NHẬT HÀNH
 
Thứ Năm ngày 20 tháng 09, năm 2018

Giảng Sư
:TT
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: TK Minh Hạnh.
Tri chúng: PT

Bài học hôm nay GIÁO TRÌNH LỚP PHẬT PHÁP BUDDHADHAMMA-

-Phần I- LỜI MỞ ĐẦU GIỜ HỌC (Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng.)
 
Namo Buddhaya. Đây là chương trình Phật Pháp Buddhadhamma trên paltalk Mỗi ngày hai giờ, giờ mùa hè, Việt Nam  từ 8:00 đến 10:00 PM tối, Houston 8:00 đến 10:00 sáng, NY 9:00 đến 11:00 sáng, Cali 6:00 đến 8:00 sáng, Paris 2:00 đến 4:00 chiều, Sydney 11:00  tối đến 1:00 sáng

Con...... thành kính đảnh lễ chư tôn đức và thân chào tất cả đạo hữu

Hôm nay Thứ Năm ng
ày 20 tháng 09, năm 2018, Phật lịch 2562. Đề tài hôm nay Giáo Trình Trường Bộ KinhDìgha Nikàya-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt, Bài 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn- Phần 2.1 Trầm luân từ bao kiếp sẽ do DD Huy Niệm giảng giải.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo.
Chúng con xin kính thỉnh TT Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo. Namo Buddhaya.
(TT Minh Hạnh)
 
Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
 
Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.
 
Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng tuần tự an tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.
 
Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
 
*****************************
______________________________
 
(Phần II )
Kính tri ân Sư Minh Hạnh.
Kính bạch chư tôn đức
Kính thưa đại chúng
 
Bài học hôm nay GIÁO TRÌNH Trường Bộ Kinh-Dìgha Nikàya-Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt.

Tập I (Kinh số 1-16)

(01) Kinh Phạm võng (Brahmajàla Sutta)
(02) Kinh Sa-môn quả (Sàmanna-Phala Sutta) (a)
(03) Kinh A-ma-trú (Ambattha Sutta)
(04) Kinh Chủng Ðức (Sonadanda Sutta)
(05) Kinh Cứu-la-đàn-đầu (Kutadanta Sutta)
(06) Kinh Ma-ha-li (Mahàli Sutta)
(07) Kinh Cha-li-da (Jàliya Sutta)
(08) Kinh Ca-diếp Sư tử hống (Kassapa-Sìhanàda Sutta) - Kinh Ðại Sư tử hống (Mahà-Sìhanàda Sutta)
(09) Kinh Bố-sá-bà-lâu (Potthapàda Sutta)
(10) Kinh Tu-ba (Subha Sutta)
(11) Kinh Kiên cố (Kevaddha Sutta) (a)
(12) Kinh Lô-hi-gia (Lohicca Sutta) (a)
(13) Kinh Tam minh (Tevijja Sutta)
(14) Kinh Ðại bổn (Mahà-Padàna Sutta)
(15) Kinh Ðại duyên (Mahà-Nidàna Sutta) (a)
(16) Kinh Ðại Bát-niết-bàn (Mahà-parinibbàna Sutta) (a)

Trường Bộ Kinh
                                                 


GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH HƯỚNG DẪN BÀI HỌC

NGÀY 20/09/2018

16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn -Mahāparinibbāṇa Sutta

Phần I: Tổng quan

Parinibbàna (âm là Bát-Niết-Bàn) chỉ cho sự chết của một bậc hoàn toàn giải thoát hay chấm dứt năm uẩn. Đại Bát-Niết-Bàn (Mahà Parinibbàna) là từ vựng đặc biệt chỉ cho sự viên tịch của Đức Phật, bậc chánh đẳng chánh giác.

Đây là bài kinh (sutta) dài nhất trong Kinh Trường Bộ. Điều nầy có nghĩa là bài kinh dài nhất trong Kinh Tạng.

Kinh Đại Bát Niết Bàn ghi lại những tháng ngày sau cùng của Đức Phật khởi sự từ thành Vương Xá cho đến lúc Đức Thế Tôn viên tịch  ở Kusinara

Bố cục Kinh Đại Bát Niết Bàn có thể phân chia như sau:

Phần I. Ở Maghadha (Ma Kiệt Đà): Điều kiện thịnh suy cho một quốc gia - Những yếu tố khiến Tăng chúng hưng thịnh (Bảy đức tính - thất giác chi - bảy pháp quán tưởng – Sáu điều kiện cần ghi nhớ - huấn thị chư tỳ kheo - tiếng rống sư tử của tôn giả Sàriputta - quả của đời sống giới hạnh và đời sống không giới hạnh – Băng ngang sông Hằng

Phần II: Hành trình tới Vesali (Tỳ Xá Ly): Những pháp thoại về tứ thánh đế - bốn thành tựu – pháp kính – chánh niệm tỉnh giác - Kỷ nữ Ambapali và những hoàng tử Licchavi - Thế Tôn lâm bệnh

Phần III: Từ bỏ thọ hành – Lời gợi ý – Ma vương thỉnh Phật nhập diệt - Những nguyên nhân địa chấn – Tám hội chúng – Tám thắng xứ - Tám giải thoát - lời thỉnh cầu của Ma vương ngày trước - Lời thỉnh cầu của Tôn giả Ananda – di ngôn

Phần IV: Những ngày sau cùng: Cái nhìn của con voi chúa - bốn pháp tham chiếu - bữa cơm cuối cùng – Pukkusa - tại bờ sông Kakutta

Phần V. Tại Kusinara (Câu Thi Na): Nơi Thế Tôn an ngoạ sau cùng - sự thương tiếc của thiên chúng – Quan tâm của tôn giả Ananda - bốn thánh tích chiêm bái – Nên làm gì với di thể của Phật - Bốn hạng người nên tạo tháp thờ - Sự sầu bi của tôn giả Ananda - Lời tán thán công hạnh tôn giả Ananda của Đức Phật – Quá khứ vàng son của Kusinara -Sự sầu thảm của người Malla - Người đệ tử cuối cùng – Sư tử hống .

