|
NHẬT HÀNH
Thứ Ba, ngày 05 tháng 05, năm 2026 Namo Buddhaya. Đây là chương trình Phật Pháp Buddhadhamma trên mạng internet qua Paltalk, Facebook. Mỗi ngày hai giờ, GIỜ MÙA HÈ, Việt Nam từ 8:00 đến 10:00 tối, Houston 8:00 đến 10:00 sáng, NY 9:00 đến 11:00 sáng, Cali 6:00 đến 8:00 sáng, Paris 3:00 đến 5:00 chiều, Sydney 11:00 tối đến 1:00 sáng.. Con...... thành kính đảnh lễ chư tôn đức và thân chào tất cả đạo hữu.
Hôm nay Thứ Ba, ngày 05, tháng 05, năm 2026, Phật lịch 2569.
Bài học hôm nay Môn Học
KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA -
Tập V-Chương 54. Tương Ưng Nhập Tức Xuất Tức Niệm- -
SN 54.7
.
Bài 658. THÂN AN TỊNH, TÂM AN TỊNH
-
Kinh Mahākappina (Mahākappinasuttaṃ)
.
Tỳ Khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn.
TT Tuệ Quyền giảng giải.
Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh
lễ Tam Bảo. Chúng con xin kính thỉnh TT Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam
Bảo. Namo Buddhaya. Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.
Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế
Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi
tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô
thượng trong đời. *****************
Kính cung thỉnh (HT Tuệ Siêu) dẫn nhập
pháp thoại
hôm nay.
Bài 658. THÂN AN TỊNH, TÂM AN TỊNH - Kinh Mahākappina (Mahākappinasuttaṃ) .
Đoạn kinh này trình bày một hình ảnh lý tưởng của hành giả tu thiền:
thân không rung động, tâm không dao động. Tuy nhiên, sự “bất động” này
không phải là sự ép buộc thân thể hay ức chế tâm lý, mà là kết quả tự
nhiên của một tiến trình định tâm được phát triển đúng đắn qua niệm hơi
thở. Khi thân hành được an tịnh, hơi thở trở nên vi tế; khi tâm hành
được an tịnh, các dao động vi tế của tham, sân, si cũng lắng xuống. Điểm
đặc biệt của đoạn kinh là Đức Phật không ca ngợi tôn giả Mahākappina vì
tư thế ngồi, mà vì chất sự an tịnh nội tâm biểu hiện qua sự bất động ấy.
Sự vững chãi bên ngoài chỉ là biểu hiện của một sự vững chãi bên trong.
Và sự vững chãi ấy không đến từ ý chí, mà từ sự buông bỏ dần dần các cấu
uế của tâm qua niệm hơi thở. Đồng thời, bài kinh cũng xác định rõ rằng
định chân chính không phải là trạng thái cứng nhắc, mà là một sự ổn định
linh hoạt, có thể đạt được “theo ý muốn” khi tâm đã được huấn luyện
thuần thục. Điều này cho thấy thiền không phải là một kinh nghiệm ngẫu
nhiên, mà là một kỹ năng có thể phát triển đến mức tự tại. Cuối cùng,
bằng việc nhấn mạnh bước “quán từ bỏ”, Đức Phật cho thấy rằng mục tiêu
tối hậu không phải là bất động, mà là giải thoát. Bất động chỉ là dấu
hiệu; buông bỏ mới là bản chất. Do đó, niệm hơi thở không chỉ dẫn đến sự
tĩnh lặng, mà còn mở ra con đường đi đến sự chấm dứt hoàn toàn mọi dao
động của khổ đau.
Kinh Văn
983. sāvatthinidānaṃ. tena kho pana samayena āyasmā mahākappino
bhagavato avidūre nisinno hoti pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya
parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. addasā kho bhagavā āyasmantaṃ
mahākappinaṃ avidūre nisinnaṃ pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya
parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. disvāna bhikkhū āmantesi —
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahākappina đang ngồi không xa Thế Tôn, xếp chân
kiết già, thân thẳng, thiết lập chánh niệm trước mặt.
Thế Tôn thấy Tôn giả Mahākappina ngồi gần, xếp chân kiết già, thân
thẳng, thiết lập chánh niệm trước mặt. Sau khi thấy vậy, Ngài nói với
các Tỳ-khưu:
“Này các Tỳ-khưu, các Thầy có thấy nơi thân vị Tỳ-khưu này có sự rung
động hay dao động nào không?”
“Bạch Thế Tôn, mỗi khi chúng con thấy vị Tôn giả ấy, dù ngồi giữa Tăng
chúng hay ngồi riêng một mình, chúng con không bao giờ thấy nơi thân vị
ấy có sự rung động hay dao động nào.”
“Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu ấy đạt được, theo ý muốn, không khó khăn,
không mệt nhọc, loại định mà do tu tập và làm cho sung mãn, không có sự
rung động hay dao động nơi thân, và không có sự rung động hay dao động
nơi tâm.
Và này các Tỳ-khưu, đó là loại định nào mà do tu tập và làm cho sung
mãn, không có sự rung động hay dao động nơi thân, và không có sự rung
động hay dao động nơi tâm?
