BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 17 tháng 09, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 42. Tương Ưng Vô Vi- Phẩm Thứ Nhất. SN 43.2 đến 43.11.
Bài 503. NHỮNG PHÁP HÀNH DẪN TỚI NIẾT BÀN - Kinh Niệm Thân (Kāyagatāsatisuttaṃ) .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-503.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Những pháp tu tập trong bài kinh nầy kể cả phần nói về “ba mươi bảy phẩm trợ đạo” (bodhipakkhiya dhamma), sẽ được triển khai kỹ hơn tại Kinh Tăng Chi Bộ 43:12 (ix–xlv).

Các giải thích chi tiết hơn có thể tìm thấy trong:
•       Phần giới thiệu Quyển V của Tương Ưng Bộ
•       Và các chú giải thuộc Kinh Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya), đặc biệt là SN 45–
(Tương Ưng Đạo – Maggasaṃyutta).

Kinh Văn

Kinh Tịnh chỉ và Tuệ Quán (samathavipassanāsuttaṃ)

367. “asaṅkhatañca vo, bhikkhave, desessāmi asaṅkhatagāmiñca maggaṃ. taṃ suṇātha. katamañca, bhikkhave, asaṅkhataṃ? yo, bhikkhave, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo — idaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhataṃ. katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? samatho ca vipassanā ca. ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo ... pe .... dutiyaṃ.

“Này các Tỳ-khưu, Ta sẽ giảng cho các Thầy về vô vi (Nibbāna) và con đường dẫn đến vô vi. Hãy lắng nghe ...

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là vô vi?
Sự đoạn diệt tham ái, sự đoạn diệt sân hận, sự đoạn diệt si mê – được gọi là vô vi.

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?
Tịnh chỉ và tuệ quán (samatha & vipassanā) – được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”


Kinh Hữn Tầm Hữu Tứ (Savitakkasavicārasuttaṃ)

368. “katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? savitakkasavicāro samādhi, avitakkavicāramatto samādhi, avitakkāvicāro samādhi — ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo ... pe .... tatiyaṃ.

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?

Thiền định có tầm và tứ ;
Thiền định không có tầm, chỉ còn tứ ;
Thiền định không có tầm và không có tứ –
Được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”


Kinh Không Tánh Định (Suññatasamādhisuttaṃ)

369. “katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? suññato samādhi, animitto samādhi, appaṇihito samādhi — ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo ... pe .... catutthaṃ.

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?

Không tánh định;
Vô tướng định;
Vô nguyện định;
Được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”


Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasuttaṃ)

370. “katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? cattāro satipaṭṭhānā. ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo ... pe .... pañcamaṃ.

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?

Bốn niệm xứ – được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”


Kinh Chánh Cần  (Sammappadhānasuttaṃ)

371. “katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? cattāro sammappadhānā. ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo ... pe .... chaṭṭhaṃ.

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?

Bốn chánh cần – được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”


Kinh Thần Túc (Iddhipādasuttaṃ)

372. “katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? cattāro iddhipādā. ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo ... pe .... sattamaṃ.

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?

Bốn thần túc – được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”


Kinh Ngũ Căn (Indriyasuttaṃ)

373. “katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? pañcindriyāni. ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo ... pe .... aṭṭhamaṃ.

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?

Năm căn – được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”


Kinh Ngũ Lực (Balasuttaṃ)

374. “katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? pañca balāni. ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo ... pe .... navamaṃ.

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?

Năm lực – được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”


Kinh Giác Chi (bojjhaṅgasuttaṃ)

375. “katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? satta bojjhaṅgā. ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo ... pe .... dasamaṃ.

“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?

Bảy giác chi – được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”


Kinh Đạo Chi (Maggaṅgasuttaṃ)

376. “katamo ca, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo? ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. ayaṃ vuccati, bhikkhave, asaṅkhatagāmimaggo. iti kho, bhikkhave, desitaṃ vo mayā asaṅkhataṃ, desito asaṅkhatagāmimaggo. yaṃ, bhikkhave, satthārā karaṇīyaṃ sāvakānaṃ hitesinā anukampakena anukampaṃ upādāya kataṃ vo taṃ mayā. etāni, bhikkhave, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni. jhāyatha, bhikkhave, mā pamādattha; mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanī”ti. ekādasamaṃ.

