Phân tích thiền án thích
hợp với khí chất (sappāyabheda)
Caritāsu pana dasa asubhā kāyagatāsatisankhātā
koṭṭhāsabhāvanā ca rāgacaritassa sappāyā.
Catasso appamaññāyo nīlādīni ca cattāri kasiṇāni
dosacaritassa.
Ānāpānaṁ mohacaritassa vitakkacaritassa ca.
Buddhānussati ādayo cha saddhācaritassa.
Maraṇa-upasama-saññā-vavatthānāni buddhicaritassa.
Sesāni pana sabbāni pi kammaṭṭhānāni sabbesam pi
sappāyāni.
Tatthā pi kasiṇesu puthulaṁ mohacaritassa, khuddakaṁ
vitakkacar itass’evā ti. Ayam ettha sappāyabhedo.
Trong các căn tánh (carita), mười bất tịnh
(asubha) và sự tu tập về các phần thân (kāyagatāsati)
thích hợp cho người có tánh tham (rāgacarita).
Bốn vô lượng tâm (appamaññā) và bốn biến xứ màu (kasiṇa)
như xanh, v.v. thích hợp cho người có tánh sân
(dosacarita).
Niệm hơi thở (ānāpāna) thích hợp cho người có tánh si
(mohacarita) và người có tánh suy tư, tán loạn
(vitakkacarita).
Sáu niệm, bắt đầu từ niệm Phật (buddhānussati ādayo
cha), thích hợp cho người có tánh tín (saddhācarita).
Niệm chết, niệm tịch diệt, tưởng về sự ghê tởm của thực
phẩm, và sự phân tích bốn đại thích hợp cho người có
tánh trí (buddhicarita).
Còn lại, tất cả các đề mục thiền khác đều thích hợp cho
tất cả mọi căn tánh.
Trong các kasiṇa, loại rộng (puthula) thích hợp cho
người có tánh si (mohacarita), loại nhỏ (khuddaka) thích
hợp cho người có tánh tán loạn, nhiều suy nghĩ
(vitakkacarita).
Đây gọi là sự phân tích về tính thích hợp
(sappāyabheda).
Chú Thích
Có sáu loại tánh khí (carita / cariyā). Mỗi hành giả có một tánh khí trội
hơn (mặc dù có thể pha trộn nhiều). Biết được carita
giúp chọn đúng thiền án để dễ tiến bộ nhanh chóng. Đây
không phải là nhãn dán cố định, mà là khuynh hướng tâm
lý cần nhận biết để điều chỉnh.
1.
Rāga-carita (Tánh tham ái, dục lạc)
Người thiên về ưa thích sắc đẹp, âm thanh, hương vị, xúc chạm dễ chịu. Có
xu hướng bám víu, tham muốn. Dễ bị phân tán vì thích
những gì đẹp, hấp dẫn. Thiền án thích hợp: quán bất tịnh
(asubha), niệm thân (kāyagatāsati)
đối trị sự đắm say.
2.
Dosa-carita (Tánh sân hận, ghét bỏ)
Người dễ nổi nóng, hay chỉ trích, khó chịu với người khác. Tâm thường
hướng về khía cạnh tiêu cực, không hài lòng. Thiền án
thích hợp: từ bi hỷ xả (mettā, karuṇā, muditā,
upekkhā), biến xứ màu sáng (kasiṇa) → làm mềm dịu tâm,
phát triển từ tâm.
3.
Moha-carita (Tánh si mê, mù mờ).
Người hay do dự, chần chừ, thiếu sáng suốt.
Dễ rơi vào trạng thái lơ đãng, mơ hồ. Thiền án
thích hợp: niệm hơi thở (ānāpāna), kasiṇa rộng
giúp tâm tỉnh táo, tập trung.
4.
Vitakka-carita (Tánh suy nghĩ, tán loạn, phân tán)
Người có tâm hay suy nghĩ miên man, khó yên tĩnh. Tâm lang thang, không
bám chặt một đối tượng. Thiền án thích hợp: niệm
hơi thở, kasiṇa nhỏ giúp gom tâm, giảm bớt tán loạn.
5.
Saddhā-carita (Tánh tín, nhiều lòng tin)
Người dễ phát khởi lòng tin, cảm hứng tôn giáo. Tâm hướng về điều cao
thượng, thiện lành. Đôi khi có xu hướng thiên về cảm xúc
hơn lý trí. Thiền án thích hợp: sáu niệm (Phật,
Pháp, Tăng, Giới, Thí, Thiên) củng cố niềm tin, nuôi
dưỡng hỷ lạc.
6.
Buddhi-carita (Tánh trí tuệ, lý trí, phân tích)
Người có khuynh hướng suy xét, phân tích, tìm hiểu bản chất.
