”ti ācikkhitabbaṃ. manussā sakkontā karissanti,
asakkontā “tumhe vaḍḍhakiṃ gahetvā kārāpetha, mayaṃ te
saññāpessāmā”ti vakkhanti. evaṃ vutte kāretvā tesaṃ
ācikkhitabbaṃ. manussā vaḍḍhakīnaṃ dātabbaṃ dassanti. sace
āvāsasāmikā natthi, aññesampi bhikkhācāravattena ārocetvā
kāretuṃ vaṭṭati. idaṃ sandhāya “pariyesitabban”ti vuttaṃ.
Dārunti senāsane gopānasiādīsu palujjamānesu tadatthāya
dāruṃ. sakaṭanti gihivikataṃ katvā tāvakālikasakaṭaṃ. na
kevalañca sakaṭameva, aññampi vāsipharasukuddālādiupakaraṇaṃ
evaṃ pariyesituṃ vaṭṭati. purisoti hatthakammavasena puriso
pariyesitabbo. yaṃkiñci hi purisaṃ “hatthakammaṃ, āvuso, katvā
dassasī”ti vatvā “dassāmi, bhante,”ti vutte “idañcidañca
karohī”ti yaṃ icchati, taṃ kāretuṃ vaṭṭati. na tvevāhaṃ, gāmaṇi,
kenaci pariyāyenāti jātarūparajataṃ panāhaṃ kenacipi kāraṇena
pariyesitabbanti na vadāmi.
362.
Dasame taṃ parisaṃ etadavocāti – Trong
kinh thứ mười, (Maṇicūḷaka) nói với hội chúng ấy như vậy.
Ekaṃsenetaṃ – Điều này (tức sự cho phép vàng bạc)
đồng nghĩa với việc cho phép năm dục trưởng dưỡng (pañca
kāmaguṇā). Như vậy, nhất định phải hiểu rằng đó không phải
là hạnh của Sa-môn, không phải là hạnh của bậc Thích tử.
Về ví dụ trong kinh:
Tiṇanti – “Cỏ”: tức là cỏ dùng để che mái am,
làm chỗ trú (senāsana-chādana-tiṇaṃ).
Điểm chính Sớ giải:
X. Manicùlam (Châu báu trên đỉnh đầu)
(S.iv,325)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana
(Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Lúc bấy giờ trong cung vua, quần thần nhà vua đang ngồi
tụ họp, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Các Sa-môn thuộc dòng
Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được giữ
vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy vàng bạc".
3) Lúc bấy giờ, thôn trưởng Manicùlaka đang ngồi trong hội
chúng ấy.
4) Rồi thôn trưởng Manicùlaka thưa với hội chúng ấy: "Các
Tôn giả chớ có nói như vậy. Các Sa-môn Thích tử không được phép
dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các
Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích
tử từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc". Nhưng
thôn trưởng Manicùlaka không có thể làm cho hội chúng ấy chấp
nhận.
5) Rồi thôn trưởng Manicùlaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
6) Ngồi một bên, thôn trưởng Manicùlaka bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong cung vua, một số quần thần nhà
vua đang ngồi tụ họp, và câu chuyện sau đây được khởi lên: "Các
Sa-môn Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử
được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy vàng bạc".
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với hội chúng ấy: "Các
Tôn giả chớ có nói như vậy. Các Sa-môn Thích tử không được phép
dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các
Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích
tử từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc". Nhưng
bạch Thế Tôn, con không có thể làm cho hội chúng ấy chấp nhận.
7) Trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, không biết con có nói đúng
lời Thế Tôn? Con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật?
Con đã trả lời thuận pháp, đúng pháp và không một ai nói lời
tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích?
-- Trả lời như vậy, này Thôn trưởng, Ông nói đúng lời của
Ta. Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật. Ông đã trả lời
thuận pháp, đúng pháp và không một ai nói lời tương ứng đúng
pháp có lý do để chỉ trích.
8) Này Thôn trưởng, các Sa-môn Thích tử không được phép dùng
vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các
Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích
tử đã từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc. Ðối
với ai được dùng vàng bạc, người ấy cũng được phép dùng năm dục
công đức. Ðối với ai được phép dùng năm dục công đức, người ấy
hoàn toàn thọ trì phi Sa-môn pháp, phi Thích tử pháp. Này Thôn
trưởng, Ta nói như sau: Cỏ được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỏ.
Củi được đi tìm cầu bởi ai cần đến củi. Cỗ xe được đi tìm cầu
bởi ai cần đến cỗ xe. Người được đi tìm cầu bởi ai cần đến
người. Nhưng này Thôn trưởng, không bất cứ một lý do gì Ta nói
rằng vàng, bạc được chấp nhận, được tìm cầu. -oo0oo- |