Phần VI. Viên tịch: Di giáo - Lời cuối – Liên thiền thị tịch - cảm thán của chư thiên – lễ bái di thể - trà tỳ - phân chia xá lợi.

Phật giáo Đại Thừa cũng có Kinh Đại Bát Niết Bàn nhưng nội dung hoàn toàn khác với sự trình bày rộng rãi về Phật tánh (buddhadhātu) và Như Lai tạng  (tathagatagarbha) nói về sự tồn tại vĩnh hằng của các Đấng Như Lai trong lúc Kinh Đại Bát Niết Bàn của Tam tạng Pàlì thì nói về sự viên tịch của Đức Từ Phụ.

-- -------------------

20/09/18

2.1 Trầm luân từ bao kiếp

 

Đại ý

Bước vào ranh phận xứ Vajji Đức Thế Tôn và chư tăng tới Kotigàma. Pháp thoại đầu tiên của Đức Phật thoạt nghe như một lời tâm sự: “Hỡi chư Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà Như Lai và các con đã phải lưu chuyển luân hồi từ bao kiếp”. Ở đây Đức Phật không dạy về sự tương phản giữa bờ mê và bến giác. Mà thay vào đó là luân hồi và nguyên nhân của sanh tử.

Luân hồi là sự lập đi lập lại bao lần sanh rồi tử, tử rồi sanh. Vô định. Vui ít khổ nhiều. Đầy dẫy hiểm hoạ khôn lường. Nguyên nhân của trầm luân  là vô minh hay sự thiếu hiểu biết về thực trạng khổ đau, nguyên nhân của đau khổ, sự diệt khổ, con đường dẫn đến diệt khổ.

Tứ diệu đế không đơn giản là một giáo thuyết mà là nền tảng của tuệ giác. Hiểu biết tứ đế là chánh kiến. Quán chiếu tứ đế trên thân tâm thuộc pháp quán niệm xứ. Sự liễu ngộ tứ đế xoá tan vô minh, chấm dứt sanh tử. Đó là nội dung của bài pháp đầu tiên hay kinh Chuyển Pháp Luân và cũng là tổng quan giáo lý Phật Đà như lời dạy của tôn giả Sàriputta: giáo lý tứ đế như dấu chân voi: đủ lớn dung chứa tất cả dấu chân loài thú khác.

 

Chánh kinh

 

Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ananda: "Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Kotigàma"

 

- "Xin vâng, bạch Thế Tôn". Tôn giả Ananda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigàma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigàma.

2. Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà Như Lai và các con đã phải lưu chuyển luân hồi từ bao kiếp”. Bốn Thánh đế ấy là gì?

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh mà Như Lai và các con đã phải lưu chuyển luân hồi từ bao kiếp”.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà Như Lai và các con đã phải lưu chuyển luân hồi từ bao kiếp”.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà Như Lai và các con đã phải lưu chuyển luân hồi từ bao kiếp.

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà Như Lai và các con đã phải lưu chuyển luân hồi từ bao kiếp

Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.

3. Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm:

Chính do không liễu ngộ
Bốn sự thật nhiệm mầu
Nên sanh tử đã lâu
Xuyên qua bao kiếp sống.
Khi sự thật sáng tỏ
Căn nguyên được đoạn trừ
Đau khổ được chấm dứt
Không ra vào sanh tử

4. Trong thời gian Thế Tôn ở Kotigama, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

 

5. Thế Tôn, sau khi ở Kotigama cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nadika.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến. Nadika, tại ngôi nhà gạch (Ginjakàvasatha).

 

Thảo luận

--------

19/09/2018

1.10 Băng ngang sông Hằng hay Vượt dòng mê tới giác ngạn?

 

Đại ý

Magadha (Ma Kiệt Đà) là một trong hai vương quốc lớn nhất thời Đức Phật với kinh đô là Rajagaha (Vương Xá). Trong những tháng ngày cuối cùng của Đức Từ Phụ có nhiều diễn biến quan trọng liên quan tới vương quốc nầy. Với ý định xâm lăng xứ Vajji phương bắc, Vua Ajatasattu (A Xà Thế ) cho xây dựng thành trì bên nam ngạn sông Hằng tại Pàtaligàma để làm bàn đạp viễn chinh. Tuy nhiên với sự ảnh hưởngcảm ứng của chư thiên cá vị đại thần đã cho tạo nên một khu thị tứ vĩ đại nguy nga. Đức Phật, trong trường hợp rất hiếm hoi, đã có lời tiên tri Pàtaligàma sẽ trở thành kinh đô Pàtaliputta (Hoa Thị Thành). Kinh đô này sẽ vô cùng phồn thịnh nhưng rồi sẽ bị ba ách nạn là là hoả hoạn, lũ lụt  và nội chiến. Tất cả đều trở thành sự thật trong lịch sử ba trăm năm sau đó.(Pàtaliputta trở thành đại đô của đế quốc dưới thời vua Asoka), sau nầy bị tàn phá lớn khi triều đại Mauriyan cáo chung. Hiện được gọi là Patna, thủ phủ của tỉnh bang Bihar)

Đức Phật nhân đó cũng nói lên quan hệ giữa chư thiên và nhân loại “được thương tưởng, chư thiên sẽ thương tưởng lại. Ai được chư thiên thương tưởng sẽ có nhiều may mắn”.

