|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 27 tháng 09, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 511. TRẢ VỀ VỚI VÔ NGÔN - Kinh Sabhiya Kaccāna (Sabhiyakaccānasuttaṃ) ... .
Tất cả những gì có thể nói đều giới hạn trong ngôn
từ. Những gì nằm ngoài khả tính biểu đạt của ngữ ngôn nên trả về
với im lặng. Sự im lặng của tuệ giác, của tự thân thể nghiệm.
Những nghi hoặc và cố gắng mô tả điều vượt khỏi ngôn từ đều là
điên đảo vọng tưởng. Phải hiểu giá trị của sự im lặng, và không
phải sự im lặng nào cũng giống nhau.
Kinh Văn
420. ekaṃ samayaṃ
āyasmā sabhiyo kaccāno ñātike viharati giñjakāvasathe. atha kho
vacchagotto paribbājako yenāyasmā sabhiyo kaccāno tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā āyasmatā sabhiyena kaccānena saddhiṃ sammodi.
sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi.
ekamantaṃ nisinno kho vacchagotto paribbājako āyasmantaṃ
sabhiyaṃ kaccānaṃ etadavoca — “kiṃ nu kho bho, kaccāna, hoti
tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “abyākataṃ kho etaṃ, vaccha,
bhagavatā — ‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti. “kiṃ pana, bho
kaccāna, na hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “etampi kho, vaccha,
abyākataṃ bhagavatā — ‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti.
“kiṃ nu kho, bho kaccāna, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ
maraṇā”ti? “abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — ‘hoti ca na
ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti. “kiṃ pana, bho kaccāna, neva
hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “etampi kho, vaccha,
abyākataṃ bhagavatā — ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ
maraṇā’”ti.
“‘kiṃ nu kho, bho kaccāna, hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti,
iti puṭṭho samāno — ‘abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā —
hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vadesi. ‘kiṃ pana, bho kaccāna,
na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti, iti puṭṭho samāno —
‘abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — na hoti tathāgato paraṃ
maraṇā’ti vadesi. ‘kiṃ nu kho, bho kaccāna, hoti ca na ca hoti
tathāgato paraṃ maraṇā’ti, iti puṭṭho samāno — ‘abyākataṃ kho
etaṃ, vaccha, bhagavatā — hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ
maraṇā’ti vadesi. ‘kiṃ pana, bho kaccāna, neva hoti na na hoti
tathāgato paraṃ maraṇā’ti, iti puṭṭho samāno — ‘etampi kho,
vaccha, abyākataṃ bhagavatā — neva hoti na na hoti tathāgato
paraṃ maraṇā’ti vadesi. ko nu kho, bho kaccāna, hetu, ko
paccayo, yenetaṃ abyākataṃ samaṇena gotamenā”ti? “yo ca, vaccha,
hetu, yo ca paccayo paññāpanāya rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā
asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā, so ca hetu, so ca paccayo
sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ aparisesaṃ nirujjheyya. kena naṃ
paññāpayamāno paññāpeyya rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā
asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā”ti. “kīvaciraṃ pabbajitosi,
bho kaccānā”ti? “naciraṃ, āvuso, tīṇi vassānī”ti. “yassapa’ssa,
āvuso, etamettakena ettakameva taṃpa’ssa bahu, ko pana vādo evaṃ
{ko pana vādo eva (sī. pī.)} abhikkante”ti! ekādasamaṃ.
Một thuở, Tôn giả Sabhiya Kaccāna trú tại Ñātika, trong Giảng đường bằng
gạch. Lúc ấy, du sĩ Vacchagotta đến gặp Tôn giả Sabhiya Kaccāna,
chào hỏi và thăm hỏi xã giao. Sau khi chào hỏi và xã giao xong,
ông ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả rằng:
“Bạch Tôn giả Kaccāna, Như Lai có tồn tại sau khi chết hay không?”
-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn không trả lời: "Như Lai có tồn tại sau khi
chết".
--Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai không tồn tại sau khi chết?
-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không tồn tại sau
khi chết".
-- Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi
chết?
