BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 15 tháng 08, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Phẩm Lạc Viên . SN. 1.11
BÀI 011. TÁNH PHỔ QUÁT CỦA VÔ THƯỜNG -

Kinh Lạc Viên (Nandanasutta) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-011.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngKhông dễ để thấy đối lập sâu sắc giữa cơn say đắm ngũ dục của phàm phu và tuệ giác rốt ráo của bậc Thánh về bản chất của mọi tồn tại. Cảnh giới Lạc viên Nandana với năm món dục lạc tuyệt đỉnh của cõi trời tưởng chừng là đỉnh cao của hạnh phúc, nhưng thực chất chỉ là một ảo ảnh mong manh được dệt nên bởi phước báu hữu lậu. Hạnh phúc đích thực không nằm ở việc thỏa mãn vô tận các giác quan—vốn luôn tiềm ẩn mầm mống hoảng loạn khi đối diện với hoại diệt—mà khởi sinh từ sự ly khai trọn vẹn khỏi tham ái. Chân lý ngàn đời “Tịch tĩnh các hành mới thật an vui” khẳng định rằng chỉ khi dập tắt hoàn toàn tiến trình sinh diệt của các pháp duyên hợp để chứng đạt Niết-bàn, hành giả mới thực sự chạm đến niềm an lạc tối thượng và bất hoại. Do đó, bài kinh không chỉ giải ảo giấc mơ thiên giới mà còn là lời cảnh tỉnh nghiêm cẩn cho nhân sinh: chớ để sự đủ đầy tạm bợ ru ngủ tâm thức, mà hãy tinh tấn tìm về nguồn an tịnh giải thoát tối hậu..

Kinh Văn

Evaṃ me sutaṃ— ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca:“Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, aññatarā tāvatiṃsakāyikā devatā nandane vane accharāsaṅghaparivutā dibbehi pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārayamānā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ gāthaṃ abhāsi: ‘Na te sukhaṃ pajānanti, ye na passanti nandanaṃ; Āvāsaṃ naradevānaṃ, tidasānaṃ yasassinan’ti.
Evaṃ vutte, bhikkhave, aññatarā devatā taṃ devataṃ gāthāya paccabhāsi:‘Na tvaṃ bāle pajānāsi, yathā arahataṃ vaco; Aniccā sabbasaṅkhārā, uppādavayadhammino; Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho’”ti.

Tôi được nghe như vầy,

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthī, tại Kỳ Viên (Jetavana), vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại  đấy, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu!” “Dạ, bạch Thế Tôn!” các Tỳ khưu ấy đáp lại. Thế Tôn nói như sau:

“Thuở xưa, này các Tỳ khưu, có một vị Thiên thuộc chúng Tāvatiṃsa (Tam Thập Thiên), đang vui chơi trong vườn Nandana, được đoàn thiên nữ vây quanh, đầy đủ và thụ hưởng năm dục trưởng dưỡng cõi trời. Vào lúc ấy, vị một vị thiên nói lên bài kệ này:

‘Ai chưa thấy Lạc Viên
Là chưa biết lạc thú
Chỗ chư thiên đại uy,
Thuộc Đao Lợi lừng danh’

Khi được nói như vậy, này các Tỳ khưu, một vị Thiên khác đáp lại bằng bài kệ:

‘Kẻ ngu, ngươi không biết,
Lời dạy bậc Ứng Cúng:
Tất cả hành vô thường
Sanh diệt là tự tánh
Có sanh ắt phải diệt
Tịch tịnh là an lạc.

Chú Thích

Kinh này thuộc phẩm Nandanavagga. Đức Phật kể lại một cuộc đối thoại giữa hai vị Thiên ở cõi Tāvatiṃsa để dạy các Tỳ khưu về tính vô thường của mọi thành tựu dục lạc, dù là dục lạc cõi trời cao nhất.

