BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 10 tháng 09, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 42. Tương Ưng Thôn Trưởng- SN 42.10.
Bài 498. SA MÔN KHÔNG THỦ ĐẮC VÀNG BẠC- Kinh Maṇicūḷaka (Maṇicūḷakasuttaṃ) .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-498.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Trên phương diện vật chất, đời sống của một sa môn theo lời Phật chế định học giới không thủ đắc vàng và bạc vốn mời gọi trộm cướp; chi phối sự toàn tâm tu tập; đôi khi cũng có thể khiến bỏ cuộc tu vì sự lôi cuốn của đời sống thế tục. Trong thời cổ đại, sa môn hạnh được biết là cuộc sống du phương với tư cụ giản dị là y và bát. Không làm gánh nặng cho ai mà tự thân cũng thong dong như hạc nội mây ngàn.

Kinh Văn

362. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. tena kho pana samayena rājantepure rājaparisāya sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi — “kappati samaṇānaṃ sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajatan”ti!

tena kho pana samayena maṇicūḷako gāmaṇi tassaṃ parisāyaṃ nisinno hoti. atha kho maṇicūḷako gāmaṇi taṃ parisaṃ etadavoca — “mā ayyo {ayyā (sī. pī.)} evaṃ avacuttha. na kappati samaṇānaṃ sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, na sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nappaṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā sakyaputtiyā apetajātarūparajatā”ti. asakkhi kho maṇicūḷako gāmaṇi taṃ parisaṃ saññāpetuṃ. atha kho maṇicūḷako gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho maṇicūḷako gāmaṇi bhagavantaṃ etadavoca — “idha, bhante, rājantepure rājaparisāya sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ ayamantarākathā udapādi — ‘kappati samaṇānaṃ sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajatan’ti. evaṃ vutte, ahaṃ, bhante, taṃ parisaṃ etadavocaṃ — ‘mā ayyo evaṃ avacuttha. na kappati samaṇānaṃ sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, na sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nappaṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā sakyaputtiyā apetajātarūparajatā’ti. asakkhiṃ khvāhaṃ, bhante, taṃ parisaṃ saññāpetuṃ. kaccāhaṃ, bhante, evaṃ byākaramāno vuttavādī ceva bhagavato homi, na ca bhagavantaṃ abhūtena abbhācikkhāmi, dhammassa cānudhammaṃ byākaromi, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṃ ṭhānaṃ āgacchatī”ti?

“taggha tvaṃ, gāmaṇi, evaṃ byākaramāno vuttavādī ceva me hosi, na ca maṃ abhūtena abbhācikkhasi, dhammassa cānudhammaṃ byākarosi, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṃ ṭhānaṃ āgacchati. na hi, gāmaṇi, kappati samaṇānaṃ sakyaputtiyānaṃ jātarūparajataṃ, na sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nappaṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṃ, nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā sakyaputtiyā apetajātarūparajatā. yassa kho, gāmaṇi, jātarūparajataṃ kappati, pañcapi tassa kāmaguṇā kappanti. yassa pañca kāmaguṇā kappanti ( ) {(tassapi jātarūparajataṃ kappati,) (syā. kaṃ.)}, ekaṃsenetaṃ, gāmaṇi, dhāreyyāsi assamaṇadhammo asakyaputtiyadhammoti. api cāhaṃ, gāmaṇi, evaṃ vadāmi — tiṇaṃ tiṇatthikena pariyesitabbaṃ, dāru dārutthikena pariyesitabbaṃ, sakaṭaṃ sakaṭatthikena pariyesitabbaṃ, puriso purisatthikena pariyesitabbo {pariyesitabbo””ti (?)} . natvevāhaṃ, gāmaṇi, kenaci pariyāyena ‘jātarūparajataṃ sāditabbaṃ pariyesitabban’ti vadāmī”ti. dasamaṃ.

Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Rājagaha, tại Trúc Lâm (Veḷuvana), trong khu vực Kalandakanivāpa. Lúc bấy giờ, những người trong hoàng tộc nhóm họp tại cung điện, ngồi lại với nhau, và câu chuyện sau đây khởi lên:
“Vàng bạc là hợp pháp cho các Sa-môn theo dòng Thích tử; các Sa-môn theo dòng Thích tử đồng ý dùng vàng bạc; các Sa-môn theo dòng Thích tử chấp nhận vàng bạc.”
Bấy giờ, Maṇicūḷaka, vị thôn trưởng, đang ngồi trong hội chúng ấy. Rồi Maṇicūḷaka thôn trưởng nói với hội chúng:
“Chư vị chớ nói như vậy, các ngài! Vàng bạc không phải là hợp pháp cho các Sa-môn theo dòng Thích tử; các Sa-môn theo dòng Thích tử không đồng ý dùng vàng bạc; các Sa-môn theo dòng Thích tử không chấp nhận vàng bạc. Họ đã từ bỏ châu báu và vàng, đã xả bỏ việc sử dụng vàng bạc.” Và Maṇicūḷaka đã có thể thuyết phục được hội chúng ấy.
Sau đó, Maṇicūḷaka đến gần Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, ông thuật lại với Thế Tôn tất cả những gì đã xảy ra, rồi bạch thêm:
“Bạch Thế Tôn, mong rằng khi con trả lời như vậy, con đã nói đúng điều Thế Tôn dạy, không gán cho Thế Tôn điều trái sự thật; rằng con đã giải thích phù hợp với Pháp; và lời tuyên bố của con không có lý do chánh đáng để chê trách.”
“Này thôn trưởng, đúng vậy. Khi ông trả lời như thế, ông đã nói đúng điều Ta dạy, không gán cho Ta điều trái sự thật; ông đã giải thích phù hợp với Pháp; và lời tuyên bố của ông không có lý do chánh đáng để sự chê trách. Vì này thôn trưởng, vàng bạc không phải là hợp pháp cho các Sa-môn theo dòng Thích tử; các Sa-môn theo dòng Thích tử không đồng ý dùng vàng bạc; các Sa-môn theo dòng Thích tử không chấp nhận vàng bạc. Họ đã từ bỏ châu báu và vàng, đã xả bỏ việc sử dụng vàng bạc.

Nếu vàng bạc là hợp pháp cho bất cứ ai, thì năm dục trưởng dưỡng cũng là hợp pháp cho người ấy. Nếu năm dục trưởng dưỡng là hợp pháp cho bất cứ ai, thì, này thôn trưởng, chắc chắn ông có thể xem người ấy không có hạnh của Sa-môn, không có hạnh của bậc Thích tử.”
“Hơn nữa, này thôn trưởng, Ta còn nói như vầy: ‘Rơm rạ thì có thể tìm bởi người cần rơm rạ; gỗ thì có thể tìm bởi người cần gỗ; xe thì có thể tìm bởi người cần xe; thợ thì có thể tìm bởi người cần thợ. Nhưng Ta không hề nói rằng có bất cứ phương cách nào để vàng  và bạc có thể được chấp nhận hay được tìm kiếm (bởi chư vị Thích Tử .’”

Chú Thích

Quy định này thuộc điều luật ưng xả đối trị số 18; xem Vinaya I 236–239[Luật Tạng quyển I, trang 236 đến 239] và Vinaya I trang 245, đoạn 2–7. Bài kinh này được trích dẫn tại Vinaya I trang 296–297 như là minh chứng cho việc cấm chư Tỳ-khưu nhận vàng và bạc.