Này các Tỳ-khưu, chính là khi định do niệm hơi thở được tu tập và làm
cho sung mãn, thì không có sự rung động hay dao động nơi thân, và không
có sự rung động hay dao động nơi tâm.
Và này các Tỳ-khưu, định do niệm hơi thở được tu tập và làm cho sung mãn
như thế nào để không có sự rung động hay dao động nơi thân và nơi tâm?
Ở đây, này các Tỳ-khưu, một vị Tỳ-khưu đi đến rừng, đến gốc cây, hoặc
đến một am trống, ngồi xuống; xếp chân kiết già, thân thẳng, thiết lập
chánh niệm trước mặt, chỉ chánh niệm, vị ấy thở vào; chánh niệm, vị ấy
thở ra…
Vị ấy tập: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vào’; vị ấy tập: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ
thở ra.’
Này các Tỳ-khưu, chính khi định do niệm hơi thở được tu tập và làm cho
sung mãn như vậy, thì không có sự rung động hay dao động nơi thân, và
không có sự rung động hay dao động nơi tâm.”
Chú Thích
Tôn giả Mahā Kappina (Đại Kiếp Tân Na)
một trong những đại đệ tử xuất chúng của Đức Phật, được xem là bậc đệ
nhất trong những vị giáo huấn chư Tỳ-khưu (bhikkhuovādakānaṃ) (A.i.25).
Ngài lớn tuổi hơn Đức Phật, sinh ra tại một vương quốc biên địa rộng ba
trăm do-tuần, tại thành Kukkutavatī. Sau khi vua cha qua đời, ngài lên
ngôi với danh hiệu Mahā Kappina. Hoàng hậu chính là Anojā, người thành
Sāgala thuộc xứ Madda. Bà là bạn đồng hành thiện nghiệp của ngài từ
nhiều đời trước.
Mỗi buổi sáng, Mahā Kappina sai người ra bốn cổng thành để tìm những học
giả hay người trí thức đi ngang qua, rồi báo lại cho mình. Ngài có năm
con ngựa báu, trong đó chỉ mình cưỡi con Supatta.
Một ngày nọ, sau khi Đức Phật xuất hiện trên đời, các thương nhân từ
Sāvatthī đến. Khi được hỏi về giáo pháp, họ nói không thể trả lời khi
chưa súc miệng. Sau khi làm sạch, họ kể về Đức Phật.
Khi nghe đến từ “Buddha”, thân vua tràn đầy hỷ lạc. Ngài yêu cầu họ lặp
lại ba lần, và mỗi lần ban thưởng lớn. Sau khi nghe về Pháp và Tăng,
ngài từ bỏ vương vị, cùng các đại thần lên đường tìm Đức Phật.
Họ vượt ba con sông bằng “chân thật ngôn”: “Nếu vị này là Chánh Đẳng
Giác, xin cho móng ngựa không ướt nước.” Đức Phật dùng thiên nhãn thấy
họ, bay đến bờ sông Candabhāgā, ngồi dưới cây đa lớn và phóng hào quang.
Mahā Kappina và đoàn tùy tùng đảnh lễ. Sau khi nghe pháp, họ chứng
A-la-hán và được xuất gia với lời “Ehi bhikkhu”. Hoàng hậu Anojā và các
phu nhân cũng xuất gia và chứng nhập dòng Thánh.
Tôn giả Mahā Kappina thường sống trong hỷ lạc của thiền định (jhāna),
thường thốt lên: “Aho sukham! Aho sukham!” (Ôi hạnh phúc thay!) Điều này
khiến các Tỳ-khưu tưởng ngài nhớ đời sống vương giả, nhưng Đức Phật đã
giải thích đó là niềm lạc của thiền.
Một lần, Đức Phật thấy ngài sống an lạc mà không giảng pháp, nên khuyến
khích ngài giáo hóa. Sau một thời pháp, một ngàn tỳ khưu chứng A-la-hán.
Ngài có thần thông lớn, chứng đủ các thiền định, và thường đi cùng Tôn
giả Sāriputta.
“Không rung động nơi thân” (kāyassa aniñjana)
không
chỉ là thân ngồi yên mà là an tịnh thân
hành (kāyasaṅkhāra) tức hơi thở trở nên cực kỳ vi tế.
“Không rung động nơi tâm” (cittassa aniñjana)
không chỉ là không suy nghĩ mà là tâm
không còn dao động bởi tham, sân, si. Đây là trạng thái định thuần tịnh.
“Đạt định theo ý muốn” (labhati icchiticchitaṃ)
– .
Vị ấy xuất nhập định tự tại. Đây là dấu hiệu của định đã thuần thục
(vasī-bhāva)
Sớ Giải
983. sattame iñjitattaṃ vā phanditattaṃ vāti ubhayenapi calanameva
kathitaṃ.
“983. Ở bài kinh thứ bảy, ‘iñjitattaṃ vā phanditattaṃ vā’ — cả hai đều
được nói đến chỉ là sự dao động .”
|