BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 27 tháng 09, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 42. Tương Ưng Vô Thuyết - SN 44.11.
Bài 511. TRẢ VỀ VỚI VÔ NGÔN - Kinh Sabhiya Kaccāna (Sabhiyakaccānasuttaṃ)

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-511.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Tất cả những gì có thể nói đều giới hạn trong ngôn từ. Những gì nằm ngoài khả tính biểu đạt của ngữ ngôn nên trả về với im lặng. Sự im lặng của tuệ giác, của tự thân thể nghiệm. Những nghi hoặc và cố gắng mô tả điều vượt khỏi ngôn từ đều là điên đảo vọng tưởng. Phải hiểu giá trị của sự im lặng, và không phải sự im lặng nào cũng giống nhau.

Kinh Văn

 420. ekaṃ samayaṃ āyasmā sabhiyo kaccāno ñātike viharati giñjakāvasathe. atha kho vacchagotto paribbājako yenāyasmā sabhiyo kaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sabhiyena kaccānena saddhiṃ sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho vacchagotto paribbājako āyasmantaṃ sabhiyaṃ kaccānaṃ etadavoca — “kiṃ nu kho bho, kaccāna, hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — ‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti. “kiṃ pana, bho kaccāna, na hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ bhagavatā — ‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti.

“kiṃ nu kho, bho kaccāna, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti. “kiṃ pana, bho kaccāna, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā”ti? “etampi kho, vaccha, abyākataṃ bhagavatā — ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’”ti.

“‘kiṃ nu kho, bho kaccāna, hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti, iti puṭṭho samāno — ‘abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vadesi. ‘kiṃ pana, bho kaccāna, na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti, iti puṭṭho samāno — ‘abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vadesi. ‘kiṃ nu kho, bho kaccāna, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti, iti puṭṭho samāno — ‘abyākataṃ kho etaṃ, vaccha, bhagavatā — hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vadesi. ‘kiṃ pana, bho kaccāna, neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti, iti puṭṭho samāno — ‘etampi kho, vaccha, abyākataṃ bhagavatā — neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vadesi. ko nu kho, bho kaccāna, hetu, ko paccayo, yenetaṃ abyākataṃ samaṇena gotamenā”ti? “yo ca, vaccha, hetu, yo ca paccayo paññāpanāya rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā, so ca hetu, so ca paccayo sabbena sabbaṃ sabbathā sabbaṃ aparisesaṃ nirujjheyya. kena naṃ paññāpayamāno paññāpeyya rūpīti vā arūpīti vā saññīti vā asaññīti vā nevasaññīnāsaññīti vā”ti. “kīvaciraṃ pabbajitosi, bho kaccānā”ti? “naciraṃ, āvuso, tīṇi vassānī”ti. “yassapa’ssa, āvuso, etamettakena ettakameva taṃpa’ssa bahu, ko pana vādo evaṃ {ko pana vādo eva (sī. pī.)} abhikkante”ti! ekādasamaṃ.

Một thuở, Tôn giả Sabhiya Kaccāna trú tại Ñātika, trong Giảng đường bằng gạch. Lúc ấy, du sĩ Vacchagotta đến gặp Tôn giả Sabhiya Kaccāna, chào hỏi và thăm hỏi xã giao. Sau khi chào hỏi và xã giao xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Tôn giả rằng:

“Bạch Tôn giả Kaccāna, Như Lai có tồn tại sau khi chết hay không?”

-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn không trả lời: "Như Lai có tồn tại sau khi chết".

--Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai không tồn tại sau khi chết?

-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không tồn tại sau khi chết".

-- Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?

-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".

-- Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

-- Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

7) -- Ðược hỏi: "Thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?", Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết"". Ðược hỏi: "Thưa Hiền giả, thế là Như Lai không tồn tại sau khi chết?", Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’". Ðược hỏi: "Thế là, thưa Hiền giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?", Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết"". Ðược hỏi: "Thưa Hiền giả, thế là Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?", Hiền giả trả lời: "Thưa Hiền giả, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"".“Vậy thì, bạch Tôn giả Kaccāna, nguyên nhân và lý do gì mà Đức Thế Tôn không tuyên bố điều này?”

“Này hiền hữu Vaccha, phải có nhân và duyên để mô tả Như Lai là ‘hữu sắc’ hay là ‘vô sắc’, là ‘hữu tưởng’ hay là ‘vô tưởng’, hay là ‘phi tưởng phi phi tưởng’: nếu nhân và duyên ấy hoàn toàn, toàn bộ, không dư tàn mà diệt tận, thì làm sao có thể mô tả Ngài là ‘hữu sắc’ hay là ‘vô sắc’, là ‘hữu tưởng’ hay là ‘vô tưởng’, hay là ‘phi tưởng phi phi tưởng’?”