Không có nhiều sử liệu về thôn trưởng Maṇicūḷaka ngoài sự ghi nhận ông là một trưởng làng tại kinh đô Rājagaha. Đây là bài kinh duy nhất trong Tam tạng đề cập tới nhân vật nầy. Tên của ông có nghĩa là “viên ngọc trên búi tóc”

Theo lời Phật dạy sự chấp nhận cho những tăng sĩ thủ đắc vàng đồng nghĩa với việc cho phép năm dục trưởng dưỡng (pañca kāmaguṇā). Như vậy, nhất định phải hiểu rằng đó không phải là hạnh của Sa-môn, không phải là hạnh của bậc Thích tử

Sớ Giải

362. dasame taṃ parisaṃ etadavocāti tassa kira evaṃ ahosi “kulaputtā pabbajantā puttadārañceva jātarūparajatañca pahāyeva pabbajanti, na ca sakkā yaṃ pahāya pabbajitā, taṃ tehi gahetun”ti nayaggāhe ṭhatvā “mā ayyo”tiādivacanaṃ avoca. ekaṃsenetanti etaṃ pañcakāmaguṇakappanaṃ assamaṇadhammo asakyaputtiyadhammoti ekaṃsena dhāreyyāsi.

Tiṇanti senāsanacchadanatiṇaṃ. pariyesitabbanti tiṇacchadane vā iṭṭhakacchadane vā gehe palujjante yehi taṃ kāritaṃ, tesaṃ santikaṃ gantvā “tumhehi kāritasenāsanaṃ ovassati, na sakkā tattha vasitun”ti ācikkhitabbaṃ. manussā sakkontā karissanti, asakkontā “tumhe vaḍḍhakiṃ gahetvā kārāpetha, mayaṃ te saññāpessāmā”ti vakkhanti. evaṃ vutte kāretvā tesaṃ ācikkhitabbaṃ. manussā vaḍḍhakīnaṃ dātabbaṃ dassanti. sace āvāsasāmikā natthi, aññesampi bhikkhācāravattena ārocetvā kāretuṃ vaṭṭati. idaṃ sandhāya “pariyesitabban”ti vuttaṃ.

Dārunti senāsane gopānasiādīsu palujjamānesu tadatthāya dāruṃ. sakaṭanti gihivikataṃ katvā tāvakālikasakaṭaṃ. na kevalañca sakaṭameva, aññampi vāsipharasukuddālādiupakaraṇaṃ evaṃ pariyesituṃ vaṭṭati. purisoti hatthakammavasena puriso pariyesitabbo. yaṃkiñci hi purisaṃ “hatthakammaṃ, āvuso, katvā dassasī”ti vatvā “dassāmi, bhante,”ti vutte “idañcidañca karohī”ti yaṃ icchati, taṃ kāretuṃ vaṭṭati. na tvevāhaṃ, gāmaṇi, kenaci pariyāyenāti jātarūparajataṃ panāhaṃ kenacipi kāraṇena pariyesitabbanti na vadāmi.

362.

Dasame taṃ parisaṃ etadavocāti – Trong kinh thứ mười, (Maṇicūḷaka) nói với hội chúng ấy như vậy.
Ở đây, ý nghĩa là: “Các vị thiện nam tử khi xuất gia thì từ bỏ cả vợ con lẫn vàng bạc, rồi mới xuất gia. Những gì đã từ bỏ để xuất gia, thì không thể nào họ lại nắm giữ được nữa.” Do dựa trên nguyên lý ấy nên ông nói: “Chư ngài chớ nói vậy…”

Ekaṃsenetaṃ – Điều này (tức sự cho phép vàng bạc) đồng nghĩa với việc cho phép năm dục trưởng dưỡng (pañca kāmaguṇā). Như vậy, nhất định phải hiểu rằng đó không phải là hạnh của Sa-môn, không phải là hạnh của bậc Thích tử.


Về ví dụ trong kinh:

Tiṇanti – “Cỏ”: tức là cỏ dùng để che mái am, làm chỗ trú (senāsana-chādana-tiṇaṃ).

