NHẬT HÀNH
 

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 09, năm 2026
Vị Tăng hoặc Ni nói lời cầu nguyện đầu lớp học: TK Minh Hạnh.
Tri chúng: PT
LỚP PHẬT PHÁP BUDDHADHAMMA- Buddhadhamma: www.chuaphapluan.com  & www.lopphatphap.net

Phần I- LỜI MỞ ĐẦU GIỜ HỌC (Phần này đọc sau khi dứt kinh tụng.) 

Namo Buddhaya. Đây là chương trình Phật Pháp Buddhadhamma trên mạng internet qua Zoom và Facebook. Mỗi ngày hai giờ, GIỜ MÙA HÈ, Việt Nam từ 7:30 đến 10:00 tối, Houston 7:30 đến 10:00 sáng, NY 8:30 đến 11:00 sáng, Cali 5:30 đến 8:00 sáng, Paris 2:30 đến 5:00 chiều, Sydney 10:30 tối đến 1:00 sáng. Con...... thành kính đảnh lễ chư tôn đức và thân chào tất cả đạo hữu.

Hôm nay Thứ Sáu, ngày 18 tháng 09, năm 2026, Phật lịch 2570. Môn Học THẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMATTHASAṄGAHA) -   Bài 190. Tương ưng duyên (Sampayuttapaccayo) & Bất tương ưng duyên (Vippayuttapaccayo) HT Giác Đẳng biên soạn giáo trình và giảng giải.

Mở đầu chương trình xin tất cả chúng ta trang nghiêm tam nghiệp đảnh lễ Tam Bảo. Chúng con xin kính thỉnh TT Minh Hạnh đọc kinh Lễ Tam Bảo. Namo Buddhaya.
(TT Minh Hạnh)


Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng đệ tử Thế Tôn bậc diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, chân chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ, là phước điền vô thượng trong đời. 

Nguyện cầu uy đức Phật Bảo
Nguyện cầu uy đức Pháp Bảo
Nguyện cầu uy đức Tăng Bảo
Xin Tam Bảo gia hộ
Ngăn ngừa mọi tai ương
Những hiện tượng bất tường
Những mộng mị xấu xa
Những nghịch duyên trở ngại
Thảy đều mau tan biến
Nguyện muôn loài chúng sanh
Người khổ xin hết khổ
Người sợ hết sợ hãi
Người sầu hết sầu bi
Biết cho với niềm tin
Biết hộ trì giới hạnh
Biết lạc trú trong thiền
Chư thiên đã vân tập
Xin tùy hỷ phước lành
Ðược cát tường như ý
Rồi phản hồi thiên xứ
Chư Toàn Giác đại lực
Chư Ðộc Giác đại lực
Thinh Văn Giác đại lực
Nguyện tổng trì uy đức
Cầu phúc lành phát sanh (lạy)
 

**********************

(Phần II )

Kính tri ân Sư Minh Hạnh.

Tiếp đến kính cung thỉnh HT  Tuệ Siêu dẫn nhập pháp thoại hôm nay.

[Sau phần dẫn nhập Tri chúng nói lời tri ân Giảng sư dẫn nhập “Chúng con kính tri ân Thượng Toạ Giác Đẳng ”

oo0oo

THẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMATTHASAṄGAHA) -

Bài 190. Tương ưng duyên (Sampayuttapaccayo) & Bất tương ưng duyên (Vippayuttapaccayo)-

Một nguyên lý sâu sắc của Thắng Pháp: các pháp không cần phải giống nhau mới có thể hỗ trợ nhau; đôi khi chúng trợ nhau vì cùng bản chất, đôi khi lại trợ nhau chính trong sự khác biệt.

Trong 24 duyên (paccaya) của bộ Paṭṭhāna – Duyên Hệ, Tương ưng duyên và Bất tương ưng duyên trình bày hai cách thức rất đặc biệt mà các pháp hỗ trợ nhau.

Một bên là hỗ trợ do hòa quyện, bên kia là hỗ trợ dù không hòa quyện.

