NHẬT HÀNH

Thứ Ba, ngày 04 tháng 08, năm 2026
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: TK Minh Hạnh.
Tri chúng: PT
LỚP PHẬT PHÁP BUDDHADHAMMA- Buddhadhamma: www.chuaphapluan.com & www.lopphatphap.net

Phần I- LỜI MỞ ĐẦU GIỜ HỌC (Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng.)  

Namo Buddhaya. Đây là chương trình Phật Pháp Buddhadhamma trên mạng internet qua Zoom và Facebook. Mỗi ngày hai giờ, GIỜ MÙA HÈ, Việt Nam từ 8:00 đến 10:00 tối, Houston 8:00 đến 10:00 sáng, NY 9:00 đến 11:00 sáng, Cali 6:00 đến 8:00 sáng, Paris 3:00 đến 5:00 chiều, Sydney 11:00 tối đến 1:00 sáng.. Con...... thành kính đảnh lễ chư tôn đức và thân chào tất cả đạo hữu.

Hôm nay Thứ Ba, ngày 04, tháng 08, năm 2026, Phật lịch 2570. Bài học hôm nay Môn Học KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA - Tập I-Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Phẩm Cây Sậy. SN 1.4 BÀI 004.TUỔI XUÂN CHÓNG TÀN - Kinh Thời Gian Trôi Qua (Accentisutta) . Tỳ Khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình. TT Tuệ Quyền giảng giải. Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo. Chúng con xin kính thỉnh TT Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo. Namo Buddhaya.
(TT Minh Hạnh)
Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)

*****************

Kính cung thỉnh (HT Tuệ Siêu) dẫn nhập pháp thoại hôm nay.
Sau phần dẫn nhập Tri chúng nói lời tri ân Giảng sư dẫn nhập
“Chúng con kính tri ân HT Tuệ Siêu ”

oo0oo

BÀI 004. TUỔI XUÂN CHÓNG TÀN- Kinh Thời Gian Trôi Qua (Accentisutta)

Thời gian không ngừng trôi, đêm ngày không ngừng đẩy ta đến cái chết, và chính tuổi đời cũng không ngừng tan biến. Cả ba đều vận hành lặng lẽ nhưng không bao giờ dừng lại. Vì thế, người có trí không nên đợi đến khi già yếu mới nghĩ đến tu tập, bởi ngay trong khoảnh khắc hiện tại, dòng thời gian đã và đang mang chúng ta tiến gần hơn đến điểm cuối của kiếp sống. Chính vì thấy rõ ba hiểm họa ấy mà Đức Thế Tôn không chỉ khuyên tạo phước lành, mà còn dạy người cầu tịch tịnh phải buông bỏ "mồi nhử của thế gian" (lokāmisa). Khi nhận ra mọi giai đoạn của đời người đều không thể giữ lại, hành giả sẽ không còn đặt hạnh phúc nơi tuổi trẻ, tài sản, danh vọng hay dục lạc, mà hướng tâm đến điều duy nhất không bị thời gian cuốn trôi: Niết-bàn tịch tịnh.

Kinh Văn

Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi:
“Accenti kālā tarayanti rattiyo, Vayoguṇā anupubbaṃ jahanti; Etaṃ bhayaṃ maraṇe pekkhamāno, Puññāni kayirātha sukhāvahānī”ti.
“Accenti kālā tarayanti rattiyo, Vayoguṇā anupubbaṃ jahanti; Etaṃ bhayaṃ maraṇe pekkhamāno, Lokāmisaṃ pajahe santipekkho”ti.

Tại Sāvatthī. Đứng một bên, vị thiên ấy đọc lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Thời gian lặng trôi qua,
Ðêm ngày luôn di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến chơn an lạc.

(Thế Tôn):

Thời gian lặng trôi qua,
Ðêm ngày luôn di động,
Tuổi tác buổi thanh xuân,
Tiếp tục bỏ chúng ta.
Những ai chịu quán sát,
Sợ hãi tử vong này,
Bỏ mồi nhử thế gian,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.

.(Bản Việt dịch hai kệ ngôn nầy của Hoà thượng Thích Minh Châu “đã gắn sâu vào tâm tư” của nhiều thế hệ tăng ni. Do vậy muốn giữ lại bản nầy, tuy vậy, chỉ sửa lại một chữ cho đúng với chánh văn là: Lokāmisa nghĩa là mồi câu của thế gian, miếng mồi thế gian thay vì “thế lợi” ).