1. “Và này các Tỳ-khưu, thế nào là con đường dẫn đến vô vi?

Tám đạo chi – được gọi là con đường dẫn đến vô vi.”

2. “Như vậy, này các Tỳ khưu, Ta đã giảng cho các Thầy về pháp vô vi và con đường đưa đến vô vi. Những gì một bậc Thầyvì  lòng thương tưởng, vì tâm bi mẫn, vì lợi ích cho đệ tử, cần phải làm, Ta đã làm cho các Thầy. Kia là gốc cây, nọ là những am thất trống. Hãy tu tập thiền định, này các Tỳ khưu, chớ phóng dật, kẻo về sau phải hối tiếc. Đây là lời dạy của Ta cho các Thầy.”

Chú Thích

Loại thiền định không có tầm, nhưng còn tứ (avitakka vicāramatta samādhi) không khớp với trình tự quen thuộc của bốn tầng thiền (jhana), trong đó:

  • Tầng thiền thứ nhất gồm cả tầm (vitakka) và tứ (vicāra),
  • Trong khi tầng thiền thứ hai lại loại bỏ cả hai.

Để đồng bộ hai hệ thống này, Thắng Pháp Abhidhamma đã bổ sung chuỗi bốn thiền (tứ thiền) thành chuỗi năm thiền (ngũ thiền), trong đó: Tầng thiền thứ hai của tứ thiền (không có tầm nhưng còn tứ) trở thành tầng thiền thứ ba trong ngũ thiền.

Tham khảo Atthasālinī (As) trang 179–180, nơi giải thích lý do tồn tại hai hệ thống này. Bộ ba  thiền định này cũng xuất hiện ở các chỗ khác trong Kinh Nikāya, ví dụ tại: Dīgha Nikāya (DN) I 219,19–20, Majjhima Nikāya (MN) I 162,14–15, và Aṅguttara Nikāya (AN) IV 300,28–301,1.


Sớ Giải bài kinh nầy (Sāratthappakāsinī) không giải thích trực tiếp ba phương thức thiền định: Không tánh, Vô Tướng, Vô nguyện (Suññata samādhi, Animitta samādhi, Appaṇihita samādhi)
Bộ ba này được đề cập như một tập hợp tại DN I 219,21–22, Trong Sv I 1003–1004, có lời giải thích như sau:

  • Người đang ở giai đoạn tuệ quán cao khi quán các pháp là vô ngã, sẽ chứng  Không tánh tâm định (Suññata Samādhi) khi nhập đạo và quả, vì họ đã thấy rõ các pháp là không có tự ngã.
  • Người quán các pháp là vô thường, sẽ chứng Vô Tướng tâm định (Animitta Samādhi) vì họ đã vượt qua tướng của sự thường hằng (niyāma-nimitta).
  • Người quán các pháp là khổ, sẽ chứng Vô nguyện tâm định (Appaṇihita Samādhi) vì tâm họ không còn hướng về bất kỳ pháp nào mang tính đau khổ.

Tham khảo thêm trong Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga) trang 657–659 (Chương 21, đoạn 66–73), nơi luận về "ba cửa ngõ giải thoát" (vimokkha-mukha).