I. TƯƠNG ƯNG DUYÊN (Sampayuttapaccayo)

Sampayutta có nghĩa là tương ưng, kết hợp, hòa quyện với nhau.  Sampayuttapaccaya – Tương ưng duyên là mãnh lực trợ giúp giữa những danh pháp cùng sanh trong một sát-na tâm, kết hợp mật thiết đến mức chúng cùng sanh, cùng diệt, cùng biết một cảnh và cùng nương một vật.

Chánh tạng Paṭṭhāna nói:

Sampayuttapaccayo'ti cattāro khandhā arūpino aññamaññaṃ sampayuttapaccayena paccayo.

Bốn uẩn phi sắc (tức bốn danh uẩn) trợ giúp lẫn nhau bằng Tương ưng duyên.

Bốn danh uẩn ấy là: Thọ uẩn – vedanākkhandha, Tưởng uẩn – saññākkhandha,  Hành uẩn – saṅkhārakkhandha, Thức uẩn – viññāṇakkhandha.

Nói theo hệ thống Thắng Pháp, đây chính là quan hệ giữa tâm (citta) và các thuộc tánh (cetasika) đồng sanh với tâm ấy.

2. BỐN ĐẶC TÍNH CỦA TƯƠNG ƯNG

Danh pháp được gọi là tương ưng khi có bốn sự đồng nhất:

a. Đồng sanh – ekuppāda

Chúng cùng xuất hiện trong một sát-na tâm. Không phải tâm sanh trước rồi thọ sanh sau; cũng không phải tưởng sanh trước rồi tâm mới xuất hiện. Chúng đồng sanh.

b. Đồng diệt – ekanirodha

Khi sát-na tâm ấy chấm dứt, những tâm sở tương ưng với nó cũng chấm dứt. Chúng không tách riêng để tiếp tục tồn tại.

c. Đồng cảnh – ekālambana

Tâm và các tâm sở tương ưng đều biết cùng một đối tượng. Thí dụ khi nhìn thấy một đóa hoa, tâm biết đóa hoa thì thọ, tưởng, tư, tác ý… cùng sanh với tâm ấy cũng liên hệ đến chính cảnh đó.

d. Đồng nương vật – ekanissaya

Trong những trường hợp có sắc vật làm chỗ nương, tâm và các tâm sở đồng sanh nương cùng một vật.

Do bốn đặc tính ấy, tâm và tâm sở hòa hợp vô cùng mật thiết.

3. NĂNG DUYÊN VÀ SỞ DUYÊN

Theo cách phân loại pháp bản thể:

Năng duyên:
121 tâm + 52 thuộc tánh.

Sở duyên:
121 tâm + 52 thuộc tánh.

Tuy nhiên cần hiểu rằng con số này chỉ phạm vi các pháp có khả năng tham dự; không có nghĩa mọi tâm đều tương ưng với mọi tâm khác.

Tương ưng duyên chỉ xảy ra giữa những danh pháp đồng sanh trong cùng một sát-na tâm. Do đó:

Một danh uẩn trợ ba danh uẩn còn lại;

ba danh uẩn trợ một danh uẩn;

hai danh uẩn trợ hai danh uẩn.

Điểm quan trọng nhất là:

Chỉ danh pháp tương ưng với danh pháp.

Sắc pháp không thể trở thành Tương ưng duyên theo nghĩa chuyên môn này.

Ví dụ như một tô canh có nước, muối, đường và gia vị. Khi đã nấu thành canh, những vị ấy hòa quyện vào nhau. Ta không thể múc một muỗng nước canh rồi nói: phần này chỉ có vị muối mà hoàn toàn không có những vị khác. Tâm cũng vậy. Khi một sát-na tâm sanh lên, không có một cái “tâm thuần túy” sanh trước rồi sau đó mới gắn thêm thọ, tưởng, tư, xúc…

Tâm và các thuộc tánh tương ưng xuất hiện như một hệ thống tâm lý thống nhất.

II. BẤT TƯƠNG ƯNG DUYÊN (Vippayuttapaccayo)

Vippayutta nghĩa là không kết hợp, không hòa đồng, không tương ưng. Bất tương ưng duyên là sự trợ giúp giữa hai pháp khác loại, chủ yếu là quan hệ: Danh → Sắc hoặc Sắc → Danh.

