BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 13 tháng 08, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Phẩm Cây Sậy . SN. 1.10
BÀI 010. TU TẬP LÀ SỐNG TRONG HIỆN TẠI -

Kinh Trong Rừng (Araññasutta) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-010.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngNguyên nhân sâu xa làm nên vẻ an nhiên, thanh thản của người sống đời xuất gia không nằm ở núi rừng tịch mịch, ở đời sống ngày một bữa, hay nơi dáng vẻ đơn sơ bên ngoài. Cội nguồn của sự bình an ấy nằm ở một nội tâm đã nhẹ gánh với thời gian: không để những chuyện đã qua níu kéo bằng tiếc nuối, cũng không để những điều chưa đến cuốn đi bằng mong cầu và khắc khoải. Khi tâm không còn lang thang giữa “ngày hôm qua” và “ngày mai”, người ấy có thể trọn vẹn với pháp hiện tiền, bình thản đón nhận những gì đang có và tỉnh thức trước những gì đang là. Dù ở giữa rừng vắng hay giữa phố thị phồn hoa, nếu lòng vẫn nặng chuyện quá khứ và mãi chạy theo bóng dáng tương lai, thì tâm hồn vẫn có thể héo úa như cây sậy xanh vừa bị cắt khỏi gốc.

Kinh Văn

10. sāvatthinidānaṃ. ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi —
“araññe viharantānaṃ, santānaṃ brahmacārinaṃ.
ekabhattaṃ bhuñjamānānaṃ, kena vaṇṇo pasīdatī”ti.
“atītaṃ nānusocanti, nappajappanti nāgataṃ.
paccuppannena yāpenti, tena vaṇṇo pasīdati”.
“anāgatappajappāya, atītassānusocanā.
etena bālā sussanti, naḷova harito luto”ti.

Tại Sāvatthī. Đứng một bên, vị thiên ấy nói lên kệ ngôn này trước Thế Tôn:

“Những vị sống trong rừng,
An tịnh, tu phạm hạnh,
Mỗi ngày ăn một bữa,
Vì sao sắc diện họ
Lại trong sáng, an nhiên?”

[Đức Thế Tôn đáp:]

“Không sầu chuyện đã qua,
Không mong điều chưa đến,
Sống với pháp hiện tại,
Nên sắc diện an nhiên.

Chính vì mong tương lai,
Lại tiếc thương quá khứ,
Kẻ ngu dần héo úa,
Như lau xanh bị cắt.”

Chú Thích

Câu hỏi của vị thiên rất tự nhiên: những vị Tỳ khưu sống trong rừng, đời sống thiếu thốn, ngày chỉ ăn một bữa, không có những tiện nghi hay thú vui của thế gian, vậy tại sao dung sắc của họ lại thanh thản, sáng trong? Đức Phật không giải thích bằng thức ăn, khí hậu hay đời sống nhàn hạ, mà chỉ thẳng vào trạng thái của tâm.

“Không sầu chuyện đã qua” không có nghĩa là quên quá khứ. Người có trí vẫn nhớ, vẫn học từ những gì đã xảy ra, nhưng không tiếp tục sống trong tiếc nuối: giá như ngày ấy mình đừng làm thế; giá như người ấy còn ở đây; giá như cơ hội ấy đừng mất đi. Quá khứ đã diệt, nhưng tâm cứ đem nó trở lại hiện tại để rồi tự làm mình đau khổ.

“Không mong điều chưa đến” cũng không có nghĩa là người tu không được dự tính hay chuẩn bị cho tương lai. Điểm Đức Phật nhắm đến là sự khát khao, bám víu và lo âu về cái chưa xảy ra: mong được cái này, sợ mất cái kia, lo ngày mai sẽ ra sao. Tương lai chưa đến mà tâm đã chạy tới đó, dựng nên vô số viễn cảnh rồi vui buồn với chính những tưởng tượng của mình.

Câu then chốt là:

“Sống với pháp hiện tại —
Nên sắc diện an nhiên.”

“Hiện tại” ở đây không đơn giản là khẩu hiệu hãy sống cho hôm nay. Đó là năng lực tỉnh thức trước thực tại đang hiện hữu: thân đang thế nào, cảm thọ đang thế nào, tâm đang thế nào, các pháp đang sinh diệt ra sao. Khi tâm không bị quá khứ kéo ngược lại và cũng không bị tương lai lôi về phía trước, nó có khả năng an trú, tỉnh giác và thấy rõ thực tại ngay trong giây phút này.