Sớ Giải

366-376. asaṅkhatasaṃyutte asaṅkhatanti akataṃ. hitesināti hitaṃ esantena. anukampakenāti anukampamānena. anukampaṃ upādāyāti anukampaṃ cittena pariggahetvā, paṭiccātipi vuttaṃ hoti. kataṃ vo taṃ mayāti taṃ mayā imaṃ asaṅkhatañca asaṅkhatamaggañca desentena tumhākaṃ kataṃ. ettakameva hi anukampakassa satthu kiccaṃ, yadidaṃ aviparītadhammadesanā. ito paraṃ pana paṭipatti nāma sāvakānaṃ kiccaṃ. tenāha etāni, bhikkhave, rukkhamūlāni ... pe ... amhākaṃ anusāsanīti iminā rukkhamūlasenāsanaṃ dasseti. suññāgārānīti iminā janavivittaṃ ṭhānaṃ. ubhayena ca yogānurūpaṃ senāsanaṃ ācikkhati, dāyajjaṃ niyyāteti. ♦ jhāyathāti ārammaṇūpanijjhānena aṭṭhatiṃsārammaṇāni, lakkhaṇūpanijjhānena ca aniccādito khandhāyatanādīni upanijjhāyatha, samathañca vipassanañca vaḍḍhethāti vuttaṃ hoti. mā pamādatthāti mā pamajjittha. mā pacchā vippaṭisārino ahuvatthāti ye hi pubbe daharakāle arogakāle sattasappāyādisampattikāle satthu sammukhībhāvakāle ca yonisomanasikārarahitā rattindivaṃ maṅkulabhattaṃ hutvā seyyasukhaṃ middhasukhaṃ anubhontā pamajjanti, te pacchā jarākāle rogakāle maraṇakāle vipattikāle satthu parinibbutakāle ca taṃ pubbe pamādavihāraṃ anussarantā sappaṭisandhikālakiriyañca bhāriyaṃ sampassamānā vippaṭisārino honti. tumhe pana tādisā mā ahuvatthāti dassento āha “mā pacchā vippaṭisārino ahuvatthā”ti. ♦ ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanīti ayaṃ amhākaṃ santikā “jhāyatha mā pamādatthā”ti tumhākaṃ anusāsanī, ovādoti vuttaṃ hoti.

Sớ giải Tương Ưng Vô Vi (SN 43.366–376)

asaṅkhatanti akataṃ.
“Asaṅkhata” nghĩa là cái không tạo tác, cái chưa làm, cái vô vi.

hitesināti hitaṃ esantena.
“Hitesin” = “người tìm cầu lợi ích” → bậc đi tìm cái gì lợi ích cho chúng sinh.

anukampakenāti anukampamānena.
“Anukampaka” = người có tâm bi mẫn.

anukampaṃ upādāyāti anukampaṃ cittena pariggahetvā, paṭiccātipi vuttaṃ hoti.
“Với tâm bi mẫn” = nghĩa là ôm lấy, nâng đỡ bằng tâm từ bi; cũng có thể nói là “dựa trên lòng bi mẫn.”

kataṃ vo taṃ mayāti taṃ mayā imaṃ asaṅkhatañca asaṅkhatamaggañca desentena tumhākaṃ kataṃ.
“Điều ấy Ta đã làm cho các ngươi rồi” = tức là, Như Lai đã thuyết về cái vô vi (asaṅkhata) và con đường đưa đến vô vi (asaṅkhatamagga).

ettakameva hi anukampakassa satthu kiccaṃ, yadidaṃ aviparītadhammadesanā.
Bởi vì chỉ đến mức ấy thôi là bổn phận của bậc Đạo Sư đầy bi mẫn: tức là giảng pháp đúng như thật, không sai lạc.

ito paraṃ pana paṭipatti nāma sāvakānaṃ kiccaṃ.
Từ đó về sau, phần thực hành là trách nhiệm của các vị đệ tử.

tenāha etāni, bhikkhave, rukkhamūlāni ... pe ... amhākaṃ anusāsanīti iminā rukkhamūlasenāsanaṃ dasseti.
Do vậy, đức Phật nói: “Này các Tỳ khưu, kia là gốc cây … kia là cốc vắng … đây là giáo huấn của Ta cho các ngươi.” Ý là chỉ bày nơi thích hợp để tu tập như gốc cây, nhà trống.

suññāgārānīti iminā janavivittaṃ ṭhānaṃ.
“Nhà trống” nghĩa là nơi vắng bóng người.

ubhayena ca yogānurūpaṃ senāsanaṃ ācikkhati, dāyajjaṃ niyyāteti.
Như vậy, Ngài chỉ bày chỗ thích hợp cho cả hai loại hành giả (tĩnh tọa và hành thiền), và trao truyền gia tài (Dhamma) cho họ.


jhāyathāti ārammaṇūpanijjhānena aṭṭhatiṃsārammaṇāni, lakkhaṇūpanijjhānena ca aniccādito khandhāyatanādīni upanijjhāyatha, samathañca vipassanañca vaḍḍhethāti vuttaṃ hoti.
“Thiền định đi!” = tức là hãy tu tập:

