BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 23 tháng 09, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 42. Tương Ưng Vô Thuyết - SN 44.7, SN 44.8.
Bài 508. SỰ NHẤT QUÁN GIỮA CÁC BẬC GIẢI THOÁT - Kinh Mahāmoggallāna (Mahāmoggallānasuttaṃ) Kinh Vacchagotta (Vacchagottasuttaṃ) .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-508.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Có những đồng nhất do tình cờ hay do cùng một trường lớp. Đối với những bậc liễu tri bốn sự thật vi diệu và hoàn toàn giải thoát thì có sự nhất quán trong cách nhận thức và trả lời. Mười “câu hỏi cổ điển” vốn là đề tài tạo nên nhiều tranh luận bất tận. Đối với người con Phật đúng nghĩa thì tất cả dành cho sự im lặng vì giáo pháp của Phật chỉ dạy về “sự khổ và con đường thoát khổ”

Kinh Văn

Kinh Mahāmoggallāna

416. atha kho vacchagotto paribbājako yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahāmoggallānena saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho vacchagotto paribbājako āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ etadavoca —

“kiṃ nu kho, bho moggallāna, sassato loko”ti? “abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — ‘sassato loko’”ti. “kiṃ pana, bho moggallāna, asassato loko”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ bhagavatā — ‘asassato loko’”ti. “kiṃ nu kho, bho moggallāna, antavā loko”ti? “abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — ‘antavā loko’”ti. “kiṃ pana, bho moggallāna, anantavā loko”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ bhagavatā — ‘anantavā loko’”ti. “kiṃ nu kho, bho moggallāna, taṃ jīvaṃ taṃ sarīran”ti? “abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — ‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīran’”ti. “kiṃ pana, bho moggallāna, aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīran”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ bhagavatā — ‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīran’”ti. “kiṃ nu kho, bho moggallāna, hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — ‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti. “kiṃ pana, bho moggallāna, na hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ bhagavatā — ‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti. “kiṃ nu kho, bho moggallāna, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti. “kiṃ pana, bho moggallāna, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ bhagavatā — ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti.

“ko nu kho, bho moggallāna, hetu ko paccayo, yena aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ puṭṭhānaṃ evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā, anantavā lokoti vā, taṃ jīvaṃ taṃ sarīranti vā, aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā? ko pana, bho moggallāna, hetu ko paccayo, yena samaṇassa gotamassa evaṃ puṭṭhassa na evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — sassato lokotipi, asassato lokotipi, antavā lokotipi, anantavā lokotipi, taṃ jīvaṃ taṃ sarīrantipi, aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīrantipi, hoti tathāgato paraṃ maraṇātipi, na hoti tathāgato paraṃ maraṇātipi, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇātipi, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇātipī”ti?

“aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā cakkhuṃ ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti ... pe ... jivhaṃ ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti ... pe ... manaṃ ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti. tasmā aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ puṭṭhānaṃ evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — sassato lokoti vā ... pe ... neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti vā. tathāgato ca kho, vaccha, arahaṃ sammāsambuddho cakkhuṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati ... pe ... jivhaṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati ... pe ... manaṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. tasmā tathāgatassa evaṃ puṭṭhassa na evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — sassato lokotipi ... pe ... neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇātipī”ti.

atha kho vacchagotto paribbājako uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṃ etadavoca — “kiṃ nu kho, bho gotama, sassato loko”ti? abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, mayā — ‘sassato loko’ti ... pe .... “kiṃ pana, bho gotama, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ mayā — ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti.

“ko nu kho, bho gotama, hetu ko paccayo, yena aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ puṭṭhānaṃ evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’ti vā ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā? ko pana, bho gotama, hetu ko paccayo, yena bhoto gotamassa evaṃ puṭṭhassa na evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’tipi ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipī”ti?

“aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā cakkhuṃ ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti ... pe ... jivhaṃ ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti ... pe ... manaṃ ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassanti. tasmā aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ puṭṭhānaṃ evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’ti vā ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā. tathāgato ca kho, vaccha, arahaṃ sammāsambuddho cakkhuṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati ... pe ... jivhaṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati ... pe ... manaṃ ‘netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati. tasmā tathāgatassa evaṃ puṭṭhassa na evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’tipi, ‘asassato loko’tipi, ‘antavā loko’tipi, ‘anantavā loko’tipi, ‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīran’tipi, ‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīran’tipi, ‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipi, ‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipi, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipi, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipī”ti.

“acchariyaṃ, bho gotama, abbhutaṃ, bho gotama! yatra hi nāma satthu ca {satthussa ca (sī. pī.), satthu ceva (khemāsutte)} sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṃ saṃsandissati samessati na virodhayissati, yadidaṃ aggapadasmiṃ. idānāhaṃ, bho gotama, samaṇaṃ mahāmoggallānaṃ upasaṅkamitvā etamatthaṃ apucchiṃ. samaṇopi me moggallāno etehi padehi etehi byañjanehi tamatthaṃ byākāsi, seyyathāpi bhavaṃ gotamo. acchariyaṃ, bho gotama, abbhutaṃ, bho gotama! yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṃ saṃsandissati samessati na virodhayissati, yadidaṃ aggapadasmin”ti. sattamaṃ.

Bấy giờ, du sĩ Vacchagotta đi đến chỗ Tôn giả Mahāmoggallāna, sau khi đến, chào hỏi và trao đổi lời chào thân mật. Khi cuộc chuyện trò chào hỏi kết thúc, ông ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả Mahāmoggallāna:

“Thưa Tôn giả Moggallāna, thế giới là thường hằng chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn không tuyên bố: ‘Thế giới là thường hằng.’”

“Vậy thì, thưa Tôn giả Moggallāna, thế giới là không thường hằng chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn cũng không tuyên bố: ‘Thế giới là không thường hằng .’”

“Thưa Tôn giả Moggallāna, thế giới là hữu biên chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn không tuyên bố: ‘Thế giới là hữu biên.’”

“Vậy thì, thưa Tôn giả Moggallāna, thế giới là vô biên chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn cũng không tuyên bố: ‘Thế giới là vô biên.’”

“Thưa Tôn giả Moggallāna, sinh mạng và thân xác là một chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn không tuyên bố: ‘Sinh mạng và thân xác là một.’”

“Vậy thì, thưa Tôn giả Moggallāna, sinh mạng là một, thân xác là một khác chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn cũng không tuyên bố: ‘Sinh mạng là một, thân xác là một khác.’”

“Thưa Tôn giả Moggallāna, Như Lai sau khi chết có tồn tại chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn không tuyên bố: ‘Như Lai sau khi chết tồn tại.’”

“Vậy thì, thưa Tôn giả Moggallāna, Như Lai sau khi chết không tồn tại chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn cũng không tuyên bố: ‘Như Lai sau khi chết không tồn tại.’”

“Thưa Tôn giả Moggallāna, Như Lai sau khi chết vừa tồn tại vừa không tồn tại chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn cũng không tuyên bố: ‘Như Lai sau khi chết vừa tồn tại vừa không tồn tại.’”

“Vậy thì, thưa Tôn giả Moggallāna, Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại chăng?”

“Này Vaccha, Đức Thế Tôn cũng không tuyên bố: ‘Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại.’”

“Thưa Tôn giả Moggallāna, nguyên nhân và lý do là gì, mà khi các du sĩ ngoại đạo bị hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Thế giới là thường hằng’ hay ‘Thế giới là không thường hằng’; hoặc ‘Thế giới là hữu biên’ hay ‘Thế giới là vô biên’; hoặc ‘Sinh mạng và thân xác là một’ hay ‘Sinh và thân xác là khác’; hoặc ‘Như Lai tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’? Và nguyên nhân, lý do là gì, mà khi Sa-môn Gotama bị hỏi như vậy, Ngài không trả lời như thế?”

“Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo chấp thủ nhãn căn như sau: ‘Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.’ Họ cũng chấp thủ nhĩ căn … tỵ căn … thiệt căn … thân căn … ý căn như vậy. Vì thế, khi các du sĩ ngoại đạo bị hỏi như thế, họ trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’ … hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết.’

Nhưng, này Vaccha, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, quán chiếu nhãn căn như sau: ‘Điều này không phải của tôi, điều này không phải là tôi, điều này không phải là tự ngã của tôi.’ Ngài cũng quán chiếu nhĩ căn … ý căn như vậy. Vì thế, khi Như Lai bị hỏi như thế, Ngài không trả lời như vậy.”

Bấy giờ, du sĩ Vacchagotta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đi đến Đức Thế Tôn, sau khi đến, chào hỏi thân mật rồi ngồi xuống một bên và bạch Thế Tôn:

“Thưa Tôn giả Gotama, thế giới là thường hằng chăng?”

(… Toàn bộ câu hỏi và trả lời lặp lại như trên, đến:)

“Này Vaccha, Ta cũng không tuyên bố: ‘Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại.’”

“Thưa Tôn giả Gotama, nguyên nhân và lý do là gì, mà khi các du sĩ ngoại đạo bị hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Thế giới là thường hằng’ … hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’? Và nguyên nhân, lý do là gì, mà khi Sa-môn Gotama bị hỏi như vậy, Ngài không trả lời như thế?”

“Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo chấp thủ sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Họ cũng chấp thọ là tự ngã … tưởng … hành … thức, hoặc thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Vì thế, khi các du sĩ ngoại đạo bị hỏi như thế, họ trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’ … hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết.’

Nhưng, này Vaccha, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, không quán sắc là tự ngã … cũng không quán thức là tự ngã. Vì thế, khi Như Lai bị hỏi như thế, Ngài không trả lời như vậy.”

“Thật tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Nghĩa lý và ngôn từ của bậc Đạo Sư và đệ tử đều tương hợp, đồng nhất, không khác biệt, nhất là trong vấn đề cốt lõi này. Vừa rồi, thưa Tôn giả Gotama, tôi đã đến hỏi Sa-môn Moggallāna về vấn đề này. Sa-môn Moggallāna đã giải thích cho tôi đúng cùng một nghĩa và cùng một lời như Tôn giả Gotama đã nói. Thật tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama!”

Kinh Vacchagotta 417.

 

atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṃ etadavoca — “kiṃ nu kho, bho gotama, sassato loko”ti? abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, mayā — ‘sassato loko’ti ... pe .... “kiṃ pana, bho gotama, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ mayā — ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti. “ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ puṭṭhānaṃ evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’ti vā ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā? ko pana, bho gotama, hetu, ko paccayo, yena bhoto gotamassa evaṃ puṭṭhassa na evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’tipi ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipī”ti? “aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā rūpaṃ attato samanupassanti, rūpavantaṃ vā attānaṃ, attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ. vedanaṃ attato samanupassanti ... pe ... saññaṃ ... pe ... saṅkhāre ... pe ... viññāṇaṃ attato samanupassanti, viññāṇavantaṃ vā attānaṃ, attani vā viññāṇaṃ, viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. tasmā aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ puṭṭhānaṃ evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’ti vā ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā. tathāgato ca kho, vaccha, arahaṃ sammāsambuddho na rūpaṃ attato samanupassati, na rūpavantaṃ vā attānaṃ, na attani vā rūpaṃ, na rūpasmiṃ vā attānaṃ. na vedanaṃ attato samanupassati ... pe ... na saññaṃ ... pe ... na saṅkhāre ... pe ... na viññāṇaṃ attato samanupassati, na viññāṇavantaṃ vā attānaṃ, na attani vā viññāṇaṃ, na viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. tasmā tathāgatassa evaṃ puṭṭhassa na evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’tipi ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipī”ti. atha kho vacchagotto paribbājako uṭṭhāyāsanā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahāmoggallānena saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho vacchagotto paribbājako āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ etadavoca — “kiṃ nu kho, bho moggallāna, sassato loko”ti? abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — ‘sassato loko’ti ... pe .... “kiṃ pana, bho moggallāna, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ bhagavatā — ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti. “ko nu kho, bho moggallāna, hetu, ko paccayo, yena aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ puṭṭhānaṃ evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’ti vā ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā? ko pana, bho moggallāna, hetu, ko paccayo yena samaṇassa gotamassa evaṃ puṭṭhassa na evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’tipi ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipī”ti? “aññatitthiyā kho, vaccha, paribbājakā rūpaṃ attato samanupassanti, rūpavantaṃ vā attānaṃ, attani vā rūpaṃ, rūpasmiṃ vā attānaṃ. vedanaṃ attato samanupassanti ... pe ... saññaṃ ... pe ... saṅkhāre ... pe ... viññāṇaṃ attato samanupassanti, viññāṇavantaṃ vā attānaṃ, attani vā viññāṇaṃ, viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. tasmā aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ puṭṭhānaṃ evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’ti vā ... pe ... ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā. tathāgato ca kho, vaccha, arahaṃ sammāsambuddho na rūpaṃ attato samanupassati, na rūpavantaṃ vā attānaṃ, na attani vā rūpaṃ, na rūpasmiṃ vā attānaṃ. na vedanaṃ attato samanupassati ... pe ... na saññaṃ ... pe ... na saṅkhāre ... pe ... na viññāṇaṃ attato samanupassati, na viññāṇavantaṃ vā attānaṃ, na attani vā viññāṇaṃ, na viññāṇasmiṃ vā attānaṃ. tasmā tathāgatassa evaṃ puṭṭhassa na evaṃ veyyākaraṇaṃ hoti — ‘sassato loko’tipi, ‘asassato loko’tipi, ‘antavā loko’tipi, ‘anantavā loko’tipi, ‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīran’tipi, ‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīran’tipi, ‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipi, ‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipi, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipi, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipī”ti. “acchariyaṃ, bho moggallāna, abbhutaṃ, bho moggallāna! yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṃ saṃsandissati, samessati, na virodhayissati, yadidaṃ aggapadasmiṃ. idānāhaṃ, bho moggallāna, samaṇaṃ gotamaṃ upasaṅkamitvā etamatthaṃ apucchiṃ. samaṇopi me gotamo etehi padehi etehi byañjanehi etamatthaṃ byākāsi, seyyathāpi bhavaṃ moggallāno. acchariyaṃ, bho moggallāna, abbhutaṃ, bho moggallāna! yatra hi nāma satthu ca sāvakassa ca atthena attho byañjanena byañjanaṃ saṃsandissati samessati na virodhayissati, yadidaṃ aggapadasmin”ti. aṭṭhamaṃ.

Bấy giờ, du sĩ Vacchagotta lại đi đến Đức Thế Tôn, chào hỏi, rồi ngồi xuống một bên và bạch:

1.    “Thưa Tôn giả Gotama, thế giới là thường hằng chăng?” … (như trên) …

2.    “Thưa Tôn giả Gotama, nguyên nhân và lý do là gì, mà khi các du sĩ ngoại đạo bị hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Thế giới là thường hằng’ … hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’? Và nguyên nhân, lý do là gì, mà khi Tôn giả Gotama bị hỏi như vậy, Ngài không trả lời như thế?”

