|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 11 tháng 09, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 499. ÁI LUYẾN LÀ ĐẦU MỐI CỦA KHỔ ĐAU - Kinh Bhadraka (Bhadrakasuttaṃ) . ... .
Yêu thương là lẽ sống của loài hữu tình. Nhưng chính
sự yêu thương là căn nguyên của đau khổ. Điều nầy phải quán sát
trực tiếp bằng trí tuệ mới có thể lãnh hội. Có những thứ không
thể tiêu hoá bằng triết lý hay lý luận mà phải dựa trên trải
nghiệm thực tại để thấy rõ một chân lý vốn hiển hiện mà đa số
chúng sanh cố tình tránh né.
Kinh Văn
363. ekaṃ samayaṃ bhagavā mallesu viharati uruvelakappaṃ
nāma mallānaṃ nigamo. atha kho bhadrako gāmaṇi yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ
nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho bhadrako gāmaṇi bhagavantaṃ
etadavoca — “sādhu me, bhante, bhagavā dukkhassa samudayañca
atthaṅgamañca desetū”ti. “ahañce {ahañca (syā. kaṃ. ka.)} te,
gāmaṇi, atītamaddhānaṃ ārabbha dukkhassa samudayañca
atthaṅgamañca deseyyaṃ — ‘evaṃ ahosi atītamaddhānan’ti, tatra te
siyā kaṅkhā, siyā vimati. ahaṃ ce {ahañca (syā. kaṃ. ka.)} te,
gāmaṇi, anāgatamaddhānaṃ ārabbha dukkhassa samudayañca
atthaṅgamañca deseyyaṃ — ‘evaṃ bhavissati anāgatamaddhānan’ti,
tatrāpi te siyā kaṅkhā, siyā vimati. api cāhaṃ, gāmaṇi, idheva
nisinno ettheva te nisinnassa dukkhassa samudayañca
atthaṅgamañca desessāmi. taṃ suṇāhi, sādhukaṃ manasi karohi;
bhāsissāmī”ti. “evaṃ, bhante”ti kho bhadrako gāmaṇi bhagavato
paccassosi. bhagavā etadavoca —
“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, atthi te uruvelakappe manussā
yesaṃ te vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā
uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “atthi me,
bhante, uruvelakappe manussā yesaṃ me vadhena vā bandhena vā
jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti. “atthi pana te, gāmaṇi,
uruvelakappe manussā yesaṃ te vadhena vā bandhena vā jāniyā vā
garahāya vā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“atthi me, bhante, uruvelakappe manussā yesaṃ me vadhena vā
bandhena vā jāniyā vā garahāya vā nuppajjeyyuṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti. “ko nu kho, gāmaṇi, hetu,
ko paccayo yena te ekaccānaṃ uruvelakappiyānaṃ manussānaṃ
vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “yesaṃ me, bhante,
uruvelakappiyānaṃ manussānaṃ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā
garahāya vā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, atthi
me tesu chandarāgo. yesaṃ pana, bhante, uruvelakappiyānaṃ
manussānaṃ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā
nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, natthi me tesu
chandarāgo”ti. “iminā tvaṃ, gāmaṇi, dhammena diṭṭhena viditena
akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgate nayaṃ nehi — ‘yaṃ
kho kiñci atītamaddhānaṃ dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajji {uppajjati
(sabbattha)} sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ. chando hi
mūlaṃ dukkhassa. yampi hi kiñci anāgatamaddhānaṃ dukkhaṃ
uppajjamānaṃ uppajjissati, sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ
chandanidānaṃ. chando hi mūlaṃ dukkhassā’”ti. “acchariyaṃ,
bhante, abbhutaṃ, bhante! yāva subhāsitaṃ cidaṃ {subhāsitamidaṃ
(sī. pī.)}, bhante, bhagavatā {yaṅkiñci atītamaddhānaṃ dukkhaṃ
uppajjamānaṃ uppajjati, sabbantaṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ,
chando hi mūlaṃ dukkhassāti, yaṅkiñci anāgatamaddhānaṃ dukkhaṃ
uppajjamānaṃ uppajjissati sabbantaṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ,
chando hi mūlaṃ dukkhassā””ti (syā. kaṃ.)} — ‘yaṃ kiñci dukkhaṃ
uppajjamānaṃ uppajjati, sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ.
chando hi mūlaṃ dukkhassā’ti. {“yaṅkiñci atītamaddhānaṃ dukkhaṃ
uppajjamānaṃ uppajjati, sabbantaṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ,
chando hi mūlaṃ dūkkhassāti, yaṅkiñci anāgatamaddhānaṃ dukkhaṃ
uppajjamānaṃ uppajjissati, sabbantaṃ chandamūlakaṃ
chandanidānaṃ, chando hi mūlaṃ dukkhassā””ti (syā. kaṃ)} atthi
me, bhante, ciravāsī nāma kumāro bahi āvasathe {āvesane (?)}
paṭivasati. so khvāhaṃ, bhante, kālasseva vuṭṭhāya purisaṃ
uyyojemi {uyyojesiṃ (ka.)} — ‘gaccha, bhaṇe, ciravāsiṃ kumāraṃ
jānāhī’ti. yāvakīvañca, bhante, so puriso nāgacchati, tassa me
hoteva aññathattaṃ — ‘mā heva ciravāsissa kumārassa kiñci
ābādhayitthā’”ti {ābādhayethāti (syā. kaṃ. pī. ka.)} .