Chánh tạng nói:

Rūpino dhammā arūpīnaṃ dhammānaṃ vippayuttapaccayena paccayo; arūpino dhammā rūpīnaṃ dhammānaṃ vippayuttapaccayena paccayo.

Các pháp sắc trợ các pháp phi sắc bằng Bất tương ưng duyên; các pháp phi sắc trợ các pháp sắc bằng Bất tương ưng duyên.

Điểm then chốt là: Chúng trợ nhau nhưng không hòa thành một pháp.

Ví dụ như một món trang sức bằng vàng nạm đá quý là hình ảnh dễ hiểu. Vàng làm nền khiến viên đá nổi bật. Viên đá quý lại làm món trang sức bằng vàng trở nên đẹp hơn. Chúng hỗ trợ nhau nhưng: vàng vẫn là vàng, đá vẫn là đá. Chúng không hòa lẫn thành cùng một bản chất.

Tương tự, trong Thắng Pháp: Danh vẫn là danh, sắc vẫn là sắc; nhưng danh và sắc có thể làm duyên hỗ trợ lẫn nhau.

III. NĂM TRƯỜNG HỢP BẤT TƯƠNG ƯNG DUYÊN

Bất tương ưng duyên có thể được trình bày thành năm trường hợp, gồm ba trường hợp sắc trợ danh và hai trường hợp danh trợ sắc.

A. SẮC TRỢ DANH

1. Câu sanh bất tương ưng duyên (Sahajātavippayuttapaccaya)

Trong sát-na tái tục (paṭisandhi), sắc ý vật do nghiệp sanh cùng sanh với tâm quả tái tục và hỗ trợ tâm tái tục. Sắc và danh cùng sanh nhưng không hòa lẫn.

Đây là: Sắc → Danh bằng Câu sanh Bất tương ưng duyên.

2. Vật tiền sanh bất tương ưng duyên (Vatthupurejātavippayuttapaccaya)

Các sắc vật như: nhãn vật, nhĩ vật, tỷ vật, thiệt vật, thân vật, ý vật sanh trước và trở thành nơi nương cho những tâm thích hợp sanh sau. Thí dụ, nhãn vật là sắc pháp nhưng hỗ trợ cho nhãn thức sanh lên. Nhãn vật không biến thành nhãn thức. Một bên là sắc, một bên là danh. Nhưng sắc trở thành điều kiện cho danh.

3. Vật cảnh tiền sanh bất tương ưng duyên (Vatthārammaṇapurejātavippayuttapaccaya)

Trong trường hợp đặc biệt, sắc ý vật đã sanh trước vừa làm vật nương, vừa có thể trở thành cảnh cho tâm nhận biết. Đây là một dạng sắc pháp trợ danh pháp mà sắc và danh vẫn hoàn toàn khác bản chất.

B. DANH TRỢ SẮC

4. Câu sanh bất tương ưng duyên (Sahajātavippayuttapaccaya)

Tâm và thuộc tánh có thể làm duyên cho sắc tâm tức là sắc do tâm sanh – cittajarūpa. Khi tâm sanh, trong những trường hợp thích hợp, nó tạo ra sắc pháp. Thí dụ rất gần với kinh nghiệm là trạng thái tâm lý có thể biểu hiện qua cơ thể. Khi giận dữ, nét mặt và cử động thay đổi. Khi vui, khuôn mặt và giọng nói cũng thay đổi. Theo Thắng Pháp, đây không nên hiểu đơn giản rằng “tâm biến thành sắc”. Nói đúng hơn: Danh pháp làm điều kiện cho sắc pháp phát sanh, nhưng danh vẫn là danh và sắc vẫn là sắc.

5. Hậu sanh bất tương ưng duyên (Pacchājātavippayuttapaccaya)

Danh pháp sanh sau có thể hỗ trợ sắc pháp đã sanh trước. Trong đời sống ngũ uẩn, các tâm và tâm sở thích hợp trợ giúp cho sắc thân đang tồn tại. Đây gọi là: Hậu sanh Bất tương ưng duyên. Hình ảnh dễ hiểu là một cây non đã mọc trước, nhưng nước được tưới sau giúp cây ấy tiếp tục tồn tại. Cũng vậy, sắc thân đã sanh, nhưng dòng tâm sanh sau có thể góp phần duy trì sắc thân.

