BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 11 tháng 09, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 42. Tương Ưng Thôn Trưởng- SN 42.11.
Bài 499. ÁI LUYẾN LÀ ĐẦU MỐI CỦA KHỔ ĐAU - Kinh Bhadraka (Bhadrakasuttaṃ) .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-499.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Yêu thương là lẽ sống của loài hữu tình. Nhưng chính sự yêu thương là căn nguyên của đau khổ. Điều nầy phải quán sát trực tiếp bằng trí tuệ mới có thể lãnh hội. Có những thứ không thể tiêu hoá bằng triết lý hay lý luận mà phải dựa trên trải nghiệm thực tại để thấy rõ một chân lý vốn hiển hiện mà đa số chúng sanh cố tình tránh né.

Kinh Văn

363. ekaṃ samayaṃ bhagavā mallesu viharati uruvelakappaṃ nāma mallānaṃ nigamo. atha kho bhadrako gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho bhadrako gāmaṇi bhagavantaṃ etadavoca — “sādhu me, bhante, bhagavā dukkhassa samudayañca atthaṅgamañca desetū”ti. “ahañce {ahañca (syā. kaṃ. ka.)} te, gāmaṇi, atītamaddhānaṃ ārabbha dukkhassa samudayañca atthaṅgamañca deseyyaṃ — ‘evaṃ ahosi atītamaddhānan’ti, tatra te siyā kaṅkhā, siyā vimati. ahaṃ ce {ahañca (syā. kaṃ. ka.)} te, gāmaṇi, anāgatamaddhānaṃ ārabbha dukkhassa samudayañca atthaṅgamañca deseyyaṃ — ‘evaṃ bhavissati anāgatamaddhānan’ti, tatrāpi te siyā kaṅkhā, siyā vimati. api cāhaṃ, gāmaṇi, idheva nisinno ettheva te nisinnassa dukkhassa samudayañca atthaṅgamañca desessāmi. taṃ suṇāhi, sādhukaṃ manasi karohi; bhāsissāmī”ti. “evaṃ, bhante”ti kho bhadrako gāmaṇi bhagavato paccassosi. bhagavā etadavoca —

“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, atthi te uruvelakappe manussā yesaṃ te vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “atthi me, bhante, uruvelakappe manussā yesaṃ me vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti. “atthi pana te, gāmaṇi, uruvelakappe manussā yesaṃ te vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “atthi me, bhante, uruvelakappe manussā yesaṃ me vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti. “ko nu kho, gāmaṇi, hetu, ko paccayo yena te ekaccānaṃ uruvelakappiyānaṃ manussānaṃ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “yesaṃ me, bhante, uruvelakappiyānaṃ manussānaṃ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, atthi me tesu chandarāgo. yesaṃ pana, bhante, uruvelakappiyānaṃ manussānaṃ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā nuppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, natthi me tesu chandarāgo”ti. “iminā tvaṃ, gāmaṇi, dhammena diṭṭhena viditena akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgate nayaṃ nehi — ‘yaṃ kho kiñci atītamaddhānaṃ dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajji {uppajjati (sabbattha)} sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ. chando hi mūlaṃ dukkhassa. yampi hi kiñci anāgatamaddhānaṃ dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajjissati, sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ. chando hi mūlaṃ dukkhassā’”ti. “acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ, bhante! yāva subhāsitaṃ cidaṃ {subhāsitamidaṃ (sī. pī.)}, bhante, bhagavatā {yaṅkiñci atītamaddhānaṃ dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajjati, sabbantaṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ, chando hi mūlaṃ dukkhassāti, yaṅkiñci anāgatamaddhānaṃ dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajjissati sabbantaṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ, chando hi mūlaṃ dukkhassā””ti (syā. kaṃ.)} — ‘yaṃ kiñci dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajjati, sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ. chando hi mūlaṃ dukkhassā’ti. {“yaṅkiñci atītamaddhānaṃ dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajjati, sabbantaṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ, chando hi mūlaṃ dūkkhassāti, yaṅkiñci anāgatamaddhānaṃ dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajjissati, sabbantaṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ, chando hi mūlaṃ dukkhassā””ti (syā. kaṃ)} atthi me, bhante, ciravāsī nāma kumāro bahi āvasathe {āvesane (?)} paṭivasati. so khvāhaṃ, bhante, kālasseva vuṭṭhāya purisaṃ uyyojemi {uyyojesiṃ (ka.)} — ‘gaccha, bhaṇe, ciravāsiṃ kumāraṃ jānāhī’ti. yāvakīvañca, bhante, so puriso nāgacchati, tassa me hoteva aññathattaṃ — ‘mā heva ciravāsissa kumārassa kiñci ābādhayitthā’”ti {ābādhayethāti (syā. kaṃ. pī. ka.)} .