Chú Thích

1. Accenti kālā tarayanti rattiyo

  • Accenti (từ acceti = vượt qua, trôi qua, qua đi).
  • Kālā = thời gian (số nhiều, nhấn mạnh sự liên tục).
  • Tarayanti = vượt qua nhanh, lướt qua.
  • Rattiyo = các đêm (chỉ chu kỳ ngày-đêm).

 Hình ảnh thời gian không đứng yên, mà liên tục “vượt qua” ta. Không phải “thời gian đi”, mà chính chúng ta bị thời gian “bỏ lại phía sau”.

2. Vayoguṇā anupubbaṃ jahanti

  • Vayoguṇā = các phẩm chất / giai đoạn của tuổi đời (vayo + guṇa). Gồm: thời thơ ấu → thanh niên → trung niên → già nua.
  • Anupubbaṃ = tuần tự, lần lượt, theo thứ tự.
  • Jahanti = bỏ rơi, từ bỏ, bỏ đi.

Không phải ta “già đi”, mà các giai đoạn sống lần lượt “bỏ rơi” ta. Đây là cách nói rất sâu sắc, nhấn mạnh tính vô thường và không có cái “tôi” nào nắm giữ được tuổi đời.

3. Etaṃ bhayaṃ maraṇe pekkhamāno

  • Bhayaṃ = nguy hiểm, sự sợ hãi, tai họa.
  • Maraṇe = nơi cái chết / trong cái chết.
  • Pekkhamāno = đang nhìn kỹ, đang quán sát rõ ràng.

Không phải sợ chết một cách mơ hồ, mà “thấy rõ nguy hiểm của cái chết” như một sự thật đang hiện hữu.

4. Hai câu kết – điểm khác biệt then chốt

  • Thiên nhân: Puññāni kayirātha sukhāvahānī  “Hãy làm các việc phước đem lại hạnh phúc.” Đây là quan điểm thế gian thiện (loka-kusala): thấy vô thường nên tích phước để được hạnh phúc (đời này hoặc đời sau).
  • Thế Tôn: Lokāmisaṃ pajahe santipekkho
    • Lokāmisa = mồi câu của thế gian (āmisa = mồi câu, miếng mồi; loka = thế gian). Chỉ cho dục lạc, danh lợi, tài sản, thân quyến… những thứ “mồi” làm chúng sinh dính mắc.
    • Pajahe = hãy từ bỏ, hãy buông bỏ.
    • Santipekkho = người đang hướng đến sự an tịnh (santi = an tịnh, Nibbāna; pekkha = mong cầu, hướng đến).

Đức Phật không phủ nhận việc làm phước, nhưng Ngài nâng cao hơn: người thật sự thấy rõ nguy hiểm của cái chết thì không chỉ dừng ở việc tạo phước để hưởng hạnh phúc trong luân hồi, mà phải từ bỏ chính “mồi câu” của thế gian để hướng đến sự an tịnh tuyệt đối.

Sớ Giải

4. catutthe accentīti atikkamanti. kālāti purebhattādayo kālā. tarayanti rattiyoti rattiyo atikkamamānā puggalaṃ maraṇūpagamanāya tarayanti sīghaṃ sīghaṃ gamayanti. vayoguṇāti paṭhamamajjhimapacchimavayānaṃ guṇā, rāsayoti attho.
“anujānāmi, bhikkhave, ahatānaṃ vatthānaṃ diguṇaṃ saṅghāṭin”ti (mahāva. 348) ettha hi paṭalaṭṭho guṇaṭṭho. “sataguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā”ti (ma. ni. 3.379) ettha ānisaṃsaṭṭho. “antaṃ antaguṇan”ti ettha koṭṭhāsaṭṭho. “kayirā mālāguṇe bahū”ti (dha. pa. 53) ettha rāsaṭṭho. “pañca kāmaguṇā”ti ettha bandhanaṭṭho.
idha pana rāsaṭṭho guṇaṭṭho. tasmā vayoguṇāti vayorāsayo veditabbā. anupubbaṃ jahantīti anupaṭipāṭiyā puggalaṃ jahanti. majjhimavaye ṭhitaṃ hi paṭhamavayo jahati, pacchimavaye ṭhitaṃ dve paṭhamamajjhimā jahanti, maraṇakkhaṇe pana tayopi vayā jahanteva. etaṃ bhayanti etaṃ kālānaṃ atikkamanaṃ, rattidivānaṃ taritabhāvo, vayoguṇānaṃ jahanabhāvoti tividhaṃ bhayaṃ. sesaṃ purimasadisamevāti.