“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, ciravāsissa kumārassa vadhena vā
bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “ciravāsissa me, bhante,
kumārassa vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā
jīvitassapi siyā aññathattaṃ, kiṃ pana me nuppajjissanti
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti. “imināpi kho etaṃ, gāmaṇi,
pariyāyena veditabbaṃ — ‘yaṃ kiñci dukkhaṃ uppajjamānaṃ
uppajjati, sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ. chando hi
mūlaṃ dukkhassā’”ti.
“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, yadā te ciravāsimātā {ciravāsissa
mātā (sī. pī.)} adiṭṭhā ahosi, assutā ahosi, te ciravāsimātuyā
chando vā rāgo vā pemaṃ vā”ti? “no hetaṃ, bhante”. “dassanaṃ vā
te, gāmaṇi, āgamma savanaṃ vā evaṃ te ahosi — ‘ciravāsimātuyā
chando vā rāgo vā pemaṃ vā’”ti? “evaṃ, bhante”.
“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi,
ciravāsimātuyā te vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā
uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“ciravāsimātuyā me, bhante, vadhena vā bandhena vā jāniyā vā
garahāya vā jīvitassapi siyā aññathattaṃ, kiṃ pana me
nuppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti! “imināpi
kho etaṃ, gāmaṇi, pariyāyena veditabbaṃ — ‘yaṃ kiñci dukkhaṃ
uppajjamānaṃ uppajjati, sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ.
chando hi mūlaṃ dukkhassā’”ti. ekādasamaṃ.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại thị trấn
Uruvelakappa của dân Mallā. Bấy giờ,
thôn trưởng Bhadraka đến gần Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống
một bên và thưa rằng:
Bhadraka thôn trưởng đáp. Rồi Thế Tôn dạy:
“Bạch Thế Tôn, đối với những người mà con có dục và ái luyến, thì khi họ
bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách, con sẽ sinh ra sầu
bi, khổ ưu, não hại. Còn với những người mà con không có dục và
ái luyến, thì con sẽ không khổ ưu, não hại.”
Bạch Thế Tôn, con có một cậu con trai tên là Ciravāsī, hiện sống ở một nơi
khác. Mỗi sáng sớm con thường sai người đi thăm dò tin tức: ‘Này
anh, hãy đi xem Ciravāsī ra sao.’ Cho đến khi người ấy trở về,
con luôn bất an, nghĩ rằng: ‘Mong rằng Ciravāsī không gặp điều
bất hạnh!’”
“Bạch Thế Tôn, nếu Ciravāsī bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách,
thì ngay cả mạng sống con cũng bị chấn động, huống chi là sầu
bi, khổ ưu, não hại lại không sinh khởi!”
“Như vậy, này thôn trưởng, có thể hiểu rằng: ‘Bất cứ khổ nào khởi lên, tất
cả đều khởi lên do dục ái, lấy dục ái làm gốc rễ; vì dục ái là
cội nguồn của khổ.’“Này thôn trưởng, ông nghĩ sao? Trước khi
thấy hoặc nghe về mẹ của Ciravāsī, ông có dục ái hay tình luyến
ái đối với bà ấy không?”
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Thế thì, này thôn trưởng, chính do thấy hoặc nghe về bà ấy mà dục ái và
tình luyến ái khởi lên trong ông, phải vậy chăng?”
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn.”
“Này thôn trưởng, ông nghĩ sao? Nếu mẹ của Ciravāsī bị hành hình, bỏ tù,
phạt tiền hay quở trách, thì nơi ông có sinh ra sầu bi, khổ ưu,
não hại chăng?”
“Bạch Thế Tôn, nếu mẹ của Ciravāsī bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở
trách, thì ngay cả mạng sống con cũng bị chấn động, huống chi là
sầu bi, khổ ưu, não hại lại không sinh khởi!”
“Như vậy, này thôn trưởng, có thể hiểu rằng: ‘Bất cứ khổ nào khởi lên, tất
cả đều khởi lên do dục ái, lấy dục ái làm gốc rễ; vì dục ái là
cội nguồn của khổ.’”
Chú Thích
Bhadraka gāmaṇi – một vị trưởng làng (gāmaṇi) tại Uruvelakappa của xứ
Mallā. Có rất ít sử liệu về nhân vật nầy.