  • Với định quán đề mục (ārammaṇūpanijjhāna): quán 38 đề mục (kasiṇa, bất tịnh, niệm hơi thở …).
  • Với định quán đặc tính (lakkhaṇūpanijjhāna): quán các pháp hữu vi như ngũ uẩn, xứ … trong ba tướng (vô thường, khổ, vô ngã).
    → Như vậy, có nghĩa là hãy làm tăng trưởng cả chỉ (samatha) và quán (vipassanā).

mā pamādatthāti mā pamajjittha.
“Đừng phóng dật!” = chớ buông lung.

mā pacchā vippaṭisārino ahuvatthāti …
“Chớ để sau này hối hận!” = nghĩa là: những ai khi còn trẻ, còn khỏe, đủ thuận duyên, được sống cùng thời với bậc Đạo Sư mà phóng dật, ham ngủ nghỉ, hưởng lạc, thì về sau khi tuổi già, bệnh tật, hay khi Phật đã nhập Niết-bàn … nhớ lại sự phóng dật trước kia, họ đau khổ và ân hận nặng nề. Do vậy, Phật dạy: các ông đừng trở thành những người hối hận như thế.

ayaṃ vo amhākaṃ anusāsanīti ayaṃ amhākaṃ santikā “jhāyatha mā pamādatthā”ti tumhākaṃ anusāsanī, ovādoti vuttaṃ hoti.
“Đây là lời giáo huấn của Ta cho các ngươi” = tức là, lời khuyên dạy trực tiếp từ Như Lai: “Hãy thiền định! Đừng phóng dật!”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Vô Vi

-ooOoo-

Phần Một - Phẩm Một

I. Thân (S.iv,359)

1) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về pháp vô vi và con đường đưa đến vô vi (asankhata). Hãy lắng nghe.

2) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vô vi? Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô vi.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Thân niệm (kàyagatà sati), này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi.

4) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về vô vi, Ta thuyết về con đường đưa đến vô vi.

5) Này các Tỷ-kheo, những gì một bậc Ðạo sư cần phải làm cho những đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng từ mẫn, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với họ ; tất cả, Ta đã làm đối với các Ông.

6) Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

II. Chỉ (Samatha) (S.iv,360)

1) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về vô vi và về con đường đưa đến vô vi. Hãy lắng nghe.

2) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vô vi? Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô vi.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi, chỉ và quán, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi... (như trên)...

III. Tầm (S.iv,360)

1-2) ...

3)-- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Có định có tầm, có tứ; có định không tầm, có tứ; có định không tầm, không tứ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi.

IV. Không

1-2) ...

3) -- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Không định, Vô tướng định, Vô nguyện định. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

V. Niệm Xứ.

1-2) ...

3) --Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Bốn niệm xứ, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

VI. Chánh Cần.

1-2) ...

3) -- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Bốn chánh cần, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

VII. Như Ý Túc.

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Bốn như ý túc, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

VIII. Căn.

1-2) ...

3) -- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Năm căn, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

IX. Lực.

1-2) ...

3) -- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Năm lực, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

X. Giác Chi.

1-2) ...

3) -- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Bảy giác chi, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

XI. Với Con Ðường (S.iv,361)

1-2) ...

3) -- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Con đường Thánh đạo Tám ngành, này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến vô vi.

4) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về vô vi; Ta thuyết về con đường đưa đến vô vi.

5) Này các Tỷ-kheo, những gì một bậc Ðạo sư cần phải làm cho những đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng từ mẫn, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với họ ; tất cả, Ta đã làm đối với các Ông.

6) Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Vô Vi

-ooOoo-

Phần Một - Phẩm Một

I. Thân (S.iv,359)

1) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về pháp vô vi và con đường đưa đến vô vi (asankhata). Hãy lắng nghe.

2) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vô vi? Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô vi.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Thân niệm (kàyagatà sati), này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi.

4) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về vô vi, Ta thuyết về con đường đưa đến vô vi.

5) Này các Tỷ-kheo, những gì một bậc Ðạo sư cần phải làm cho những đệ tử, vì hạnh phúc, vì lòng từ mẫn, vì khởi lên lòng từ mẫn đối với họ ; tất cả, Ta đã làm đối với các Ông.

6) Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

-oo0oo-