-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai có tồn tại và không
tồn tại sau khi chết".
-- Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau
khi chết?
-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không tồn tại và
không không tồn tại sau khi chết".
7) -- Ðược hỏi: "Thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?",
Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn không trả lời: ‘Như
Lai có tồn tại sau khi chết"". Ðược hỏi: "Thưa Hiền giả, thế là
Như Lai không tồn tại sau khi chết?", Hiền giả trả lời: "Thưa
Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại sau
khi chết’". Ðược hỏi: "Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại
và không tồn tại sau khi chết?", Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền
giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không
tồn tại sau khi chết"". Ðược hỏi: "Thưa Hiền giả, thế là Như Lai
không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?", Hiền giả
trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai
không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"".“Vậy thì,
bạch Tôn giả Kaccāna, nguyên nhân và lý do gì mà Đức Thế Tôn
không tuyên bố điều này?”
“Này hiền hữu Vaccha, phải có nhân và duyên để mô tả Như Lai là ‘hữu sắc’
hay là ‘vô sắc’, là ‘hữu tưởng’ hay là ‘vô tưởng’, hay là ‘phi
tưởng phi phi tưởng’: nếu nhân và duyên ấy hoàn toàn, toàn bộ,
không dư tàn mà diệt tận, thì làm sao có thể mô tả Ngài là ‘hữu
sắc’ hay là ‘vô sắc’, là ‘hữu tưởng’ hay là ‘vô tưởng’, hay là
‘phi tưởng phi phi tưởng’?”
“Bạch Tôn giả Kaccāna, thầy đã xuất gia được bao lâu rồi?”
“Này hiền hữu, chưa lâu. Mới ba năm.”
“Một người, này hiền hữu, mà trong khoảng thời gian ngắn như thế đã đạt
được nhiều như vậy, thật sự là đã đạt được rất nhiều – huống chi
là người đã vượt xa hơn thế nữa!”
Chú Thích
Câu giải thích: “Này hiền hữu Vaccha, như về nhân và duyên để mô tả Như
Lai là ‘hữu sắc’ hay là ‘vô sắc’, là ‘có tri giác’ hay là ‘không
tri giác’, hay là ‘phi tri giác phi bất tri giác’: nếu nhân và
duyên ấy hoàn toàn, toàn bộ, không dư tàn mà diệt tận, thì làm
sao có thể mô tả Ngài là ‘hữu sắc’, hay ‘vô sắc’, hay ‘có tri
giác’, hay ‘không tri giác’, hay ‘phi tri giác phi bất tri giác’
hàm nghĩa rằng việc hỏi “Như Lai sau khi chết có tồn tại hay
không” là vô ích. Vì khi duyên đã diệt, không còn phạm trù nào
có thể áp dụng. Đó là lý do Đức Phật im lặng trước câu hỏi này –
sự im lặng không phải là không biết, mà là vì ngôn ngữ và khái
niệm không còn thích hợp để diễn đạt chân lý Niết-bàn.
Chấm than (!) trong câu cuối cùng không có trong chánh văn, tuy vậy bản
dịch thêm vào để nói lên câu cảm thán theo ngôn phong.
Đây là bài kinh cuối cùng của Phẩm Sáu
Xứ (saḷāyatanavaggo)
Sớ Giải
420. Ekādasame etamettakena ettakamevāti āvuso yassāpi etaṃ ettakena kālena “hetumhi
sati rūpītiādi paññāpanā hoti, asati na hotī”ti byākaraṇaṃ bhaveyya, tassa
ettakameva bahu. ko pana vādo atikkanteti atikkante pana
atimanāpe dhammadesanānaye vādoyeva ko, natthi vādo, chinnā
kathāti.
“Trong kinh thứ mười một (Sabhiya Kaccāna): “này hiền hữu, chỉ với chừng
ấy thôi: nếu còn có nhân duyên thì có thể nói đến ‘hữu sắc, vô
sắc, có tri giác, không tri giác, hay phi tri giác phi bất tri
giác’. Nếu nhân duyên ấy không còn, thì không có chỗ để mô tả”.