Hình ảnh cuối bài kinh đặc biệt đẹp mà cũng rất mạnh: “như lau xanh bị cắt.” Một cây lau đang xanh tươi, khi đã bị cắt khỏi gốc thì tuy bên ngoài chưa héo ngay, nhưng nguồn sống đã bị đoạn lìa; chẳng bao lâu nó sẽ khô quắt. Cũng vậy, con người có thể đầy đủ vật chất, nhưng nếu ngày ngày sống bằng tiếc nuối quá khứ và khát vọng tương lai, sức sống nội tâm dần bị bào mòn.

Bài kinh vì thế đưa ra một nghịch lý rất đẹp: người sống đơn sơ giữa rừng lại có thể an vui hơn người có đủ mọi tiện nghi, bởi hạnh phúc không hoàn toàn tùy thuộc vào ta đang sở hữu bao nhiêu, mà còn tùy thuộc vào tâm đang ở đâu.

Đọc thêm bản Sớ giải bài kinh để biết thêm những chi tiết mang chiều sâu.
Sớ Giải

10. dasame santānanti santakilesānaṃ, paṇḍitānaṃ vā. “santo have sabbhi pavedayanti (jā. 2.21.413), dūre santo pakāsantī”tiādīsu (dha. pa. 304) hi paṇḍitāpi santoti vuttā. brahmacārinanti seṭṭhacārīnaṃ maggabrahmacariyavāsaṃ vasantānaṃ. kena vaṇṇo pasīdatīti kena kāraṇena chavivaṇṇo pasīdatīti pucchati. kasmā panesā evaṃ pucchati? esā kira vanasaṇḍavāsikā bhummadevatā āraññake bhikkhū pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkante araññaṃ pavisitvā rattiṭṭhānadivāṭṭhānesu mūlakammaṭṭhānaṃ gahetvā nisinne passati. tesañca evaṃ nisinnānaṃ balavacittekaggatā uppajjati.
tato visabhāgasantati vūpasammati, sabhāgasantati okkamati, citta
ṃ pasīdati. citte pasanne lohitaṃ pasīdati, cittasamuṭṭhānāni upādārūpāni parisuddhāni honti, vaṇṭā pamuttatālaphalassa viya mukhassa vaṇṇo hoti. taṃ disvā devatā cintesi — “sarīravaṇṇo nāmāyaṃ paṇītāni rasasampannāni bhojanāni sukhasamphassāni nivāsanapāpuraṇasayanāni utusukhe tebhūmikādibhede ca pāsāde mālāgandhavilepanādīni ca labhantānaṃ pasīdati, ime pana bhikkhū piṇḍāya caritvā missakabhattaṃ bhuñjanti, viraḷamañcake vā phalake vā silāya vā sayanāni kappenti, rukkhamūlādīsu vā abbhokāse vā vasanti, kena nu kho kāraṇena etesaṃ vaṇṇo pasīdatī”ti. tasmā pucchi.
athassā bhagavā kāra
ṇaṃ kathento dutiyaṃ gāthaṃ āha. tattha atītanti atīte asuko nāma rājā dhammiko ahosi, so amhākaṃ paṇīte paccaye adāsi. ācariyupajjhāyā lābhino ahesuṃ. atha mayaṃ evarūpāni bhojanāni bhuñjimhā, cīvarāni pārupimhāti evaṃ ekacce paccayabāhullikā viya ime bhikkhū atītaṃ nānusocanti. nappajappanti nāgatanti anāgate dhammiko rājā bhavissati, phītā janapadā bhavissanti, bahūni sappinavanītādīni uppajjissanti, “khādatha bhuñjathā”ti tattha tattha vattāro bhavissanti, tadā mayaṃ evarūpāni bhojanāni bhuñjissāma, cīvarāni pārupissāmāti evaṃ anāgataṃ na patthenti. paccuppannenāti yena kenaci taṅkhaṇe laddhena yāpenti. tenāti tena tividhenāpi kāraṇena.
eva
ṃ vaṇṇasampattiṃ dassetvā idāni tasseva vaṇṇassa vināsaṃ dassento anantaraṃ gāthamāha. tattha anāgatappajappāyāti anāgatassa patthanāya. etenāti etena kāraṇadvayena. naḷova harito lutoti yathā harito naḷo lāyitvā uṇhapāsāṇe pakkhitto sussati, evaṃ sussantīti.

Trong bài kinh thứ mười, từ santānaṃ có nghĩa là những vị đã làm cho các phiền não được an tịnh (santakilesānaṃ), hoặc cũng có thể hiểu là những bậc trí tuệ (paṇḍitānaṃ).

Vì trong các câu như:

“Santo have sabbhi pavedayanti…” (Jā. 2.21.413) “Dūre santo pakāsanti…” (Dhp. 304)

thì từ santa cũng được dùng để chỉ các bậc trí tuệ.

Brahmacārinaṃ nghĩa là những vị đang sống đời Phạm hạnh tối thượng (seṭṭhacārīnaṃ), tức là đang cư trú trong đời sống Phạm hạnh của đạo lộ (maggabrahmacariyavāsaṃ vasantānaṃ).