Trong kinh thứ tư:

Accentīti atikkamanti. Chữ accenti có nghĩa là “vượt qua, trôi qua, đi qua”.

Kālāti purebhattādayo kālā. Chữ kālā (thời gian) chỉ các khoảng thời gian như thời trước bữa ăn (purebhatta) và các thời khác tương tự.

Tarayanti rattiyoti rattiyo atikkamamānā puggalaṃ maraṇūpagamanāya tarayanti sīghaṃ sīghaṃ gamayanti. Câu tarayanti rattiyo được giải thích như sau: các đêm đang trôi qua, chúng đưa đẩy (tarayanti) con người hướng đến cái chết một cách nhanh chóng, rất nhanh chóng (sīghaṃ sīghaṃ gamayanti).

Vayoguṇāti paṭhamamajjhimapacchimavayānaṃ guṇā, rāsayoti attho. Chữ vayoguṇā chỉ các guṇa của ba giai đoạn tuổi đời: tuổi đầu (paṭhamavaya), tuổi giữa (majjhimavaya) và tuổi cuối (pacchimavaya). Ở đây guṇa có nghĩa là “rāsa” (đống, nhóm, tập hợp).

[Để làm rõ nghĩa của chữ guṇa, chú giải nêu ra nhiều cách dùng khác nhau trong Kinh điển:

  • Trong câu “Anujānāmi, bhikkhave, ahatānaṃ vatthānaṃ diguṇaṃ saṅghāṭiṃ” (Mahāvagga 348): guṇa có nghĩa là lớp, tầng (paṭalaṭṭha – như hai lớp vải của y tăng-già-lê).
  • Trong câu “Sataguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā” (Majjhima Nikāya 3.379): guṇa có nghĩa là lợi ích, quả báo (ānisaṃsaṭṭha).
  • Trong cụm “antaṃ antaguṇaṃ”: guṇa có nghĩa là phần, bộ phận (koṭṭhāsaṭṭha).
  • Trong câu “Kayirā mālāguṇe bahū” (Dhammapada 53): guṇa có nghĩa là đống, chuỗi (rāsaṭṭha – như chuỗi hoa).
  • Trong cụm “pañca kāmaguṇā”: guṇa có nghĩa là sự ràng buộc (bandhanaṭṭha).]

Idha pana rāsaṭṭho guṇaṭṭho. Nhưng ở đây, trong kinh này, guṇa được dùng theo nghĩa rāsa (đống, nhóm). Do đó, vayoguṇā phải được hiểu là các đống / các nhóm tuổi đời (vayorāsayo).

Anupubbaṃ jahantīti anupaṭipāṭiyā puggalaṃ jahanti. Câu anupubbaṃ jahanti nghĩa là: chúng bỏ rơi con người theo thứ tự lần lượt (anupaṭipāṭiyā).

Giải thích cụ thể:

  • Người đang đứng ở tuổi giữa thì bị tuổi đầu bỏ rơi.
  • Người đang đứng ở tuổi cuối thì bị cả hai tuổi đầu và tuổi giữa bỏ rơi.
  • Đến sát-na chết (maraṇakkhaṇe) thì cả ba tuổi đời đều bỏ rơi hết.

Etaṃ bhayanti etaṃ kālānaṃ atikkamanaṃ, rattidivānaṃ taritabhāvo, vayoguṇānaṃ jahanabhāvoti tividhaṃ bhayaṃ. Chữ etaṃ bhayaṃ (nguy hiểm này) chỉ ba loại nguy hiểm:

1.    Sự trôi qua của các thời gian (kālānaṃ atikkamanaṃ),

2.    Sự nhanh chóng trôi đi của đêm và ngày (rattidivānaṃ taritabhāvo),

3.    Sự bỏ rơi của các nhóm tuổi đời (vayoguṇānaṃ jahanabhāvo).

Sesaṃ purimasadisamevāti. Phần còn lại (của bài kệ) giống hệt như trong các kinh trước.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

**************

Thỉnh pháp sư:

Tri chúng thay mặt đại chúng thỉnh pháp sư.