Từ Pàtaligama Đức Thế Tôn và Tăng đoàn tiếp tục hành trình về hướng bắc. Băng qua sông Hằng, là biên giới thiên nhiên của Vajji và Magadha. Hai vị đại thần Sunidha và Vassakara đã vinh danh Đức Phật bằng cách dùng họ của Ngài đặt cho những công trình xây cất lớn như con đường, hội trường, bến cảng.. Đức Thế Tôn băng ngang qua sông Hằng (Ganga) lần cuốn cùng với đại chúng tỳ kheo bằng thần thông. Nhìn lại cảnh tượng nhiều người tất bật lo thuyền bè vượt sông mùa nước nổi, Đức Thế Tôn nói lên lời cảm thán về dòng mê và bờ giác:

Có người vượt trùng khơi
Đã cạn dòng sinh tử
Thế nhân lo thuyền bè
Bậc trí rời cuộc lữ.

Đó là lần sau cùng bậc Đại Giác băng ngang sông Hằng để đến nên nơi viên tịch, đoạn tận tử sinh.

 

Chánh kinh

[Từ làng mạc trở thành kinh đô]

26. Lúc bấy giờ Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đang dựng thành trì để ngăn chặn dân Vajjì. Một số rất lớn các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các trú địa ở Pàtaligàma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá.

27. Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân thấy hàng ngàn các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pàtaligàma, Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả Ananda:

- Này Ananda, ai đang xây dựng thành trì ở Pataligama?

- Sunidha và Vassakara, bạch Thế Tôn, hai vị đại thần xứ Magadha, đang xây dựng thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân Vajjì.

28. Này Ananda, thật giống như đã hỏi ý kiến các vị thiên thần ở cõi trời Ba mươi ba, các đại thần ở Magadha, Sunidha và Vassakara đang xây thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân Vajjì. Này Ananda ở đây với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân Ta thấy hàng ngàn thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pataligama. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá. Này Ananda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương mãi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc nhất tên gọi là Pàtaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng này Ananda, Pàtaliputta sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất hòa.

[Chư thiên và nhân loại]

29. Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần nước Magadha, đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara bạch Thế Tôn: "Mong Thế Tôn nhận lời mời dùng cơm tại nhà chúng con hôm nay cùng với đại chúng Tỷ-kheo". Thế Tôn im lặng nhận lời.

30. Hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời liền đi về nhà ở, cho soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cử người đến tin Thế Tôn: "Tôn giả Gotama, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng".

Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến trú sở của hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara, sau khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi hai vị thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara tự tay mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là thượng thủ, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Sau khi Thế Tôn dùng cơm xong và cất tay khỏi bình bát, Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha liền lấy chiếc ghế thấp khác và ngồi xuống một bên.

31. Sau khi Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần thứ Magadha đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đọc bài kệ cảm tạ:

Tại chỗ nào người sáng suốt lấy làm chỗ trú xứ.

Hãy nuôi dưỡng người giữ giới và người phạm hạnh.

Và san sẽ công đức với Chư Thiên trú tại chỗ ấy.

Ðược tôn kính, chúng sẽ tôn kính lại.

Ðược trọng vọng, chúng sẽ trọng vọng lại.

Chúng sẽ mến thương người ấy như người mẹ thương mến con.

Và những ai được thiên thần thân mến luôn luôn được thấy may mắn.

Sau khi Thế Tôn tán thán Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha với bài kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.

[Vinh danh một bậc Đại Sỹ]

32. Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đi sau lưng Thế Tôn và nói:

- "Hôm nay Sa-môn Gotama đi ra cửa nào cửa ấy sẽ được đặt tên là Gotama; Sa-môn Gotama lội qua sông từ bến nào, bến ấy sẽ được đặt tên là Gotama. Và cửa Sa-môn Gotama đi ra được đặt tên là cửa Gotama".

[Băng ngang sông Hằng lần sau cùng]

33. Rồi Thế Tôn đi đến sông Gangà (sông Hằng). Lúc bây giờ, sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ có thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang đi tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ bờ bên này và hiện ra trên bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo.

34. Thế Tôn thấy những người kia, người đang đi tìm thuyền, người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc ấy bèn ứng khẩu lời cảm khái:

Có người vượt trùng khơi
Đã cạn dòng sinh tử
Thế nhân lo thuyền bè
Bậc trí rời cuộc lữ.

Thảo luận

1.    Phải chăng qua bài kinh nầy cho thấy có những công trình kiến tạo của con người ảnh hưởng bởi chư thiên mà chúng ta không biết?