Thường nghiên cứu, lý luận, muốn hiểu sâu. Thiền
án thích hợp
: niệm chết (maraṇānussati), niệm tịch
diệt (upasamānussati), quán thực phẩm (āhāre paṭikkūla
saññā), quán tứ đại (catudhātu-vavatthāna) nuôi dưỡng
trí tuệ, phân tích sâu xa.
§14. Ba giai đoạn huân tu (bhāvanābheda)
Bhāvanāsu pana sabbatthā
pi parikammabhāvanā labbhat’eva.
Buddhānussati ādisu aṭṭhasu saññā-vavatthānesu cā ti
dasasu kammaṭṭhānesu upacārabhāvanā va sampajjati,
natthi appanā.
Sesesu pana samatiṁsa kammaṭṭhānesu appanābhāvanā pi
sampajjati.
Trong các pháp tu (bhāvanā), ở tất cả (40 thiền án) đều có
thể đạt được parikammabhāvanā (sự tu tập ở giai đoạn
chuẩn bị).
Trong mười thiền án tuỳ niệm — gồm tám niệm bắt đầu từ
niệm Phật (buddhānussati) cùng với một tưởng (saññā) và
một quán (vavatthāna) — chỉ có thể thành tựu
upacārabhāvanā (sự tu tập ở giai đoạn cận định), chứ
không có appanā (sự tu tập ở giai đoạn an chỉ/định sâu).
Trong ba mươi đề mục thiền còn lại thì có thể thành tựu
cả appanābhāvanā (sự tu tập đưa đến định an chỉ).
Chú Thích
Trong mười đề mục thiền bắt đầu từ niệm Phật, tâm chuyên chú vào việc quán
chiếu nhiều đặc tính và đề tài khác nhau. Điều này đòi
hỏi một sự vận dụng tư duy (vitakka) mạnh mẽ, khiến cho
nhất tâm (ekaggatā) không đạt được sự kiên cố cần thiết
để chứng đắc định an chỉ (appanā).
1. Parikamma-bhāvanā
(giai đoạn chuẩn bị )
Đây là giai đoạn hành giả mới khởi công tu tập. Tâm chuyên chú vào đề mục
thiền (kammaṭṭhāna) như hơi thở, bất tịnh, từ bi, v.v.
Hành giả nhận được sơ tướng (parikamma-nimitta) –
hình ảnh ban đầu, thô, chưa ổn định. Mục tiêu: làm quen
và thuần phục tâm, chuẩn bị cho sự định tĩnh sâu hơn.
2. Upacāra-bhāvanā
(giai đoạn cận định)
Khi tâm đã tương đối vững vàng, hành giả đạt đến mức cận định
(upacāra-samādhi). Lúc này, đề mục thiền trở nên rõ
ràng, sáng sạch hơn → gọi là tợ tướng (uggaha-nimitta).
Tâm gần với định an chỉ, nhưng chưa hoàn toàn nhập định.
Đây là trạng thái cận kề thiền định: các chướng ngại
(ngũ triền cái) tạm thời được chế ngự. Với một số đề mục
(như niệm Phật, niệm Pháp, niệm chết, v.v.) thì chỉ dừng
ở mức này, không thể vào định an chỉ.
3. Appanā-bhāvanā(giai đoạn
an chỉ /
nhập định)
Đây là giai đoạn cao nhất: định an chỉ (appanā-samādhi). Đề mục thiền được
chuyển hóa thành quang tướng hay đối tướng
(paṭibhāga-nimitta) – trong sáng, tinh khiết, không còn
khuyết điểm. Tâm hoàn toàn nhất điểm (ekaggatā), không
dao động. Đây là lúc hành giả chứng các tầng thiền
(jhāna), hoặc định vô sắc (arūpa-jhāna). Chỉ có 30 đề
mục thiền (như kasiṇa, hơi thở, từ bi, quán bất tịnh…)
mới đưa đến appanā; còn 10 đề mục khác chỉ dừng ở cận
định.
§15. Thiền án và các tầng Thiền (Jhāna)
Tatthā pi dasa kasiṇāni
ānāpānañ ca pañcakajjhānikāni.
Dasa asubhā kāyagatāsati ca paṭhamajjhānikā.
Mettādayo tayo catukkajjhānikā.
Upekkhā pañcamajjhānikā.
Iti chabbīsati rūpāvacarajjhānikāni kammaṭṭhānāni.
Cattāro pana āruppā arūpajjhānikā.
Ayam ettha bhāvanābhedo.
Ở đây: mười biến xứ (kasiṇa) và niệm hơi thở (ānāpāna) là
những đề mục đưa đến năm tầng thiền (pañcaka-jjhāna).