Kena vaṇṇo pasīdatīti nghĩa là “vì nhân duyên gì mà sắc da (chavivaṇṇa) trở nên thanh thản, tươi sáng?” Vị thiên ấy hỏi như vậy.

Vì sao vị ấy lại hỏi như thế?

Theo truyền thuyết, vị này là một vị thiên địa cư (bhummadevatā) sống trong khu rừng rậm. Mỗi ngày vị ấy thấy các vị Tỳ khưu sống ở rừng, sau khi thọ thực xong, trở về rừng, ngồi ở chỗ ở ban ngày và ban đêm, nắm giữ đề mục căn bản (mūlakammaṭṭhāna) để hành thiền.

Khi các vị ngồi như vậy, tâm nhất cảnh lực mạnh (balavacittekaggatā) sinh khởi. Khi ấy, dòng tâm dị loại (visabhāgasantati) được lắng dịu, dòng tâm đồng loại (sabhāgasantati) đi vào, tâm trở nên thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh thì máu huyết cũng thanh tịnh, các sắc pháp do tâm sinh (cittasamuṭṭhānāni upādārūpāni) trở nên trong sạch, thanh khiết. Sắc diện khuôn mặt trở nên tươi sáng như quả thốt nốt vừa rời khỏi cuống.

Thấy vậy, vị thiên suy nghĩ: “Sắc thân thường chỉ trở nên tươi nhuận khi được hưởng những món ăn ngon lành, đầy đủ vị, được mặc những y phục êm ái, nằm những chỗ nằm êm dịu, sống thụ sự dễ chịu của thời tiết, ở trong những cung điện nhiều tầng… cùng với hương hoa, phấn sáp… Nhưng các vị Tỳ khưu này chỉ đi khất thực rồi ăn cơm trộn lẫn, nằm trên giường thưa hoặc trên ván gỗ, trên đá, hoặc dưới gốc cây, ngoài trời. Vậy vì nhân duyên gì mà sắc diện của các vị ấy lại thanh thản, tươi sáng như vậy?”

Vì thế vị ấy mới hỏi.

Khi ấy Thế Tôn giảng giải nguyên nhân và đọc bài kệ thứ hai.

Trong bài kệ ấy:

  • Atītaṃ nghĩa là: không như một số người chấp nhiều vật dụng, nghĩ rằng “Trong quá khứ có vị vua tên như vậy là bậc hành trì pháp, Ngài đã bố thí cho chúng ta những vật dụng cao quý. Các vị thầy tế độ, thầy giáo thọ đều được lợi lộc. Khi ấy chúng ta đã được ăn những món ăn như thế, được mặc những tấm y như thế…”. Các vị Tỳ khưu này không sầu muộn về quá khứ như vậy.
  • Nappajappanti nāgataṃ nghĩa là: không khao khát về tương lai theo kiểu “Trong tương lai sẽ có vị vua hành trì pháp, các xứ sở sẽ phồn thịnh, nhiều bơ, sữa… sẽ sinh ra, sẽ có người hô to ‘Hãy ăn đi, hãy dùng đi!’ khắp nơi. Khi ấy chúng ta sẽ được ăn những món ăn như thế, được mặc những tấm y như thế…”. Các vị không mong cầu như vậy.
  • Paccuppannena nghĩa là: các vị nuôi dưỡng thân tâm chỉ bằng những gì có được trong chính khoảnh khắc hiện tại, dù là bất cứ thứ gì.
  • Tenāti nghĩa là: chính nhờ ba nhân duyên ấy (không sầu quá khứ, không khao khát tương lai, chỉ sống với hiện tại).

Sau khi chỉ rõ sự thành tựu sắc diện như vậy, Thế Tôn tiếp tục chỉ rõ sự hủy hoại sắc diện ấy bằng bài kệ kế tiếp.

Trong bài kệ ấy:

  • Anāgatappajappāya nghĩa là do sự mong cầu, khao khát về tương lai.
  • Etenāti nghĩa là do hai nhân duyên ấy (khao khát tương lai và sầu muộn quá khứ).
  • Naḷova harito lutoti nghĩa là: cũng như cây sậy xanh khi bị chặt đứt rồi đặt lên tảng đá nóng thì khô héo, các kẻ ngu cũng khô héo, tàn úa như vậy.

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

X. Rừng Núi (Tạp 36.3, Ðại 2,260c. Biệt Tạp 8.1, Ðại 2,426a) (S.i,5)

... Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Thường sống trong rừng núi,
Bậc Thánh sống Phạm hạnh,
Một ngày ăn một buổi,
Sao sắc họ thù diệu?

(Thế Tôn):

Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu.

Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh rời cành.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01