IV. TÓM TẮT NĂM TRƯỜNG HỢP BẤT TƯƠNG ƯNG DUYÊN

Loại

Năng duyên

Sở duyên

Hình thức

1. Câu sanh

Sắc

Danh

Sắc → Danh

2. Vật tiền sanh

Sắc

Danh

Sắc → Danh

3. Vật-cảnh tiền sanh

Sắc

Danh

Sắc → Danh

4. Câu sanh

Danh

Sắc

Danh → Sắc

5. Hậu sanh

Danh

Sắc

Danh → Sắc

Như vậy có thể nhớ rất gọn:

3 Sắc → Danh + 2 Danh → Sắc = 5 trường hợp Bất tương ưng duyên.

V. NĂNG DUYÊN VÀ SỞ DUYÊN CỦA BẤT TƯƠNG ƯNG DUYÊN

Theo bảng chi pháp thường dùng:

Năng duyên

107 tâm (trừ ngũ song thức và bốn tâm quả vô sắc), cùng 52 thuộc tánh, và những sắc vật thích hợp, đặc biệt sắc ý vật trong những trường hợp liên hệ.

Sở duyên

Các danh pháp hoặc sắc pháp thích hợp tùy trường hợp bất tương ưng đang xét, gồm các sắc do tâm sanh, sắc nghiệp và các tâm cùng tâm sở nương sắc vật. Điều quan trọng khi học phần này không phải chỉ thuộc các con số, mà phải nhận ra nguyên tắc: Bất tương ưng duyên luôn diễn tả sự hỗ trợ giữa danh và sắc trong khi danh và sắc vẫn giữ bản chất riêng biệt.

VI. Ý NGHĨA THEO THẮNG PHÁP

Hai duyên này đặt cạnh nhau cho chúng ta thấy một điều rất sâu sắc về thực tại.

Tương ưng duyên cho thấy: Trong cái mà chúng ta gọi là “tâm”, thực ra có nhiều yếu tố tâm lý cùng hoạt động. Khi ta nói: “Tôi đang vui.” Thắng Pháp phân tích kinh nghiệm ấy thành tâm và nhiều thuộc tánh đồng sanh.

Khi nói: “Tôi đang giận.” Cũng không có một thực thể gọi là “cơn giận của tôi” tồn tại độc lập. Có một sát-na tâm cùng những thuộc tánh tương thích đang tương ưng với nhau.

Vì vậy, Tương ưng duyên giúp phá vỡ quan niệm rằng tâm là một thực thể đơn nhất, thường còn.

Bất tương ưng duyên cho thấy:

Danh và sắc liên hệ mật thiết nhưng không phải một. Cơ thể ảnh hưởng tâm. Tâm ảnh hưởng cơ thể. Nhưng: Tâm không phải thân và thân không phải tâm.

Theo cách phân tích của Thắng Pháp, con người không phải một “cái tôi” duy nhất điều khiển cả thân lẫn tâm, mà là một tiến trình danh-sắc (nāma-rūpa) nương tựa và làm duyên cho nhau.

VII. TƯƠNG ƯNG KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ THIỆN

Đây là điểm rất quan trọng. “Tương ưng” chỉ diễn tả cách các pháp kết hợp, không có nghĩa những pháp ấy nhất thiết tốt đẹp.

Một tâm bất thiện cũng có các thuộc tánh tương ưng. Thí dụ khi sân sanh: tâm sân, cảm thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý và những tâm sở bất thiện thích hợp cùng vận hành.

Chính vì chúng tương ưng chặt chẽ nên một ý nghĩ sân hận có thể trở nên rất mạnh. Ngược lại, khi tâm thiện sanh, những thuộc tánh tịnh hảo tương ưng cũng hỗ trợ lẫn nhau.

Do đó, vấn đề tu tập không phải chỉ là: “Tâm tôi đang nghĩ gì?” mà sâu hơn là: “Những pháp nào đang tương ưng với tâm này?”