Mười bất tịnh (asubha) và niệm thân (kāyagatāsati) chỉ
đưa đến sơ thiền (paṭhama-jjhāna).
Ba vô lượng đầu (mettā, karuṇā, muditā) đưa đến bốn tầng
thiền (catukka-jjhāna).
Xả (upekkhā) đưa đến ngũ thiền (pañcama-jjhāna).
Như vậy, có tất cả 26 đề mục thiền thuộc phạm vi sắc
giới (rūpāvacara-jjhānika kammaṭṭhāna).
Còn lại bốn vô sắc (arūppa) thì đưa đến các thiền vô sắc
(arūpaj-jhāna).
Đây gọi là sự phân tích về sự phát triển (bhāvanābheda).
Chú Thích
Mười loại bất tịnh (asubha) và niệm thân (kāyagatāsati) đều cần sự vận
dụng suy tư hay tầm (vitakka); vì vậy, chúng không thể
dẫn đến những tầng thiền cao hơn sơ thiền, vốn siêu vượt
khỏi tầm (vitakka).
Ba vô lượng đầu (từ, bi, hỷ) tất yếu phát khởi cùng với
hỷ thọ (somanassa); do đó, chúng chỉ có thể đưa đến bốn
tầng thiền thấp, vốn đi kèm với hỷ thọ.
Vô lượng tâm xả (upekkhā) phát khởi cùng với xả thọ
(upekkhā vedanā); vì vậy, nó chỉ có thể hiện khởi ở mức
ngũ thiền, vốn đi kèm với thọ xả.
Dưới đây là trích đoạn trong quyển “Toát Yếu A Tỳ Đàm” của Hoà
thượng Tuệ Siêu
CHƯƠNG IX.
TOÁT YẾU
NGHIỆP XỨ
(KAMMAṬṬHĀNASAṄGAHA)
@@@@@@
• Các vấn đề liên quan đến chỉ nghiệp xứ
(1)Nghiệp xứ phân theo tánh nết
Có sáu loại tánh nết (carita, cariyā):
1. Tánh ái (rāgacarita) là người sống nặng về tình
cảm, ham thích, tham đắm, ái luyến.
2. Tánh sân (dosacarita) là người nóng tính, dễ
giận dữ, dễ nổi quạu, cộc cằn, thô lỗ...
3. Tánh si (mohacarita) là người đờ đẫn, chậm hiểu,
không thông minh.
4. Tánh tín (saddhācarita) là người dễ tin, dễ phát
khởi niềm tin, dễ xu hướng.
5. Tánh giác (buddhicarita) là người có trí, thông
minh, sống thiên về lý trí, biết suy nghĩ cân nhắc.
6. Tánh tầm (vitakkacarita) là người hay nghĩ ngợi,
nói nhiều và nói lạc đề, hay bỏ dở công việc đang làm,
thiếu sự tập trung.
Hành giả trước khi tu tiến thiền định cần phải chỉnh sửa
tánh nết cho chánh hướng, nếu không sẽ trở ngại sự tiến
tu chứng đắc thiền.
1. Người có tánh ái nặng cần phải khắc phục bằng cách quán
niệm 10 đề mục bất mỹ (asubha) tức niệm tử thi và
quán thân hành niệm (kāyagatāsati) tức niệm thể
trược.
2. Người có tánh sân nặng cần phải khắc phục bằng cách tu
tập 4 phạm trú (brahmavihāra), và 4 biến xứ màu (vaṇṇakasiṇa)
là xanh, vàng, đỏ, trắng.
3. Người có tánh si và tánh tầm, cả hai tánh nết này cần
được khắc phục bằng cách niệm hơi thở hay nhập xuất tức
niệm (ānāpānassati). Người tánh si và tánh tầm,
tâm lơ lãng, không tập trung do phóng dật, hoài nghi và
suy tầm, nên cách chú ý vào hơi thở ra vô luyện tâm tập
trung rất hiệu quả.
4. Người có tánh tín, nếu không khéo an lập niềm tin chánh
tín sẽ sanh ra mê tín, cuồng tín... Nên phải chỉnh đốn
bằng cách tu tập 6 tùy niệm (anussati) là niệm
phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí và niệm
thiên. Khi đó tâm hành giả chỉ khởi lên niềm tin tam bảo
và tin các thiện hạnh thôi.
5. Người có tánh giác hay tánh thông minh, nếu không khéo
tư duy sẽ dẫn đến lý luận, biện luận và tranh luận vô
ích, nên phải chấn chỉnh bằng cách suy nghĩ về sự chết
hay niệm tử (maraṇānussati), suy nghĩ về níp-bàn
hay niệm tịch tịnh (upasamānussati), suy tưởng
nhờm gớm vật thực (āhāre paṭikūlasaññā), và suy
tư phân biệt tứ đại (catudhātuvavaṭṭhāna). Khi
hành giả tư duy về các đề tài vi tế thâm sâu như vậy,
trí tuệ được khơi dậy chánh hướng.