“Bạch Tôn giả Kaccāna, thầy đã xuất gia được bao lâu rồi?”

“Này hiền hữu, chưa lâu. Mới ba năm.”

“Một người, này hiền hữu, mà trong khoảng thời gian ngắn như thế đã đạt được nhiều như vậy, thật sự là đã đạt được rất nhiều – huống chi là người đã vượt xa hơn thế nữa!”

Chú Thích
Sabhiya Thera (âm Hán Việt: Tát Bà Da) là một nhân vật đặc biệt – xuất thân từ ngoại đạo, nổi tiếng với tài biện luận.  Mẹ của ngài là con gái một vị vương giả. Cha mẹ bà giao phó bà cho một du sĩ ngoại đạo (Paribbājaka) để bà học các học thuyết và tập tục. Người du sĩ này đã dụ dỗ bà, và bà mang thai. Khi biết chuyện,  du sĩ đã bỏ rơi bà. Khi bà mang thai lang thang một mình, bà sinh con giữa chỗ công cộng (sabhāyaṃ). Vì thế, đứa trẻ được đặt tên là Sabhiya (“người sinh nơi công cộng”). Khi lớn lên, Sabhiya cũng trở thành một du sĩ (Paribbājaka), nổi tiếng là một nhà biện luận. Ngài có một am thất gần cổng thành, nơi dạy dỗ con em giới quý tộc. Ngài lập ra 20 câu hỏi khó để thử thách các sa-môn và bà-la-môn, nhưng không ai có thể trả lời. Những câu hỏi này thực ra được truyền lại từ mẹ ngài, người đã phát triển tuệ giác và tái sinh vào cõi Phạm thiên. Như ghi lại trong Sabhiya Sutta (Sutta Nipāta), Sabhiya đến gặp Đức Phật tại Trúc Lâm (Veluvana). Sau buổi đối thoại, ngài phát tâm quy y, xin xuất gia và tu tập. Nhờ tuệ quán, ngài chứng đắc A-la-hán. Trong thời giáo pháp của Đức Phật Kassapa, sau khi Đức Phật Kassapa nhập diệt, Sabhiya cùng sáu người khác xuất gia, sống trong rừng. Họ không đạt được thiền định (jhāna), bèn lên núi, quyết chí hoặc là chứng đắc, hoặc chết đói. Người lớn tuổi nhất chứng quả A-la-hán. Người kế chứng A-na-hàm (anāgāmī), tái sinh về cõi Suddhāvāsā. Năm người còn lại chết mà không đạt được gì. Năm vị ấy, về sau trong thời Đức Phật Thích-ca, chính là: Pukkusāti, Sabhiya, Bāhiya, Kumārakassapa, Dabba Mallaputta. (Nguồn: ThagA i.381f[Chú Giải
Trưởng Lão Tăng Kệ, tập I, từ trang 381 trở đi] .; SNA ii.419ff [Chú giải Tương Ưng, Tập II, trang 419 trở đi]  .; Apadāna ii.473[Thí Dụ Kinh, tập II trang 473]; Dhammapada Aṭṭhakathā ii.212[Chú giải Pháp Cú Kinh, Tập II, câu 212). Tôn giả Sabhiya được nhắc đến như một du sĩ có trí tuệ (paṇḍita paribbājaka) (SA ii.188- [Tương Ưng Tập II, trang 188]). Trong Theragāthā (câu kệ của các vị Trưởng lão), có một loạt bài kệ do ngài nói ra, khuyên răn các tỳ-khưu theo phe Đề-bà-đạt-đa (kệ 275–278). Trong các kinh điển Bắc truyền (ví dụ Mūlasarvāstivāda Vinaya), cũng có những đoạn liên hệ đến Sabhiya.

Câu giải thích: “Này hiền hữu Vaccha, như về nhân và duyên để mô tả Như Lai là ‘hữu sắc’ hay là ‘vô sắc’, là ‘có tri giác’ hay là ‘không tri giác’, hay là ‘phi tri giác phi bất tri giác’: nếu nhân và duyên ấy hoàn toàn, toàn bộ, không dư tàn mà diệt tận, thì làm sao có thể mô tả Ngài là ‘hữu sắc’, hay ‘vô sắc’, hay ‘có tri giác’, hay ‘không tri giác’, hay ‘phi tri giác phi bất tri giác’ hàm nghĩa rằng việc hỏi “Như Lai sau khi chết có tồn tại hay không” là vô ích. Vì khi duyên đã diệt, không còn phạm trù nào có thể áp dụng. Đó là lý do Đức Phật im lặng trước câu hỏi này – sự im lặng không phải là không biết, mà là vì ngôn ngữ và khái niệm không còn thích hợp để diễn đạt chân lý Niết-bàn.