VIII. HAI DUYÊN – MỘT BÀI HỌC VỀ DUYÊN SINH

Tương ưng duyên dạy rằng:

Có những pháp hỗ trợ nhau vì chúng hòa hợp với nhau.

Bất tương ưng duyên dạy rằng:

Có những pháp hỗ trợ nhau dù chúng không hòa hợp thành một.

Một bên cho thấy sự liên hệ mật thiết giữa danh với danh.

Một bên cho thấy sự tương trợ giữa danh và sắc.

Cả hai cùng đưa hành giả đến một nhận thức quan trọng:

Không có một pháp nào tự mình tồn tại và vận hành độc lập.

Cái chúng ta quen gọi là:

“tôi suy nghĩ,”
“tôi cảm giác,”
“thân thể của tôi,”
“tâm của tôi”

khi được phân tích theo Thắng Pháp, chỉ là những pháp đang sanh khởi, hỗ trợ và tác động lẫn nhau theo những điều kiện nhất định.

IX. KẾT LUẬN

Tương ưng duyên và Bất tương ưng duyên không chỉ là hai thuật ngữ kỹ thuật trong bộ Paṭṭhāna. Chúng mở ra một cách nhìn rất đặc trưng của Thắng Pháp về con người và thế giới.

Tương ưng duyên cho thấy trong một sát-na tâm, nhiều danh pháp cùng sanh, cùng diệt, cùng biết một cảnh và hỗ trợ lẫn nhau.

Bất tương ưng duyên cho thấy danh và sắc tuy khác bản chất nhưng vẫn có thể làm điều kiện cho nhau.

Một bên là Hòa quyện mà trợ nhau.

Một bên là Không hòa quyện mà vẫn trợ nhau.

Và phía sau cả hai là nguyên lý căn bản của Phật pháp:

Không có một “cái ta” độc lập đứng phía sau để điều khiển mọi việc; chỉ có các pháp do duyên mà sanh, do duyên mà tồn tại và khi duyên chấm dứt thì pháp ấy cũng chấm dứt. Hiểu được duyên, chúng ta bớt nhìn đời bằng khái niệm “tôi và của tôi”, mà bắt đầu nhìn bằng trí tuệ: “Khi cái này có, cái kia có;
do cái này sanh, cái kia sanh.” Đó chính là bước chuyển từ nhìn con người sang nhìn các pháp, từ chấp ngã sang thấy duyên sinh, và từ kiến thức Thắng Pháp tiến dần đến trí tuệ trong đời sống thực tế.

Tỳ khưu Giác Đẳng biên soạn.

KỆ THỈNH PHÁP SƯ

Áp dụng 1.5.2022

Trước khi đọc kệ thỉnh pháp sư nói như sau:

- Xin thính chúng cùng thành tâm thỉnh pháp sư

Lưu ý:

Người tụng có thể thể tuỳ chọn tụng ngắn hoặc dài
Đối với nội dung bài học (dài) thì (tụng bản ngắn)
Đối với nội dung bài học (ngắn) thì (tụng bản dài)
.

Bản ngắn

Hàng thiện tín mãi mê trần cảnh
Nghiệp bốn bề nặng gánh lo toan
ít khi tâm trí rảnh rang
Não phiền kết buộc sân tham còn nhiều

Nghe Chánh Pháp như người được ngọc
Nghe Pháp nhiều chư Phật ngợi khen
Phước sanh trí tuệ vô biên
Ðường đi sáng tỏ nhân duyên rõ ràng

Thỉnh pháp sư đăng đàn thuyết giáo
Quỳ nơi đây tâm đạo tín thành
Ngưỡng mong chánh pháp thịnh hành
Ngưỡng cầu thâm nhập đạo lành Như Lai. (lạy)

Bản dài

Thuở đức Phật viên thành chánh giác
Gẫm đạo mầu diệu pháp cao thâm
Phân vân chưa chuyển pháp luân
Phạm thiên hầu Phật tâm thành cầu xin

Bạch Thế Tôn muôn nghìn ân đức
Pháp vô biên mãn túc khai hoa
Mong Ngài chuyển pháp đăng tòa
Chúng sanh ít bụi may mà đủ duyên