2.    Nên thương tưởng thiên chúng bằng cách nào đúng theo Phật Pháp

3.    Vinh danh Đức Phật giữa các nền văn hoá khác nhau có gì được gọi là thích hợp và không thích hợp?

4.    Tại sao “bờ kia” thường được dùng để chỉ cho cứu cánh giải thoát (như giác ngạn, đáo bỉ ngạn)

5.    Biển cả thường được thí dụ cho kiếp trầm luân. Cái nhìn đó có lợi gì cho người tu tập?

 

--------------

18 tháng 09, 2018

1.9 Quả của đời sống giới hạnh và quả đời sống không giới hạnh của hàng cư sĩ.

 

Đại ý

Những lời dạy của Đức Phật không phải chỉ dành riêng cho hàng xuất gia mà có rất nhiều giáo huấn cho hàng cư sĩ. Thường những Phật ngôn nầy mang tính thực dụng thích hợp với đời sống gia đình thế tục. Đức Phật thường khuyến khích người cư sĩ thọ trì ngũ giới hay bát quan trai giới. Những pháp nầy rõ ràng, cụ thể không phải là một hệ thống luân lý đạo đức cồng kềnh mang nặng tính phong tục hay văn hoá.

Trên đường đến Pataliputta, Đức Thế Tôn và đại chúng tỳ kheo ghé ngang Pàtaligàma. Tại đó có nhiều cư sĩ thuần thành đến diện kiến và cúng dường. Đức Thế Tôn ân cần nhắc về lợi ích của đời sống giới hạnh:

Người có giới hạnh sung túc tài sản (vì không tiêu hao do phóng túng)

Người có giới hạnh được tiếng lành đồn xa (sự quý trọng trong xã hội)

Người có giới hạnh có thần thái an nhiên khi đi vào đám đông (Không lo lắng)

Người có giới hạnh tâm được thanh thản khi mệnh chung (không mê loạn)

Người có giới hạnh sau khi chết sanh vào cõi an lạc (Do quả của đời sống hiền thiện)

Hình ảnh và lời dạy trực tiếp của Đức Phật là khích lệ lớn cho những người cư sĩ. Mãi đến hôm nay những Phật ngôn giản dị, dễ hiểu nầy vẫn có ản hướng lớn đến những xã hội Phật giáo trong nhiều quốc độ.

 

Chánh kinh

19. Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi gọi tôn giả Ananda:

- Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pàtaligàma.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàtaligàma.

20. Lúc bấy giờ, các cư sĩ ở Pàtaligàma được nghe Thế Tôn đã đến làng Pàtaligàma. Các cư sĩ ở Pàtaligàma đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đến ở tại nhà nghỉ mát của chúng con". Thế Tôn im lặng nhận lời.

21. Các cư sĩ ở Pàtaligàma được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt. Các cư sĩ này đi đến nghỉ mát, rải cát khắp tất cả sàn nhà, sắp đặt chỗ ngồi, đặt ghè nước, chuẩn bị dầu đèn rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, tất cả nhà nghỉ mát đã được rải cát, các chỗ ngồi đã được sắp đặt, ghè nước đã đặt sẵn, dầu đèn đã được chuẩn bị. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là phải thời.

22. Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến nhà nghỉ mát, sau khi đến liền rửa chân bước vào nhà, ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, bước vào nhà ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt phía Tây, đối diện Thế Tôn.

23. Thế Tôn nói với các cư sĩ ở Pataligama:

- Này các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai sống không giới hạnh, sống trái giới hạnh. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người sống không giới hạnh, sống trái giới hạnh sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất .

Lại nữa, này các Gia chủ, người sống không giới hạnh, sống trái giới hạnh bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai.

Lại nữa, này các Gia chủ, người sống không giới hạnh, sống trái giới hạnh khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba.

Lại nữa, này các Gia chủ, người sống không giới hạnh, sống trái giới hạnh chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư.

Lại nữa, này các Gia chủ, người sống không giới hạnh, sống trái giới hạnh luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm.

Này các gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho những ai sống không giới hạnh, sống trái giới hạnh.

24. Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai  sống có giới hạnh, sống theo giới hạnh. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Gia chủ, người ai  sống có giới hạnh, sống theo giới hạnh sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng dật. Ðó là sự lợi ích thứ nhất.

Lại nữa, này các Gia chủ, ai  sống có giới hạnh, sống theo giới hạnh được tiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai.

Lại nữa, này các Gia chủ, ai  sống có giới hạnh, sống theo giới hạnh luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba.

Lại nữa, này các Gia chủ, ai  sống có giới hạnh, sống theo giới hạnh sẽ chết với tâm không rối loạn. Ðó là sự lợi ích thứ tư.

Lại nữa, này các Gia chủ, ai  sống có giới hạnh, sống theo giới hạnh khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm.

25. Thế Tôn giảng pháp cho những cư sĩ ở Pàtaligàma cho đến khuya, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi bảo các cư sĩ ấy:

- Này các Gia chủ, đêm đã khuya, nay các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi nghĩ là phải thời.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Các người cư sĩ của Pàtaligàma vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài từ tạ ra về. Thế Tôn, sau khi các cư sĩ ở Pàtaligàma đi không bao lâu, liền trở vào phòng riêng.