    • Pariyesitabban’ti – phải tìm kiếm (nhờ người).
    • Nghĩa là: khi mái lợp bằng cỏ hoặc bằng ngói bị hỏng, thì nên đến với những người đã từng làm chỗ trú ấy mà thưa:
      “Mái trú xá do các ông làm bị dột, không thể ở được nữa.”
      Nếu họ có khả năng, họ sẽ sửa lại; nếu không, họ sẽ bảo:
      “Các thầy hãy thuê thợ mộc, chúng tôi sẽ trả công cho.”
      Khi nghe vậy, vị Tỳ-khưu cho sửa lại rồi báo cho họ biết. Người thế tục sẽ tự lo việc trả công cho thợ.
      Nếu không có người bảo trợ trú xá, thì cũng được phép bạch lại cho các cư sĩ khác rồi cho sửa chữa.
      → Do ý nghĩa này nên kinh dạy: “cỏ phải tìm nơi người cần cỏ.”
  • Dārunti – “Gỗ”: tức là gỗ dùng cho những phần của trú xá như sườn, cột, đòn tay… khi bị hỏng.
  • Sakaṭanti – “Xe”: tức là xe tạm thời do cư sĩ làm.
    • Không chỉ riêng xe, mà bất kỳ vật dụng nào như rìu, búa, cuốc, xẻng… cũng có thể được tìm nhờ theo cách này.
  • Purisoti – “Người”: nghĩa là người làm công (hattha-kamma).
    • Bất cứ ai, khi được hỏi: “Này hiền hữu, ông có thể làm việc tay chân giúp không?” – nếu họ đồng ý: “Vâng, thưa Tôn giả,” thì vị Tỳ-khưu có thể nhờ họ làm việc mình cần.
  • Na tvevāhaṃ, gāmaṇi, kenaci pariyāyenāti – Nhưng Ta không hề, này thôn trưởng, trong bất kỳ phương diện nào dạy rằng: “Vàng bạc có thể được tìm kiếm vì bất cứ lý do gì.”

Điểm chính Sớ giải:

  • Maṇicūḷaka trả lời đúng vì xuất gia là từ bỏ cả tài sản lẫn vàng bạc  không thể nào Tỳ-khưu lại cầm giữ vàng bạc.
  • Đức Phật nhấn mạnh: những nhu yếu như cỏ lợp, gỗ, xe, thợ… có thể nhờ người thế tục lo liệu; nhưng vàng bạc thì tuyệt đối không có lý do nào được chấp nhận.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

X. Manicùlam (Châu báu trên đỉnh đầu) (S.iv,325)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ trong cung vua, quần thần nhà vua đang ngồi tụ họp, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Các Sa-môn thuộc dòng Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy vàng bạc".

3) Lúc bấy giờ, thôn trưởng Manicùlaka đang ngồi trong hội chúng ấy.

4) Rồi thôn trưởng Manicùlaka thưa với hội chúng ấy: "Các Tôn giả chớ có nói như vậy. Các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc". Nhưng thôn trưởng Manicùlaka không có thể làm cho hội chúng ấy chấp nhận.

5) Rồi thôn trưởng Manicùlaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

6) Ngồi một bên, thôn trưởng Manicùlaka bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong cung vua, một số quần thần nhà vua đang ngồi tụ họp, và câu chuyện sau đây được khởi lên: "Các Sa-môn Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy vàng bạc". Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với hội chúng ấy: "Các Tôn giả chớ có nói như vậy. Các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc". Nhưng bạch Thế Tôn, con không có thể làm cho hội chúng ấy chấp nhận.

7) Trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, không biết con có nói đúng lời Thế Tôn? Con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật? Con đã trả lời thuận pháp, đúng pháp và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích?

-- Trả lời như vậy, này Thôn trưởng, Ông nói đúng lời của Ta. Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật. Ông đã trả lời thuận pháp, đúng pháp và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích.

8) Này Thôn trưởng, các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc. Ðối với ai được dùng vàng bạc, người ấy cũng được phép dùng năm dục công đức. Ðối với ai được phép dùng năm dục công đức, người ấy hoàn toàn thọ trì phi Sa-môn pháp, phi Thích tử pháp. Này Thôn trưởng, Ta nói như sau: Cỏ được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỏ. Củi được đi tìm cầu bởi ai cần đến củi. Cỗ xe được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỗ xe. Người được đi tìm cầu bởi ai cần đến người. Nhưng này Thôn trưởng, không bất cứ một lý do gì Ta nói rằng vàng, bạc được chấp nhận, được tìm cầu.

-oo0oo-