3.    “Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo chấp sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Họ cũng chấp thọ là tự ngã … tưởng … hành … thức, hoặc thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Vì thế, khi các du sĩ ngoại đạo bị hỏi như thế, họ trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’ … hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết.’

Nhưng, này Vaccha, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, không quán sắc là tự ngã … cũng không quán thức là tự ngã. Vì thế, khi Như Lai bị hỏi như thế, Ngài không trả lời như vậy.”

5.    Bấy giờ, du sĩ Vacchagotta lại đi đến Tôn giả Mahāmoggallāna, chào hỏi, rồi ngồi xuống một bên và thưa:

6.    “Thưa Tôn giả Moggallāna, thế giới là thường hằng chăng?”

(… như trên … đến:)

7.    “Này Vaccha, Đức Thế Tôn cũng chưa từng tuyên bố: ‘Như Lai sau khi chết không tồn tại cũng không không tồn tại.’”

8.    “Thưa Tôn giả Moggallāna, nguyên nhân và lý do là gì, mà khi các du sĩ ngoại đạo bị hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Thế giới là thường hằng’ … hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’? Và nguyên nhân, lý do là gì, mà khi Sa-môn Gotama bị hỏi như vậy, Ngài không trả lời như thế?”

9.    “Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo chấp sắc là tự ngã … cũng chấp thức là tự ngã. Vì thế, khi họ bị hỏi như thế, họ trả lời rằng: ‘Thế giới là thường hằng’ … hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết.’

Nhưng, này Vaccha, Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, không chấp sắc là tự ngã … cũng không chấp thức là tự ngã. Vì thế, khi Như Lai bị hỏi như thế, Ngài không trả lời như vậy.”

“Thật tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Moggallāna! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Moggallāna! Nghĩa lý và ngôn từ của bậc Đạo Sư và đệ tử đều tương hợp, đồng nhất, không khác biệt, nhất là trong vấn đề cốt lõi này. Vừa rồi, thưa Tôn giả Moggallāna, tôi đã đến hỏi Sa-môn Gotama về vấn đề này. Sa-môn Gotama đã giải thích cho tôi đúng cùng một nghĩa và cùng một lời như Tôn giả Moggallāna đã nói. Thật tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Moggallāna!”

Chú Thích

Vacchagotta là một trong những nhân vật ngoại đạo điển hình được Đức Phật dẫn dắt qua nhiều tầng bậc: từ hoài nghi – đến hoan hỷ – rồi quy y – xuất gia – và cuối cùng chứng quả A-la-hán. Câu chuyện của vị nầy minh chứng sức mạnh chuyển hóa của giáo pháp: từ việc truy vấn siêu hình không lối thoát, đến sự thực hành  Xuất thân là con nhà Bà-la-môn giàu có thuộc dòng Vaccha (Vacchagotta). Tên cá nhân không được ghi lại. Thông thạo học vấn Bà-la-môn nhưng không tìm thấy chân lý, nên xuất gia làm du sĩ ngoại đạo (Paribbājaka). Nhiều đoạn trong Tương Ưng bộ (Saṃyutta Nikāya) ghi lại đối thoại giữa Vacchagotta với Đức Phật và các vị Thánh đệ tử (Moggallāna, Ānanda, Sabhiya Kaccāna). Các câu hỏi thường liên quan đến “những vấn đề không được trả lời (avyākata)”  Trong Tevijja Vacchagotta Sutta: Vacchagotta chỉ hoan hỷ với lời Phật dạy. Trong Aggi Vacchagotta Sutta: Ông chấp nhận Đức Phật là thầy. Trong Mahā Vacchagotta Sutta: Vị nầy xin được thọ giới Tỳ kheo tại Rājagaha, trải qua thời gian thử thách bốn tháng. Hai tuần sau, vị ấy đến thưa với Đức Phật rằng mình đã đạt trí hiểu biết đến mức tối đa của bậc chưa A-la-hán và mong được chỉ dạy thêm. Đức Phật dậy cả hai pháp chỉ và quán để chứng đắc lục thông (chaḷabhiññā). Tỳ khưu Vacchagotta thực hành, tiến bộ nhanh chóng và sớm chứng A-la-hán. Tôn giả báo tin cho Đức Phật qua các Tỳ kheo; Đức Phật đáp rằng Ngài đã được chư thiên báo trước.