Thảo luận

1.    Cờ bạc có được tính là đi ngược lại với giới hạnh?

2.    Sự an nhiên của một người có giới hạnh có gì khác biệt với sự dạn dĩ của người không giới hạnh?

3.    Người giữ giới để mong “tiếng lành đồn xa” có phải là cầu danh?

4.    Đời sống hằng ngày có ảnh hưởng thế nào đối với giờ phút lâm chung?

5.    Một người thường bố thí mà không có giới hạnh thì quả báo đời sau thế nào?

-----------------

Ngày 17 tháng 9, 2018

1.8 Sư Tử Hống Của Tôn Giả Sàriputta

Đại ý

Pháp thoại về những yếu tố khiến Tăng già hưng thịnh là những lời dạy sau cùng của Đức Thế Tôn tại Vương Xá thành nên có ngôi chùa Phật giáo đầu tiên là Trúc Lâm Tịnh Xá và đỉnh Linh Thứu thiêng liêng. Tôn giả Ananda khi kết tập đã cố tình ghi lại từng địa danh Đức Từ Phụ đi qua trong những năm tháng cuối đời. Có những pháp thoại cùng đề tài nhưng lập lại nhiều lần như được ghi trong đoạn kinh hôm nay. Điều đó những nhắc nhở người con Phật ngày nay về giá trị không thể phủ nhận của con đường giới, định tuệ.

Trong đoạn kinh nầy cũng thuật lại một giai thoại đặc biệt khi Tôn giả Sàriputta bạch với Đức Thế Tôn bằng lời chí thiết: Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.

Đó lời bộc bạch với niềm kính tin tuyệt đối của bậc thánh đệ tử đệ nhất trí tuệ. Tôn giả Sàriputta nói không sai: Không có một vị Phật nào trong quá khứ và tương lai hơn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni về phương diện tuệ giác nhưng không có nghĩa là không có vị nào bằng. (Về phương diện nầy chư Phật toàn giác đồng đẳng).

Câu trả lời của Đức Phật không phải nói tôn giả Sàriputta nói sai mà sự luận nghị về chư vị Chánh Đẳng Chánh Giác không nằm trong tầm mức của bất cứ ai ngoài chư Phật toàn giác: “lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử”

Dù vậy khi Đức Phật hỏi: “có phải ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, A La Hán Chánh Đẳng Giác ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những Vị này nói với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở quá khứ có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy?” Tôn giả đã trả lời: con không có tha tâm thông đối với các vị A La Hán Chánh Đẳng Giác ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp.” Lời trình bày của Tôn giả được Đức Thế Tôn chấp nhận.

Ba điểm cần lưu ý trong bài kinh nầy:

Một là sự xác nhận của Đức Phật trong sự đồng đẳng trên phương diện tuệ giác của chư Phật, nói cách khác, không có quả vị độc tôn trong hành trình giác ngộ giải thoát.

Hai là một đệ tử Phật có thể không đủ khả năng am hiểu cảnh giới của các đấng Thế Tôn nhưng có thể cảm nhận sự vĩ đại của chư Phật qua truyền thống của chánh pháp.

Sau cùng, Tôn giả Sàriputta không phải là vị giác ngộ bằng niềm tin và Ngài là bậc đã không còn cảm xúc phàm tâm nhưng cuộc đối thoại của Đấng Đạo Sự và bậc thánh đệ tử đệ nhất trí tuệ không nằm trong sự nghĩ bàn thường thức.

 

Chánh kinh

Trong thời gian Thế Tôn ở Vương Xá tại núi Linh Thứu, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu”.

Thế Tôn ở Vương Xá cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài gọi tôn giả Ānanda

—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Ambalatthikà.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ānanda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Ambalatthikà.

Tại Ambalatthikà, Thế Tôn thân trú tại nhà nghỉ mát của vua. Trong thời gian Thế Tôn ở Ambalatthikà, tại nhà nghỉ mát của vua, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài bảo tôn giả Ānanda

—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nalandà.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nalandà. Tại đây, Thế Tôn ở Pavārikambavana (Ba-ba-lợi Âm-bà-lâm).

Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và xuống một bên. Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn

Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.

- Này Sāriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử: “Con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”. Này Sāriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những Vị này nói với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở quá khứ có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?

- Bạch Thế Tôn, không!

- Này Sāriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở tương lai, Ngươi đã biết tâm những vị này với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở tương lai có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?

- Bạch Thế Tôn, không!

- Này Sāriputta, có phải Ngươi biết Ta là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở hiện tại, Ngươi đã biết tâm Ta với tâm của Ngươi. “Thế Tôn có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?

- Bạch Thế Tôn, không!

- Này Sāriputta, như vậy Ngươi không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Như vậy, này Sāriputta, vì sao Ngươi lại thốt ra những lời đại ngôn, lời nói gan dạ, rống lên tiếng rống con sư tử: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”?

- Bạch Thế Tôn, con không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì tại Biên cảnh, thành này có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đây có một người gác cửa thông minh, biệt tài và nhiều kinh nghiệm, không cho vào các người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Người này trong khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy có thể không thấy các chỗ nối hay khe hở của tường, cho đến chỗ một con mèo có thể lọt ra được, nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn vào hay ra thành trì này tất cả đều đi vào hay đi ra bởi cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yết ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác.

Trong thời gian Thế Tôn ở tại Nalandà, rừng Pavārikamba, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.

- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.

 

Thảo luận

1.    Phải chăng mặc dù tam học (giới, định, huệ) và bát chánh đạo là một nhưng sự trình bày giới định tuệ chúng trọng về pháp hành?