Trước khi đọc kệ thỉnh pháp sư nói như sau:

- Xin thính chúng cùng thành tâm thỉnh pháp sư

KỆ THỈNH PHÁP SƯ

Bản ngắn

Hàng thiện tín mãi mê trần cảnh
Nghiệp bốn bề nặng gánh lo toan
ít khi tâm trí rảnh rang
Não phiền kết buộc sân tham còn nhiều

Nghe Chánh Pháp như người được ngọc
Nghe Pháp nhiều chư Phật ngợi khen
Phước sanh trí tuệ vô biên
Ðường đi sáng tỏ nhân duyên rõ ràng

Thỉnh pháp sư đăng đàn thuyết giáo
Quỳ nơi đây tâm đạo tín thành
Ngưỡng mong chánh pháp thịnh hành
Ngưỡng cầu thâm nhập đạo lành Như Lai. (lạy)

Bản dài

Thuở đức Phật viên thành chánh giác
Gẫm đạo mầu diệu pháp cao thâm
Phân vân chưa chuyển pháp luân
Phạm thiên hầu Phật tâm thành cầu xin


Bạch Thế Tôn muôn nghìn ân đức
Pháp vô biên mãn túc khai hoa
Mong Ngài chuyển pháp đăng tòa
Chúng sanh ít bụi may mà đủ duyên

Như hoa sen đẹp xinh mùa hạ
Ðóa vươn cao đóa lả mặt hồ
Ðóa còn tận đáy bùn nhơ
Chúng sanh căn trí tỏ mờ khác nhau

Vì bi mẫn ngưỡng cầu tế độ
Ngự thuyền từ cứu khổ quần mê
Chút duyên chút phước bồ đề
Chút nhân chút quả quay về thiện tâm

Phạm thiên vẫn vi trần phủ phục
Lời thiết tha bi đức sáng ngời
Pháp Vương im lặng nhận lời
Về vườn Lộc giả vì đời chuyển luân

Thuyết trung đạo Kiều Trần đại ngộ
Liễu niết bàn vô khổ vô sanh
Thế gian Tam Bảo tựu thành
Tỳ kheo năm vị đạo hành viên dung

Rồi từ đó Phật dùng trống Pháp
Gióng đêm thâu tỉnh giấc mộng trường
Dãi dầu nắng gió tuyết sương
Hoằng khai giáo hóa mở đường độ sinh

Bởi cớ tích sự tình ngày trước
Ðại phạm thiên mãi được tán dương
Kính thành dâng cúng hoa hương
Thỉnh Ngài thuyết pháp noi đường từ bi

Hàng thiện tín mãi mê trần cảnh
Nghiệp bốn bề nặng gánh lo toan
ít khi tâm trí rảnh rang
Não phiền kết buộc sân tham còn nhiều

Nghe Chánh Pháp như người được ngọc
Nghe Pháp nhiều chư Phật ngợi khen
Phước sanh trí tuệ vô biên
Ðường đi sáng tỏ nhân duyên rõ ràng

Thỉnh pháp sư đăng đàn thuyết giáo
Quỳ nơi đây tâm đạo tín thành
Ngưỡng mong chánh pháp thịnh hành
Ngưỡng cầu thâm nhập đạo lành Như Lai. (lạy)

-o0o-

Sau khi kết thúc kệ thỉnh pháp sư nói như sau:

-  Đã đến thời thích hợp, chúng con kính cung thỉnh pháp sư thuyết giảng.

-ooOoo-

Phần III:
Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau / Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Xin thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy những giáo nghĩa vi diệu của Đức Phật để toàn thể chúng con được lắng nghe, ghi nhớ và hành trì trong tôn chỉ “không làm các ác nghiệp, huân tu các hạnh lành, thanh tịnh hoá tâm ý, như lời chư Phật dạy”. Kính cám ơn quý Ops đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp học được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức và quý đạo hữu luôn an lạc, cát tường trong chánh pháp nhiệm mầu của Đức Thế Tôn.  Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.  
Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhāya
mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Phật Pháp - BUDDHADHAMMA xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại quý vị ngày mai trong giờ thường lệ. Namo Buddhāya.