Mười nghi vấn nêu trong bài kinh nầy thường được biết là “những câu hỏi cổ điển” tạo thành tiền đề tranh luận giữa các tu sĩ ngoại giáo.

Hai bài kinh tựa đề khác nhau nhưng nội dung giống nhau chỉ khác một điểm là du sĩ Vacchagotta đã hỏi Tôn giả Moggallāna trước trong bài kinh đầu và hỏi Đức Phật trước trong bài kinh sau.

Bản sớ giải cũng giống 6 bài kinh đầu của Phật Vô Thuyết.

Sớ Giải

412-417. tatiye rūpagatametanti rūpamattametaṃ. ettha rūpato añño koci satto nāma na upalabbhati, rūpe pana sati nāmamattaṃ etaṃ hotīti dasseti. vedanāgatametantiādīsupi eseva nayo. ayaṃ kho āvuso hetūti ayaṃ rūpādīni muñcitvā anupalabbhiyasabhāvo hetu, yenetaṃ abyākataṃ bhagavatāti. catutthādīni uttānatthāneva.

“Trong bài kinh thứ ba, nói ‘thuộc về sắc’, nghĩa là chỉ có sắc pháp thuần túy mà thôi. Ở đây, ngoài sắc, không có một chúng sinh nào khác được tìm thấy; nhưng khi có sắc, thì chỉ là cái gọi tên, chỉ là một danh quy ước mà thôi – ý là muốn chỉ rõ điều này.

Cũng như vậy đối với ‘thuộc về thọ’, ‘thuộc về tưởng’, v.v. – lý lẽ cũng tương tự.

“Này hiền giả, chính đây là nguyên nhân: bởi vì ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức… thì không có thực thể nào khác có thể nắm bắt được; và chính do bản chất không thể nắm bắt ấy mà Đức Thế Tôn không tuyên bố (về sự tồn tại của Tathāgata sau khi chết)”.

Còn những bài kinh từ thứ tư trở đi thì ý nghĩa đã hiển nhiên.”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[44] Chương X

Tương Ưng Không Thuyết

-ooOoo-

VII. Moggalàna (hay Xứ) (S.iv.391)

1). ..

2) Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, nói với Tôn giả Mahà Moggalàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Tôn giả Mahà Moggalàna:

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là thường còn?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Thế giới là thường còn".

4) -- Vậy thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là vô thường?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Thế giới là vô thường".

5) -- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải thế giới là hữu biên?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Thế giới là hữu biên".

6) -- Vậy thưa Tôn giả Moggalàna, thế giới là vô biên?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Thế giới là vô biên".

7) -- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải sinh mạng và thân thể là một?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Sinh mạng và thân thể là một".

8)-- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy sinh mạng và thân thể là khác?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Sinh mạng và thân thể là khác".

9)-- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Như Lai có tồn tại sau khi chết".

10)-- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai không có tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết".

11) -- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".

12)-- Thưa Tôn giả Moggalàna, vậy Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

13)-- Thưa Tôn giả Moggalàna, do nhân gì, do duyên gì các vị du sĩ ngoại đạo, khi được hỏi như thế này, thời trả lời như thế này: "Thế giới là thường còn. Hay thế giới là vô thường. Hay thế giới là hữu biên. Hay thế giới là vô biên. Hay sinh mạng và thân thể là một. Hay sinh mạng và thân thể là khác. Hay Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

14) Thưa Tôn giả Moggalàna, do nhân gì, do duyên gì, Sa-môn Gotama, khi được hỏi như thế này, thời không trả lời như thế này: "Thế giới là thường còn. Hay thế giới là vô thường. Hay thế giới là hữu biên. Hay thế giới là vô biên. Hay sinh mạng và thân thể là một. Hay sinh mạng và thân thể là khác. Hay Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?