2.    Nếu chư Phật toàn giác đồng đẳng về nhất thiết chủng trí thì sự việc “vị Phật nầy giới thiệu chúng sanh tu theo vị Phật? kia có phù hợp với Tam tạng Pàli?

3.    Thất giác chi và tứ niệm xứ được tôn giả Xá Lợi Phất gọi là “truyền thống chánh pháp” phải chăng đó là những pháp chỉ có thể tìm trong Phật giáo?

4.    Tại sao trong ba mươi bảy pháp bồ đề phần tôn giả Xá Lợi Phất chỉ nêu tứ niệm xứ và thất giác chi ở đây?

5.    Nếu sự luận bàn về chư vị Chánh Biến Tri đều không thật sự nằm trong sự hiểu biết của bất cứ ai ngoài chư Phật toàn giác thì chúng ta có nên “khiêm tốn hơn” khi trình bày về hành trạng của Đức Phật? Đặc biệt là những gì được đề cập trong bài kinh Đại Bát Niết Bàn?

---------------------

1.7 Yếu Tố Hoà Hợp Để Tăng Đoàn Hưng Thịnh

 

Đại ý

Phần sau cùng của những pháp khiến Tăng chúng vững mạnh, Đức Phật dạy về sáu pháp hoà hợp. Có hoà hợp thì mới phát triển lớn mạnh. Để được như vậy những điều sau đây cần được thực hành bời tất cả thành viên của Tăng chúng:

1.    Cư xử với nhau bằng lời nói, hành động, ý nghĩ hiền thiện dù trước đám đông hay chỗ ít người. (thân nghiệp từ hoà, khẩu nghiệp từ hoà, ý nghiệp từ hoà)

2.    Phân chia đồng đều hợp lý, hợp cách những vật cúng dường của đàn tín (Lợi hoà đồng quân)

3.    Cùng tuân thủ giới bổn mà Đức Phật đã ban hành. Xem đó là chuẩn mực chung cho đời sống cá nhân cũng như đoàn thể (Giới hoà đồng tu)

4.    Cùng hướng về cứu cánh giác ngộ giải thoát như cái nhìn đồng nhất trong đời sống tu tập (Kiến hoà đồng giải)

Những pháp hoà hợp nầy đòi hỏi mỗi cá nhân phải tích cực thay đổi bản thân để hoà nhập vào Tăng chúng và chỉ có Tăng chúng mới là môi trường để thực hiện sáu pháp nầy chính vì vậy trong nhiều trường hợp khi nói về Tăng thể thì một từ vựng thường được dùng là “Hoà Hợp Tăng”

 

Chánh kinh

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sáu pháp bất thối, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói

—Này các, Tỷ-kheo khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ thân nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người gìn giữ khẩu nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ ý nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo phân phối không thiên vị, chung thọ hưởng với các bạn giới đức đồng tu, mọi lợi dưỡng chơn chánh, hợp pháp, cho đến những vật thọ lãnh trong bình bát khất thực, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những giới luật đúng với Sa-môn hạnh, những giới luật không bị gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát, được người có trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến định tâm, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau cho những ai thực hành theo, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy sáu pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Thảo luận

1.    Thế nào là ý  nghĩa của cụm từ “tại chỗ đông người và vắng người”?

2.    Thân nghiệp và khẩu nghiệp từ hoà thì dễ nhận ra. Xin cho một thí dụ cụ thể về ý nghiệp từ hoà

3.    Thế nào để phân biệt là vật cúng dường cá nhân và vật cúng dường chung Tăng chúng?

4.    Sự đồng bộ trong cách ăn, mặc, sinh hoạt thế nào gọi là giới hoà đồng tu? Xin đơn cử vài thí dụ.

5.    Kiến văn đa thiểu, rộng hẹp là điều tất nhiên trong một cộng đồng nhưng ở đây Đức Phật dạy “những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau cho những ai thực hành theo” nên được hiểu thế nào?

6.    Ngày nay pháp lục hoà đôi khi được nói là áp dụng trong nhiều bối cảnh khác nhau, thí dụ sinh hoạt trẻ Gia Đình Phật Tử, nhưng với những pháp lợi hoà, giới hoà, kiến hoà thì phải chăng chỉ có thể khả thi trong nếp sống Tăng chúng?

 ------------------

1.4, 1.5, 1.6 Những Yếu Tố Khác Để Tăng Đoàn Hưng Thịnh

Đại ý

Dạy về sự hưng thịnh của Tăng chúng, Đức Phật đặc biệt chú trọng về phẩm hạnh và trí tuệ của chư tỳ kheo. Chính nội hàm của mỗi cá nhân đóng góp vào sự lớn mạnh chung của Tăng đoàn. Bài học hôm nay, cũng tiếp tục chủ đề pháp làm hưng thạnh Tăng chúng, gồm ba phần:

A.    Phẩm hạnh cá nhân: có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ

B.    Thành tố của tuệ giác: tu tập niệm giác chi, tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi

C.   Những điều tâm niệm: tu tập vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập diệt tưởng

Có tu tập thì có thành tựu. Những hoa trái của nỗ lực tu tập không phải chỉ lợi lạc cho cá nhân mà còn đóng góp thiết thực lâu dài cho sự tồn tại của giáo pháp và hưng thạnh của đoàn thể Tăng già. Lịch sử Đạo Phật suốt 25 thế kỷ qua đã chứng minh điều đó và tương lai cũng không khác.