“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, ciravāsissa kumārassa vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “ciravāsissa me, bhante, kumārassa vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā jīvitassapi siyā aññathattaṃ, kiṃ pana me nuppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti. “imināpi kho etaṃ, gāmaṇi, pariyāyena veditabbaṃ — ‘yaṃ kiñci dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajjati, sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ. chando hi mūlaṃ dukkhassā’”ti.

“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, yadā te ciravāsimātā {ciravāsissa mātā (sī. pī.)} adiṭṭhā ahosi, assutā ahosi, te ciravāsimātuyā chando vā rāgo vā pemaṃ vā”ti? “no hetaṃ, bhante”. “dassanaṃ vā te, gāmaṇi, āgamma savanaṃ vā evaṃ te ahosi — ‘ciravāsimātuyā chando vā rāgo vā pemaṃ vā’”ti? “evaṃ, bhante”.

“taṃ kiṃ maññasi, gāmaṇi, ciravāsimātuyā te vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā uppajjeyyuṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti? “ciravāsimātuyā me, bhante, vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā jīvitassapi siyā aññathattaṃ, kiṃ pana me nuppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti! “imināpi kho etaṃ, gāmaṇi, pariyāyena veditabbaṃ — ‘yaṃ kiñci dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajjati, sabbaṃ taṃ chandamūlakaṃ chandanidānaṃ. chando hi mūlaṃ dukkhassā’”ti. ekādasamaṃ.

Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại thị trấn Uruvelakappa của dân Mallā. Bấy giờ, thôn trưởng Bhadraka đến gần Thế Tôn, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, thật tốt lành thay nếu Thế Tôn dạy cho con về sự sanh khởi và sự đoạn diệt của khổ.”
“Này thôn trưởng, nếu Ta dạy ông về sự sanh khởi và sự đoạn diệt của khổ liên hệ đến quá khứ, rằng: ‘Trong quá khứ, khổ là như vậy,’ thì sẽ sinh ra nghi hoặc và phân vân cho ông. Nếu Ta dạy ông liên hệ đến tương lai, rằng: ‘Trong tương lai, khổ sẽ như vậy,’ thì cũng sẽ sinh ra nghi hoặc và phân vân cho ông. Do vậy, ngay khi Ta đang ngồi ở đây, và ông đang ngồi ở đó, Ta sẽ dạy ông về sự khởi lên và sự đoạn diệt của khổ. Hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói.”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,”

Bhadraka thôn trưởng đáp. Rồi Thế Tôn dạy:
“Này thôn trưởng, ông nghĩ sao? Ở Uruvelakappa có những người nào, nếu họ bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách, thì nơi ông sẽ sinh ra sầu bi, khổ ưu, não hại chăng?”
“Thưa có, bạch Thế Tôn, .”
“Nhưng cũng có những người ở Uruvelakappa, nếu họ bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách, thì nơi ông sẽ không sinh ra sầu bi, khổ ưu, não hại, phải vậy chăng?”
“Thưa có, bạch Thế Tôn, .”
“Vì lý do gì, này thôn trưởng, mà đối với một số người, nếu họ bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách thì ông khổ ưu, não hại; còn đối với số khác thì không?”

“Bạch Thế Tôn, đối với những người mà con có dục và ái luyến, thì khi họ bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách, con sẽ sinh ra sầu bi, khổ ưu, não hại. Còn với những người mà con không có dục và ái luyến, thì con sẽ không khổ ưu, não hại.”

“Này thôn trưởng, nhờ nguyên lý này, vốn được thấy, được biết, được chứng đạt, được thấu hiểu ngay lập tức, hãy áp dụng cho cả quá khứ và tương lai rằng:
‘Bất cứ khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả đều khởi lên do dục ái, lấy dục ái làm gốc rễ; vì dục ái là cội nguồn của khổ. Bất cứ khổ nào sẽ khởi lên trong tương lai, tất cả cũng đều khởi lên do dục ái, lấy dục ái làm gốc rễ; vì dục ái là cội nguồn của khổ.’”

“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Lời Thế Tôn dạy thật tuyệt vời: ‘Bất cứ khổ nào khởi lên, tất cả đều khởi lên do dục ái, lấy dục ái làm gốc rễ; vì dục ái là cội nguồn của khổ.’