Trong câu “Này thôn trưởng, nhờ nguyên lý này, vốn được thấy, được biết,
được chứng đạt, được thấu hiểu ngay lập tức, hãy áp dụng cho cả
quá khứ và tương lai”
Ở đây, thôn trưởng Bhadraka trích dẫn Đức Phật như một lời dạy trực tiếp:
Sớ Giải
363. ekādasame mallesūti evaṃnāmake janapade. vadhenāti
māraṇena. jāniyāti dhanajāniyā. akālikena pattenāti na
kālantarena pattena, kālaṃ anatikkamitvāva pattenāti attho.
ciravāsī nāma kumāroti evaṃnāmako tassa putto. bahi āvasathe
paṭivasatīti bahinagare kiñcideva sippaṃ uggaṇhanto vasati.
imasmiṃ sutte vaṭṭadukkhaṃ kathitaṃ.
363.
Ekādasame
mallesūti – “Trong bài kinh thứ mười một, ở dân Mallā”: tức là ở một nước tên như
vậy (Mallā-janapada).
Vadhenāti – “Bằng giết hại” (tức là bằng sự giết chết).
Jāniyāti – nghĩa là “bị phạt tiền, tài sản” (dhanajāniyā).
Akālikena
pattenāti – nghĩa là “chứng đạt ngay tức thì, không phải trải qua khoảng thời gian
nào; tức là chứng đạt không cần qua một thời gian chờ đợi.”
Ciravāsī
nāma kumāroti – “Cậu bé tên là Ciravāsī”: đó là tên con trai của ông
ta.
Bahi
āvasathe paṭivasatīti – “Ở tại một chỗ trú bên ngoài”: nghĩa
là ở ngoài thành, trú tại một nơi để học tập một nghề nghiệp nào
đó.
Imasmiṃ
sutte vaṭṭadukkhaṃ kathitaṃ. – “Trong bài kinh này, khổ trong vòng
luân hồi (vaṭṭa-dukkha) đã được thuyết giảng.”
XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat-
Thaha (S.iv,327)
1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại
Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla.
2) Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn:
-- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự
tập khởi và sự chấm dứt của khổ!
-- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho
Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy đã
xảy ra trong thời quá khứ"; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi
ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho
Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy sẽ
xảy ra trong thời tương lai"; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có
nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với
Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự
chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Thôn trưởng Bhadraka vâng đáp Thế Tôn.
4) Thế Tôn nói như sau:
-- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa có
những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị
chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn. Ở tại Uruvelakappa có những người,
nếu họ bị giết hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích,
thì con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
5) -- Này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa này có những
người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ
trích, nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn, ở tại Uruvelakappa có những người,
nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích,
nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
-- Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số
người ở tại Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị
thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì Ông có khởi lên sầu, bi, khổ,
ưu, não? Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một
số người ở Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị
thiệt hại, hay bị chỉ trích nhưng Ông không khởi lên sầu, bi,
khổ, ưu, não?
-- Ðối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn,
nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích,
con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con có dục và tham
đối với họ. Nhưng đối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch
Thế Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị
chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì
con không có dục và tham đối với họ.
-- Ông nói: "Con có lòng dục tham đối với họ. Con không có
lòng dục tham đối với họ". Này Thôn trưởng, có phải được thấy,
được biết, được đạt tới tức thời, được thể nhập nhờ pháp này,
Ông uốn nắn phương pháp (naya) theo phương pháp ấy đối với quá
khứ, vị lai? Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ
ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn
bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả
khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là
căn bản của khổ.
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch
Thế Tôn! Thật là khéo nói, lời nói này của Thế Tôn: "Phàm có khổ
gì khởi lên, tất cả khổ ấy khởi lên đều lấy dục làm căn bản, lấy
dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ!"
7) Bạch Thế Tôn, con có người con trai tên là Ciravàsii,
sống xa ở đây. Khi giờ nó dậy, bạch Thế Tôn, con cử người đi và
nói: "Này Ông, hãy đi và hỏi thăm đứa trẻ Ciravàsii". Cho đến
khi người ấy trở về, bạch Thế Tôn, con ở trong tình trạng bồn
chồn hồi hộp: "Không biết đứa trẻ Ciravàsii có bệnh tật gì
không?"
8) -- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu đứa trẻ
Ciravàsii của Ông bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị
chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
-- Bạch Thế Tôn, nếu đứa con trai Ciravàsii của con bị giết,
hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay sinh mạng bị
đổi khác, thời làm sao con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não
được?
-- Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu như sau:
Phàm có khổ nào khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản,
lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ.
9) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu Ông không thấy,
không nghe mẹ của Ciravàsi, Ông có lòng dục, lòng tham hay lòng
ái đối với mẹ của Ciravàsii không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Nhưng này Thôn trưởng, khi Ông thấy được, này Thôn
trưởng, khi Ông nghe được, thời Ông có lòng dục, hay lòng tham,
hay lòng ái đối với mẹ của Ciravàsi không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
10) -- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu mẹ của
Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ
trích, thời Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
-- Bạch Thế Tôn, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay bị bắt,
hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay mạng sống bị đổi khác,
thời làm sao con không khởi sầu, bi, khổ, ưu, não được?
-- Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu biết như
sau: Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn
bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của đau khổ. -oo0oo- |