 

Chánh kinh

 

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói

—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Chư Tỷ-kheo đáp ứng. Thế Tôn nói

—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói

—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập diệt tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sáu pháp bất thối, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

Thảo Luận

...

--------------------

1.3. Bảy Yếu Tố Khác Để Tăng Đoàn Hưng Thịnh

Đại ý

Phần đầu về những yếu tố khiến Tăng chúng hưng thịnh, Đức Phật nhấn mạnh đến các điểm chung. Những phần tiếp theo, cũng với những pháp bất thối, Bậc Đạo Sư dạy về điều liên quan tới sự tu tập bản thân điều nầy có nghĩa là với sự hành trì cá nhân. Thiện pháp là chất liệu của thịnh vượng cả từ hai góc nhìn cá thể và đoàn thể. Bảy pháp trong bài kinh hôm nay được nhiều chùa chiền nhất là thiền viện xem là thanh quy cho căn bản sinh hoạt.

Bảy pháp đó gồm có

1.    Lấy sự tu tập làm trọng  (không ưa thích làm công việc, không hoan hỷ làm công việc, không đam mê làm công việc).

2.    Không hoang phí thì giờ cho nhàn đàm (không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận)

3.    Nếp sống phù hợp với chánh niệm tỉnh thức (không ưa thích ngủ nghỉ)

4.    Không nặng lòng với quan hệ xã hội (không ưa thích tụ tập, không hoan hỷ tụ tập, không đam mê tụ tập)

5.    Không để thị dục dẫn đi quá xa (không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng).

6.    Tránh xa tổn hữu ác đảng (Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không giao du  bạn  ác, không thân cận bạn ác, không đồng hành với bạn ác)

7.    Tránh thói quen “bán đồ nhi phế” trong những nỗ lực tu tập ( không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng).

 

Nếp sống của Tăng chúng qua bảy điểm trên nêu rõ tinh thần tích cực của con đường trung đạo ch́ẳng nḥ̣ững lợi lạc cho mỗi thành viên mà còn khiến tăng chúng hưng thịnh.

Chánh kinh

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn bè ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Thảo luận

Thảo luận 1.  Tại sao Đức Phật không tán thán chư tỳ kheo đam mê v̉ới công việc?

Thảo luận 2.  Thích tranh luận về Phật Pháp có thể rơi vào phiếm luận chăng?

Thảo luận 3. Nếu một người bị bệnh mất ngủ thì có thể tận dụng tình trạng đó để cho sự tu tập chăng?

Thảo luận 4. “Sợ đám đông” so với “sợ một mình” điều nào bất lợi hơn đối với một tu sĩ?

Thảo luận 5. Một người tốt năm phần, xấu năm phần thì có nên xem là bạn xấu?

 

-------

1.2 Bảy Yếu Tố Để Tăng Đoàn Hưng Thịnh

Đại ý

Sau khi dạy về bảy yếu tố khiến một đất nước phồn thịnh, Đức Phật cho gọi chư tỳ kheo đến rồi dạy về những yếu tố khiến Tăng chúng được hưng vượng. Một điểm rất thú vị là mặc dù một bên là đời, một bên là đạo nhưng có sự tương đồng. Bài học nầy chỉ trích một đoạn. Những bài học kế tiếp đề cập đến nhiều sự hành trì là điều kiện tạo nên sự tốt đẹp của giáo đoàn tăng lữ.

Bảy điểm khiến Tăng chúng hưng thịnh trong đoạn nầy gồm có: :

1.    Không sống rời rạc, cục bộ (thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo)

2.    Đồng thuận trong việc chung (tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết)

3.    Biết gìn giữ truyền thống đã được bậc Đạo sư truyền dạy (không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành).  

 

4.    Biết tôn kính các bậc tôn túc (tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những vị này).

5.    Sống giản dị thiểu dục ( không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác)

 

6.    Chuộng nếp sống độc cư an tịnh (thích sống những chỗ nhàn tịnh).

 

7.    Hành xử thân thiện với những bạn đồng tu (tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống an lạc).

 

Chánh kinh

Khi Bà-la-môn Vassakāra đi chưa bao lâu, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda

—Này Ānanda, hãy đi và tập họp tại giảng đường tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Rājagaha (Vương Xá).

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Tôn giả Ānanda vâng theo lời dạy Thế Tôn, đi tập họp tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Vương Xá rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, đứng một bên và bạch Thế Tô 

—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Tăng đã tu họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.

Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói với các vị Tỷ-kheo

—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy trả lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau

—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn bè ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói

—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Thảo luận

 

--------------------

1.1 Bảy Yếu Tố Để Một Đất Nước Hưng Thịnh

 

Đại ý

Những tháng ngày cuối cùng trong quảng đời hoá đạo của Đức Thế Tôn có nhiều chuyển biến quan trọng trong đạo và ngoài đời. Nhị vị thượng thủ thánh đệ tử viên tịch trước Đức Thế Tôn sáu tháng. Vua A Xà Thế dời kinh đô xứ Magadha từ Rajagaha (Vương Xá) về Pataliputta (Hoa Thị Thành), dòng Thích Ca dời kinh đô về Hậu Kapilavatthu.. Tôn giả Ananda khi kết tập Tam Tạng đã chọn những lời dạy của Đức Phật về yếu tố thịnh suy của một quốc độ, của Tăng chúng như dự kiến về tương lai để mở đầu cho Kinh Đại Bát Niết Bàn. Pháp thoại nầy được giảng tại thành Vương Xá khởi đầu cho hành trình dài băng qua Nalanda, Pataliputta, Vesàli, Pava, và điểm cuối, Kusinara.