Như hoa sen đẹp xinh mùa hạ
Ðóa vươn cao đóa lả mặt hồ
Ðóa còn tận đáy bùn nhơ
Chúng sanh căn trí tỏ mờ khác nhau

Vì bi mẫn ngưỡng cầu tế độ
Ngự thuyền từ cứu khổ quần mê
Chút duyên chút phước bồ đề
Chút nhân chút quả quay về thiện tâm

Phạm thiên vẫn vi trần phủ phục
Lời thiết tha bi đức sáng ngời
Pháp Vương im lặng nhận lời
Về vườn Lộc giả vì đời chuyển luân

Thuyết trung đạo Kiều Trần đại ngộ
Liễu niết bàn vô khổ vô sanh
Thế gian Tam Bảo tựu thành
Tỳ kheo năm vị đạo hành viên dung

Rồi từ đó Phật dùng trống Pháp
Gióng đêm thâu tỉnh giấc mộng trường
Dãi dầu nắng gió tuyết sương
Hoằng khai giáo hóa mở đường độ sinh

Bởi cớ tích sự tình ngày trước
Ðại phạm thiên mãi được tán dương
Kính thành dâng cúng hoa hương
Thỉnh Ngài thuyết pháp noi đường từ bi

Hàng thiện tín mãi mê trần cảnh
Nghiệp bốn bề nặng gánh lo toan
ít khi tâm trí rảnh rang
Não phiền kết buộc sân tham còn nhiều

Nghe Chánh Pháp như người được ngọc
Nghe Pháp nhiều chư Phật ngợi khen
Phước sanh trí tuệ vô biên
Ðường đi sáng tỏ nhân duyên rõ ràng

Thỉnh pháp sư đăng đàn thuyết giáo
Quỳ nơi đây tâm đạo tín thành
Ngưỡng mong chánh pháp thịnh hành
Ngưỡng cầu thâm nhập đạo lành Như Lai. (lạy)

Sau khi kết thúc kệ thỉnh pháp sư nói như sau:

- Đã đến thời thích hợp, chúng con kính cung thỉnh pháp sư thuyết giảng.

[Sau khi kết thúc bài đọc Tri chúng cung thỉnh Giảng sư đảm trách của ngày giảng giải bài học]

Kính cung thỉnh ……. giảng giải bài kinh vừa đọc.

Phần III:  Hồi Hướng này đọc khi kết thúc phần đố vui và giảng sư mời Pt MC lên hoàn mãn buổi học. Giới thiệu bài học hôm sau / Hồi Hướng (Tri Chúng lên hồi hướng)
Sadhu! Sadhu ! Lành Thay!
Xin thay mặt đại chúng trong room, chúng con kính tri ân Chư Tôn Đức đã mở lòng bi mẫn giảng dạy những giáo nghĩa vi diệu của Đức Phật để toàn thể chúng con được lắng nghe, ghi nhớ và hành trì trong tôn chỉ “không làm các ác nghiệp, huân tu các hạnh lành, thanh tịnh hoá tâm ý, như lời chư Phật dạy”. Kính cám ơn quý Ops đã yểm trợ cho các phần hành trong lớp được hoàn tất mỹ mãn. Chúng con kính chúc chư Tôn Đức và quý đạo hữu luôn an lạc, cát tường trong chánh pháp nhiệm mầu của Đức Thế Tôn. 
Để kết thúc chương trình xin chúng ta nhất tâm hồi hướng.  
Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Nguyện hồi hướng chư thiên
Hàng thiện thần hộ pháp
Nguyện các bậc hữu ân
Ðồng thừa tư công đức
Nguyện chánh pháp trường tồn
Chúng sanh cầu giải thoát
Namo Buddhāya
mở kinh tụng và nhạc, (đóng room)
Kính thưa đại chúng, chương trình sinh hoạt hôm nay đến đây đã kết thúc. Ban điều hành room Phật Pháp - BUDDHADHAMMA xin phép được đóng room trong vài giây tới. Kính chào tạm biệt tất cả, xin hẹn gặp lại quý vị ngày mai trong giờ thường lệ. Namo Buddhāya.