Chấm than (!) trong câu cuối cùng không có trong chánh văn, tuy vậy bản dịch thêm vào để nói lên câu cảm thán theo ngôn phong.

Đây là bài kinh cuối cùng của Phẩm Sáu Xứ (saḷāyatanavaggo)

Sớ Giải

420. Ekādasame etamettakena ettakamevāti āvuso yassāpi etaṃ ettakena kālena “hetumhi sati rūpītiādi paññāpanā hoti, asati na hotī”ti byākaraṇaṃ bhaveyya, tassa ettakameva bahu. ko pana vādo atikkanteti atikkante pana atimanāpe dhammadesanānaye vādoyeva ko, natthi vādo, chinnā kathāti.

“Trong kinh thứ mười một (Sabhiya Kaccāna): “này hiền hữu, chỉ với chừng ấy thôi: nếu còn có nhân duyên thì có thể nói đến ‘hữu sắc, vô sắc, có tri giác, không tri giác, hay phi tri giác phi bất tri giác’. Nếu nhân duyên ấy không còn, thì không có chỗ để mô tả”.

Như vậy, một lời giải thích như thế đã là quá đủ. Huống chi khi nói đến bậc đã vượt lên trên hết thảy, siêu việt, thì tranh luận gì còn có thể khởi lên? Ở đó, không còn tranh luận, mọi bàn cãi đều dứt bặt.”

“hetumhi sati … asati na hoti”

Khi có nhân duyên, mới có thể nói “hữu sắc, vô sắc, có tri giác, không tri giác…”

Khi nhân duyên đã diệt tận, thì không thể dùng các phạm trù này để mô tả.

“tassa ettakameva bahu”

Lời giải thích đơn giản như vậy thôi cũng đã là đủ nhiều, không cần thêm nữa.

“ko pana vādo atikkante”

Đối với bậc đã vượt ngoài hết thảy khái niệm (tức A-la-hán hay Như Lai sau khi nhập Niết-bàn), thì còn tranh luận gì được nữa?

“natthi vādo, chinnā kathā”

Không còn bàn luận, lời nói cắt đứt, chấm dứt.

(Đây là cách kinh điển Pāli diễn đạt rằng: sự siêu việt mọi quan niệm có/không, bàn cãi không còn ý nghĩa. “Như Lai sau khi chết có tồn tại hay không” là vô ích. Vì khi duyên đã diệt, không còn phạm trù nào có thể áp dụng. Đó là lý do Đức Phật im lặng trước câu hỏi này – sự im lặng không phải là không biết, mà là vì ngôn ngữ và khái niệm không còn thích hợp để diễn đạt chân lý Niết-bàn.).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[44] Chương X

Tương Ưng Không Thuyết

-ooOoo-

XI.Sabhiya (S.iv,401)

1) Một thời, Tôn giả Sabhiya Kaccàna trú ở Nàtika, tại ngôi nhà bằng gạch.

2) Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Tôn giả Sabhiya Kaccàna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sabhiya Kaccàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta nói với Tôn giả Sabhiya Kaccàna như sau:

-- Thưa Tôn giả Kaccàna, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: "Như Lai có tồn tại sau khi chết".

4) -- Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không tồn tại sau khi chết".

5) Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".

6) -- Thế là, thưa Tôn giả Kaccàna, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?

-- Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".

7) -- Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai có tồn tại sau khi chết?", Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn không có trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’"?

8) Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai không có tồn tại sau khi chết?", Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai không có tồn tại sau khi chết""?

9) Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết?", Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết’"?

10) Thưa Tôn giả Kaccàna, vì sao khi được hỏi: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?" Tôn giả lại nói: "Này Vaccha, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết"".

11) Thưa Tôn giả Kaccàna, do nhân gì, do duyên gì, Sa-môn Gotama lại không trả lời về vấn đề ấy?

12) -- Này Vaccha, do nhân gì, do duyên gì, mà trình bày người ấy là có sắc, hay không có sắc, có tưởng hay không có tưởng, không có tưởng hay không không có tưởng, thì khi nhân ấy, duyên ấy được đoạn diệt không có dư tàn, một cách toàn diện, một cách hoàn toàn, khi ấy lấy cái gì để trình bày người ấy là có sắc, hay không có sắc, có tưởng hay không có tưởng, không có tưởng hay không không có tưởng?

13) -- Này Tôn giả Kaccàna, Tôn giả xuất gia đã bao lâu?

-- Thưa Hiền giả, không lâu, chỉ có ba năm.

14) -- Hãy xem, với thời gian ngắn như vậy, lại được thấy nhiều như vậy. Còn nói gì đến các vấn đề vi diệu!

-oo0oo-