Như vậy, một lời giải thích như thế đã là quá đủ. Huống chi khi nói đến
bậc đã vượt lên trên hết thảy, siêu việt, thì tranh luận gì còn
có thể khởi lên? Ở đó, không còn tranh luận, mọi bàn cãi đều dứt
bặt.”
“hetumhi sati … asati na hoti”
Khi có nhân duyên, mới có thể nói “hữu sắc, vô sắc,
có tri giác, không tri giác…”
Khi nhân duyên đã diệt tận, thì không thể dùng các phạm trù
này để mô tả.
“tassa ettakameva bahu”
Lời giải thích đơn giản như vậy thôi cũng đã là đủ nhiều, không cần thêm
nữa.
“ko pana vādo atikkante”
Đối với bậc đã vượt ngoài hết thảy khái niệm (tức A-la-hán hay Như
Lai sau khi nhập Niết-bàn), thì còn tranh luận gì được nữa?
“natthi vādo, chinnā kathā”
Không còn bàn luận, lời nói cắt đứt, chấm dứt.
(Đây là cách kinh điển Pāli diễn đạt rằng: sự siêu việt mọi quan niệm
có/không, bàn cãi không còn ý nghĩa. “Như Lai sau khi chết có
tồn tại hay không” là vô ích. Vì khi duyên đã diệt, không còn
phạm trù nào có thể áp dụng. Đó là lý do Đức Phật im lặng trước
câu hỏi này – sự im lặng không phải là không biết, mà là vì ngôn
ngữ và khái niệm không còn thích hợp để diễn đạt chân lý
Niết-bàn.).
[44] Chương X
Tương Ưng Không Thuyết
-ooOoo-
XI.Sabhiya (S.iv,401)
1) Một thời, Tôn giả Sabhiya Kaccàna trú ở Nàtika, tại ngôi
nhà bằng gạch.
2) Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Tôn giả Sabhiya Kaccàna; sau
khi đến, nói lên với Tôn giả Sabhiya Kaccàna những lời chào đón
hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu
rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Sabhiya
Kaccàna như sau:
-- Thưa Tôn giả Kaccàna, có phải Như Lai có tồn tại sau khi
chết?
-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Như Lai có tồn tại
sau khi chết".
4) -- Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai không tồn tại
sau khi chết?
-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không
tồn tại sau khi chết".
5) Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai có tồn tại và không
tồn tại sau khi chết?
-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai có tồn
tại và không tồn tại sau khi chết".
6) -- Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai không tồn tại và
không không tồn tại sau khi chết?
-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không
tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
7) -- Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai có
tồn tại sau khi chết?", Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn
không có trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’"?
8) Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai không
có tồn tại sau khi chết?", Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn
không trả lời: ‘Như Lai không có tồn tại sau khi chết""?
9) Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai có
tồn tại và không có tồn tại sau khi chết?", Tôn giả lại nói:
"Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không
có tồn tại sau khi chết’"?
10) Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai
không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?" Tôn giả lại
nói: "Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn
tại và không không tồn tại sau khi chết"".
11) Thưa Tôn giả Kaccàna, do nhân gì, do duyên gì, Sa-môn
Gotama lại không trả lời về vấn đề ấy?
12) -- Này Vaccha, do nhân gì, do duyên gì, mà trình bày
người ấy là có sắc, hay không có sắc, có tưởng hay không có
tưởng, không có tưởng hay không không có tưởng, thì khi nhân ấy,
duyên ấy được đoạn diệt không có dư tàn, một cách toàn diện, một
cách hoàn toàn, khi ấy lấy cái gì để trình bày người ấy là có
sắc, hay không có sắc, có tưởng hay không có tưởng, không có
tưởng hay không không có tưởng?
13) -- Này Tôn giả Kaccàna, Tôn giả xuất gia đã bao lâu?
-- Thưa Hiền giả, không lâu, chỉ có ba năm.
14) -- Hãy xem, với thời gian ngắn như vậy, lại được thấy
nhiều như vậy. Còn nói gì đến các vấn đề vi diệu! -oo0oo- |