15) -- Này Vaccha, vì rằng các du sĩ ngoại đạo quán con mắt là: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi";. .. quán tai... quán mũi... quán lưỡi... quán thân... quán ý là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi". Do vậy, các du sĩ ngoại đạo, nên khi được hỏi như vậy, trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

16) Và Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, này Vaccha, quán con mắt là: "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi"... quán tai... quán mũi... quán lưỡi... quán thân... quán ý là: "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi". Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

17) Rồi du sĩ Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.

18) Ngồi một bên, Vacchagotta bạch Thế Tôn:

-- Thưa Tôn giả Gotama, thế giới thường còn?

-- Này Vaccha, Ta không trả lời: "Thế giới là thường còn".

19-26)... (như trên)...

27) -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Ta không có trả lời: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

28) -- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì các du sĩ ngoại đạo, khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"? Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?

29)-- Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán con mắt là: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi", quán tai... quán mũi... quán lưỡi... quán thân... quán ý là: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi". Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, nên trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

30) Còn Như Lai, này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán con mắt là: "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi", quán tai... quán mũi... quán lưỡi... quán thân... quán ý là: "Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải là tự ngã của tôi". Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

31) -- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Vì rằng giữa Ðạo sư với nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

32) Thưa Tôn giả Gotama, nay con đi đến Sa-môn Mahà Moggalàna và nói về ý nghĩa này. Sa-môn Moggalàna, với những câu như thế này, với những lời như thế này đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Gotama. Vì rằng giữa Ðạo sư với nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

VIII. Vaccha (hay Trói buộc) (S.iv,395)

1) ...

2) Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn:

-- Thưa Tôn giả Gotama, thế giới có phải là thường còn?

-- Này Vaccha, Ta không có trả lời: "Thế giới là thường còn..".

4-11)... (như trên)...

12) -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Ta không có trả lời: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

13) -- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, thời trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Tôn giả Gotama được hỏi như vậy, lại không trả lời: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?

14) -- Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ như là tự ngã... quán tưởng... quán các hành... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

15) Như Lai, này Vaccha, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, hay sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ không phải tự ngã... quán tưởng... quán các hành... quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có thức, hay thức không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

16) Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Moggalàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Moggalàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

17) Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Mahà Moggalàna:

-- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải thế giới là thường còn?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Thế giới là thường còn".

18-26)... (như trên)...

27) -- Thưa Tôn giả Moggalàna, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không có trả lời: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

28) -- Thưa Tôn giả Moggalàna, do nhân gì, do duyên gì, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Moggalàna, Sa-môn Gotama khi được hỏi như vậy, lại không trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"?

29) -- Này Vaccha, các du sĩ ngoại đạo quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Họ quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, các du sĩ ngoại đạo khi được hỏi như vậy, liền trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

30) Còn Như Lai, này Vaccha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quán sắc không phải là tự ngã, hay tự ngã không phải có sắc, quán sắc không ở trong tự ngã, hay tự ngã không ở trong sắc. Như Lai quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức không phải là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Do vậy, Như Lai khi được hỏi như vậy, không có trả lời như vầy: "Thế giới là thường còn... Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

31) -- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Moggalàna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

32) Thưa Tôn giả Moggalàna, nay tôi đi đến Sa-môn Gotama, sau khi đến tôi hỏi về ý nghĩa này. Sa-môn Gotama với những câu văn, với những lời văn đã trả lời về ý nghĩa này giống như Tôn giả Moggalàna. Thật vi diệu thay, Tôn giả Moggalàna! Thật hy hữu thay, Tôn giả Moggalàna! Vì rằng, giữa Ðạo sư và nam đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.

-oo0oo-