Trong đọan kinh mở đầu nầy đề cập đến sự kiện Vua Ajātasattu muốn xâm lăng xứ Vajji. Nhà vua cử đại thần Vassakāra đến trình với Đức Phật với ý muốn biết Đức Phật dạy thế nào. Đức Thế Tôn không trực tiếp trả lời mà quay sang hỏi tôn giả Ananda về những đặc điểm của dân Vajji.

Bảy điểm mà Đức Phật nêu lên là:

1.    Không sống rời rạc, cục bộ (thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo)

2.    Đồng tâm (tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết)

 

3.    Biết gìn giữ truyền thống (không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống đã ban hành thời xưa)

4.    Biết trân trọng những bậc lão thành (tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão và nghe theo lời dạy của những vị này)

5.    Tôn trọng phụ nữ (không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ  phải sống với mình)

6.    Bảo lưu di sản văn hoá (tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp)

7.    Biết giá trị và ủng hộ của đời sống tâm linh (bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc)

Khi nghe Đức Phật hỏi về bảy đặc điểm nầy có tồn tại giữa dân chúng Vajji hay không thì tôn giả Ananda bạch rằng “được nghe là có như vậy”. Rồi Đức Phật dạy: “khi nào dân Vajjì còn được như vậy thời sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”. Và Ngài cũng nói thêm rằng đây là những pháp chính Ngài đã dạy cho dân xứ Vajji trước kia.

Cuộc đàm thoại giữa Đức Phật và thị giả đã ngăn chân được ý đồ xâm lăng của vua Ajatasattu (Vài năm sau khi Đức Phật viên tịch, xứ Vajji bị chia rẽ và bị xâm lăng. Bản đồ của miền Trung Ấn có những thay đổi lớn)

 

Chánh kinh

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajātasattu Vedehiputta (A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà), muốn chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”.

Rồi Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha, nói với Bà-la-môn Vassakāra (Vũ-xá), đại thần nước Magadha

—Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: “Bạch Thế Tôn, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú”. Và khanh bạch tiếp: “Bạch Thế Tôn, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân Vajjì, vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”. Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng.

- Ðại vương, xin vâng!

Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Rājagaha (Vương Xá), đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, bạch Thế Tôn

—Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú. Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân xứ Vajjì. Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vọng”.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đứng quạt sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda

—Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.

- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết.

- Này Ānanda, khi nào nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ānanda dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?

- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa.

- Này Ānanda khi nào dân Vajjì, không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa thời, này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này.

- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.

- Này Ānanda, khi nào Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình thời, này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.

- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc không?

- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc.

- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha

—Này Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Vesālī tại tự miếu Sārandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp bất thối này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân Vajjì, khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp bất thối này, thời Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn

—Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối. Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.

- Này Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ là hợp thời.

Thảo luận

Thảo luận 1. Thái độ của Đức Phật với thế sự được hiểu thế nào qua bài kinh nầy?

Thảo luận 2. Phải chăng lòng dân và vận nước có sự tương quan mật thiết qua ý nghĩa của bài kinh nầy?

Thảo luận 3. Cải cách xã hội có đi ngược lại với sự bảo lưu truyền thống?

Thảo luận 4. Tôn trọng phụ nữ trong bài kinh nầy có giống với tinh thần nam nữ bình quyền ngày nay?

Thảo luận 5. Điều 6: “tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp” phải chăng là chủ trương nên duy trì tất cả tín ngưỡng dân gian?

Thảo luận 6. Tại sao bảy pháp hưng thịnh nầy nhấn mạnh về văn hoá và tâm linh mà không nói tới kinh tế, một yếu tố được xem là quan trọng bậc nhất trong chủ trương phát triển đất nước ngày nay?

Thảo luận 7. Với những lời dạy của Đức Phật cho dân Vajji phải chăng đối với người Phật tử ngoài sự tu tập bản thân còn có những việc cần đóng góp cho quê hương xứ sở?

 

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

 

------------------

 

https://www.budsas.org/uni/u-kinh-truongbo/truong01.htm

TIN TỨC PHẬT GIÁO

-----------------

Phần III:
 
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau / Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)

 
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
 
Con .......... thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy Phật pháp hữu ích cho chúng con, đã hướng dẫn, dìu dắt chúng con tiến bước trên hành trình tu tập hầu mong đem lại an lạc trong đời sống và hướng đến đạo quả giải thoát luân hồi.  Kính cám ơn đại chúng đã lắng tâm thanh tịnh thính pháp. Kính cám ơn quý chủ nhiệm, Ops, xướng ngôn viên đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn.  Chúng con kính chúc chư Tôn Đức thân tâm thường lạc, Phật sự viên thành, kính chúc quý đạo hữu luôn an lạc cát tường trong chánh pháp nhiệm màu của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.
 
Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.
 
Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhāya
mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Phật Pháp - BUDDHADHAMMA xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại quý vị ngày mai trong giờ thường lệ. Namo Buddhāya.