Bạch Thế Tôn, con có một cậu con trai tên là Ciravāsī, hiện sống ở một nơi khác. Mỗi sáng sớm con thường sai người đi thăm dò tin tức: ‘Này anh, hãy đi xem Ciravāsī ra sao.’ Cho đến khi người ấy trở về, con luôn bất an, nghĩ rằng: ‘Mong rằng Ciravāsī không gặp điều bất hạnh!’”

“Này thôn trưởng, ông nghĩ sao? Nếu Ciravāsī bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách, thì nơi ông có sinh ra sầu bi, khổ ưu, não hại chăng?”

“Bạch Thế Tôn, nếu Ciravāsī bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách, thì ngay cả mạng sống con cũng bị chấn động, huống chi là sầu bi, khổ ưu, não hại lại không sinh khởi!”

“Như vậy, này thôn trưởng, có thể hiểu rằng: ‘Bất cứ khổ nào khởi lên, tất cả đều khởi lên do dục ái, lấy dục ái làm gốc rễ; vì dục ái là cội nguồn của khổ.’“Này thôn trưởng, ông nghĩ sao? Trước khi thấy hoặc nghe về mẹ của Ciravāsī, ông có dục ái hay tình luyến ái đối với bà ấy không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Thế thì, này thôn trưởng, chính do thấy hoặc nghe về bà ấy mà dục ái và tình luyến ái khởi lên trong ông, phải vậy chăng?”

“Đúng vậy, bạch Thế Tôn.”

“Này thôn trưởng, ông nghĩ sao? Nếu mẹ của Ciravāsī bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách, thì nơi ông có sinh ra sầu bi, khổ ưu, não hại chăng?”

“Bạch Thế Tôn, nếu mẹ của Ciravāsī bị hành hình, bỏ tù, phạt tiền hay quở trách, thì ngay cả mạng sống con cũng bị chấn động, huống chi là sầu bi, khổ ưu, não hại lại không sinh khởi!”

“Như vậy, này thôn trưởng, có thể hiểu rằng: ‘Bất cứ khổ nào khởi lên, tất cả đều khởi lên do dục ái, lấy dục ái làm gốc rễ; vì dục ái là cội nguồn của khổ.’”

Chú Thích

Bhadraka gāmaṇi – một vị trưởng làng (gāmaṇi) tại Uruvelakappa của xứ Mallā. Có rất ít sử liệu về nhân vật nầy.

Trong câu “Này thôn trưởng, nhờ nguyên lý này, vốn được thấy, được biết, được chứng đạt, được thấu hiểu ngay lập tức, hãy áp dụng cho cả quá khứ và tương lai”
Cách chú thích của Sớ Giải về câu này cho thấy rằng cụm akālikena patena được hiểu như một thành ngữ duy nhất, trong đó akālikena hoạt động như một trạng từ đi kèm với patena. Akālikena patena nghĩa là: “không đạt được sau một khoảng thời gian; mà là đạt ngay tức thì, không cần trải qua một khoảng chờ đợi nào.” Nói cách khác: “Được chứng ngộ tức thì: không phải chứng ngộ sau một quãng cách; nghĩa là ngay lập tức, không hề có thời gian trôi qua.”Có thể hiểu là “trực nhận”

Ở đây, thôn trưởng Bhadraka trích dẫn Đức Phật như một lời dạy trực tiếp:
“Bất cứ khổ nào khởi lên, tất cả đều khởi lên do dục ái…” (yaṃ kiñci dukkhaṃ uppajjamānaṃ uppajjati...).Tuy nhiên, câu phát biểu này không hề xuất hiện trong chính lời Phật nói ngay ở trên, nhưng rõ ràng là cần thiết để làm “đối tượng” cho cụm “nguyên lý này” (iminā dhammena) mà Đức Phật nhắc tới. Theo ngài Bodhi điều đó cho thấy rằng câu này hẳn đã có trong nguyên bản kinh, nhưng về sau bằng cách nào đó đã bị lược bỏ trong quá trình sao chép.

Sớ Giải

363. ekādasame mallesūti evaṃnāmake janapade. vadhenāti māraṇena. jāniyāti dhanajāniyā. akālikena pattenāti na kālantarena pattena, kālaṃ anatikkamitvāva pattenāti attho. ciravāsī nāma kumāroti evaṃnāmako tassa putto. bahi āvasathe paṭivasatīti bahinagare kiñcideva sippaṃ uggaṇhanto vasati. imasmiṃ sutte vaṭṭadukkhaṃ kathitaṃ.

363.

Ekādasame mallesūti – “Trong bài kinh thứ mười một, ở dân Mallā”: tức là ở một nước tên như vậy (Mallā-janapada).