Sau khi đã sửa chữa tánh nết thích nghi với tâm lý tu tập,
hành giả mới bắt đầu tu tiến theo bất cứ đề mục nào
trong 40 đề mục. Nói như vậy có nghĩa là không có sự cấm
kị nào cho hành giả tu tiến nghiệp xứ khi mà hành giả đã
khắc phục được nhược điểm tánh nết; Hơn nữa, sự phân
loại đề mục theo tánh nết là ý kiến của các vị giáo thọ,
trong kinh luật chánh tạng không có nói đến.
(2) Nghiệp xứ phân theo giai đoạn
tu tiến
Có ba giai đoạn tu tiến (bhāvanā):
1. Bước tu chuẩn bị (parikammabhāvanā) là giai đoạn
tu tập khởi đầu sắp đặt đề mục, dán tâm trên đề mục để
làm quen. Nhất hành tâm (ekaggatacetasika) ở giai
đoạn chuẩn bị này gọi là sát-na định (khaṇikasamādhi).
Bốn mươi nghiệp xứ (đề mục chỉ) đều bước qua giai đoạn
khởi sự tu tập này, tức là bước tu chuẩn bị (parikammabhāvanā).
2. Bước tu cận hành (upacārabhāvanā) là giai đoạn
tu tập đề mục thuần thục hơn, tiến gần thiền định, cận
kề với sự đắc chứng. Nhất hành tâm (ekaggatācetasika)
ở giai đoạn hai này gọi là cận định (upacārasamādhi).
Bốn mươi nghiệp xứ được tu tập nghiêm mật sẽ bước qua giai
đoạn cận định này; Nhưng trong đó có 10 đề mục tu tập
chỉ đạt đến cận định là đỉnh cao, tức là 8 tùy niệm
(niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí,
niệm thiên, niệm tử, niệm tịch tịnh), 1 tưởng nhờm gớm
vật thực, 1 phân biệt tứ đại. Còn 30 đề mục khác thì
không dừng lại ở cận định mà tiến xa hơn nữa, tức là
bước qua giai đoạn chứng thiền định.
3. Bước tu tiến an chỉ (appanābhāvanā) là giai đoạn
chứng đắc thiền định. Các tâm đổng lực đáo đại (mahaggatājavana)
và đổng lực siêu thế (lokuttarajavana) gọi là
đổng lực an chỉ hay đổng lực kiên cố (appanājavana);
Nếu tu tiến với chỉ nghiệp xứ (samathakammaṭṭhāna)
thì đắc thiền (jhāna) hay đổng lực đáo đại; Nếu
tu tiến với quán nghiệp xứ (vipassanākammaṭṭhāna)
thì đắc đạo quả (maggaphala) hay đổng lực siêu
thế.
Trong 40 đề mục (chỉ nghiệp xứ), có 30 đề mục đạt tới
chứng thiền hay an chỉ định (appanāsamādhi), là
10 đề mục biến xứ (kasiṇa), 10 đề mục bất mỹ (asubha),
4 đề mục phạm trú (brahmavihāra), 1 đề mục thân
hành niệm (kāyagatāsati), 1 đề mục nhập xuất tức
niệm (ānāpānassati), và 4 đề mục vô sắc (āruppa).
(3) Nghiệp xứ phân theo thiền chứng
Có 30 đề mục đưa đến chứng thiền hay an chỉ định, trong đó
có những đề mục chứng thiền sắc giới, có những đề mục
chứng thiền vô sắc giới, có những đề mục chỉ chứng sơ
thiền, có những đề mục chứng bốn thiền sắc giới thọ hỷ,
có đề mục chỉ chứng ngũ thiền sắc giới. Như sau:
- 10 đề mục biến xứ (kasiṇa) và đề mục nhập xuất
tức niệm (ānāpānassati), là 11 đề mục chứng năm
bậc thiền sắc giới.
- 10 đề mục bất mỹ (asubha) và đề mục thân hành
niệm (kāyagatāsati), là 11 đề mục chỉ chứng sơ
thiền sắc giới.
- 3 đề mục phạm trú (brahmavihāra): từ (metta),
bi (karuṇā), hỷ (muditā) là 3 đề mục chỉ
chứng sắc giới sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ
thiền.
- 1 đề mục xả phạm trú (upekkhābrahmavihāra) chỉ
chứng sắc giới ngũ thiền.
- 4 đề mục vô sắc (ārupā), là 4 đề mục chứng thiền
vô sắc giới (arūpajhāna).