Vadhenāti – “Bằng giết hại” (tức là bằng sự giết chết).

Jāniyāti – nghĩa là “bị phạt tiền, tài sản” (dhanajāniyā).

Akālikena pattenāti – nghĩa là “chứng đạt ngay tức thì, không phải trải qua khoảng thời gian nào; tức là chứng đạt không cần qua một thời gian chờ đợi.”

Ciravāsī nāma kumāroti – “Cậu bé tên là Ciravāsī”: đó là tên con trai của ông ta.

Bahi āvasathe paṭivasatīti – “Ở tại một chỗ trú bên ngoài”: nghĩa là ở ngoài thành, trú tại một nơi để học tập một nghề nghiệp nào đó.

Imasmiṃ sutte vaṭṭadukkhaṃ kathitaṃ. – “Trong bài kinh này, khổ trong vòng luân hồi (vaṭṭa-dukkha) đã được thuyết giảng.”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

XI. Bhadra (Hiền) hay Bhagandha-Hat- Thaha (S.iv,327)

1) Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Malla tại Uruvelakappa, một thị trấn của dân chúng Malla.

2) Rồi thôn trưởng Bhadraka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Bhadraka bạch Thế Tôn:

-- Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết cho con về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ!

-- Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời quá khứ, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy đã xảy ra trong thời quá khứ"; ở đây, Ông sẽ phân vân, sẽ có nghi ngờ. Này Thôn trưởng, nếu y cứ vào thời vị lai, Ta thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ, nói rằng: "Như vậy sẽ xảy ra trong thời tương lai"; ở đây, Ông sẽ có phân vân, sẽ có nghi ngờ. Nhưng nay Ta ngồi chính ở đây, này Thôn trưởng, với Ông cũng ngồi ở đây, Ta sẽ thuyết cho Ông về sự tập khởi và sự chấm dứt của khổ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Thôn trưởng Bhadraka vâng đáp Thế Tôn.

4) Thế Tôn nói như sau:

-- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn. Ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

5) -- Này Thôn trưởng, ở tại Uruvelakappa này có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn, ở tại Uruvelakappa có những người, nếu họ bị giết, hay bị tù, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.

-- Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số người ở tại Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thì Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não? Do nhân gì, do duyên gì, này Thôn trưởng, đối với một số người ở Uruvelakappa, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích nhưng Ông không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não?

-- Ðối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, con có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con có dục và tham đối với họ. Nhưng đối với một số người ở tại Uruvelakappa, bạch Thế Tôn, nếu họ bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, nhưng con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, là vì con không có dục và tham đối với họ.

-- Ông nói: "Con có lòng dục tham đối với họ. Con không có lòng dục tham đối với họ". Này Thôn trưởng, có phải được thấy, được biết, được đạt tới tức thời, được thể nhập nhờ pháp này, Ông uốn nắn phương pháp (naya) theo phương pháp ấy đối với quá khứ, vị lai? Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ.

-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật là khéo nói, lời nói này của Thế Tôn: "Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy khởi lên đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ!"

7) Bạch Thế Tôn, con có người con trai tên là Ciravàsii, sống xa ở đây. Khi giờ nó dậy, bạch Thế Tôn, con cử người đi và nói: "Này Ông, hãy đi và hỏi thăm đứa trẻ Ciravàsii". Cho đến khi người ấy trở về, bạch Thế Tôn, con ở trong tình trạng bồn chồn hồi hộp: "Không biết đứa trẻ Ciravàsii có bệnh tật gì không?"

8) -- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu đứa trẻ Ciravàsii của Ông bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Bạch Thế Tôn, nếu đứa con trai Ciravàsii của con bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay sinh mạng bị đổi khác, thời làm sao con không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não được?

-- Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu như sau: Phàm có khổ nào khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ.

9) Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu Ông không thấy, không nghe mẹ của Ciravàsi, Ông có lòng dục, lòng tham hay lòng ái đối với mẹ của Ciravàsii không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Nhưng này Thôn trưởng, khi Ông thấy được, này Thôn trưởng, khi Ông nghe được, thời Ông có lòng dục, hay lòng tham, hay lòng ái đối với mẹ của Ciravàsi không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

10) -- Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, thời Ông có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

-- Bạch Thế Tôn, nếu mẹ của Ciravàsii bị giết, hay bị bắt, hay bị thiệt hại, hay bị chỉ trích, hay mạng sống bị đổi khác, thời làm sao con không khởi sầu, bi, khổ, ưu, não được?

-- Với pháp môn này, này Thôn trưởng, cần phải hiểu biết như sau: Phàm có khổ gì khởi lên, tất cả khổ ấy đều lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của đau khổ.

-oo0oo-