Vườn Nandana (Lạc Viên) là khu vườn nổi tiếng nhất của cõi Đao Lợi, nơi các vị Thiên hưởng thụ năm dục lạc (sắc, thanh, hương, vị, xúc) một cách cực kỳ vi tế và lâu dài. Vị Thiên thứ nhất vừa mới tái sanh (theo Sớ giải), đang say sưa với cảnh giới mới, nên phát ngôn kiêu hãnh rằng chỉ có ai thấy Nandana mới biết được “lạc” đích thực.

Bài kệ thứ nhất:

“Na te sukhaṃ pajānanti…”: Đây là lời tán thán dục lạc thiên giới, coi Nandana là đỉnh cao của hạnh phúc. “Naradevānaṃ” (chỗ trú của các vị Thiên-nam oai đức) và “tidasānaṃ yasassinaṃ” nhấn mạnh danh tiếng và quyền lực của chúng Tāvatiṃsa.

Tâm thái của vị Thiên này phản ánh “diṭṭhi” chấp thủ vào dục lạc và “sassata-diṭṭhi” tiềm ẩn (coi thiên giới là bền vững).

Bài kệ thứ hai –

“Arahataṃ vaco” Đây là một trong những bài kệ nổi tiếng nhất về vô thường trong toàn bộ Tam tạng, xuất hiện nhiều lần (SN 15.20, DN 16 lúc Đức Phật viên tịch, v.v.).

“Aniccā sabbasaṅkhārā, uppādavayadhammino”: Tất cả các hành (saṅkhāra – mọi pháp hữu vi, bao gồm cả thân tâm cõi trời) đều có tự tánh sanh diệt.

“Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho”: Sau khi sanh thì diệt; sự tịch tịnh (vūpasama = niết bàn) của chúng mới thật sự là lạc.

Lời gọi “bāle” (kẻ ngu) rất thẳng thắn, cho thấy vị Thiên thứ hai đã chứng đắc (chú giải nói là vị Thiên nữ đã chứng Thánh quả). Đây là “lời của các bậc A-la-hán” – lời dạy chân thật, không nịnh bợ dục lạc.

Bài kệ của “các Bậc Ứng Cúng” nghĩa thực tiễn: Dục lạc cõi trời dù vi diệu đến đâu vẫn nằm trong vòng sanh diệt. Người tu hành nếu chấp thủ vào chúng sẽ tiếp tục luân hồi. Phật pháp nhấn mạnh Trung Đạo: không phủ nhận có lạc thiên giới, nhưng chỉ rõ bản chất vô thường của nó, và chỉ ra lạc tối thượng là sự tịch tịnh các hành. Đối với người tại gia và xuất gia: dù hưởng thụ cảnh giới tốt đẹp (sức khỏe, tài sản, danh vọng, thậm chí thiền chứng thế gian), vẫn phải luôn nhớ “aniccā sabbasaṅkhārā”.

(Nên lưu ý câu đầu của kệ ngôn quen thuộc: Ở đây Aniccā sabbasaṅkhārā  thay vì aniccā vata saṅkhārā. Sabba là tất cả. Vata là thán từ nghĩa là “Ôi” “Ô hay”. Chữ vata thường xuất hiện khi đọc lên trong trường hợp đặc biệt như khi Đức Phật viên tịch…)
Sớ Giải

11. nandanavaggassa paṭhame tatrāti tasmiṃ ārāme. khoti byañjanasiliṭṭhatāvasena nipātamattaṃ. bhikkhū āmantesīti parisajeṭṭhake bhikkhū jānāpesi. bhikkhavoti tesaṃ āmantanākāradīpanaṃ. bhadanteti pativacanadānaṃ. te bhikkhūti ye tattha sammukhībhūtā dhammapaṭiggāhakā bhikkhū. bhagavato paccassosunti bhagavato vacanaṃ patiassosuṃ, abhimukhā hutvā suṇiṃsu sampaṭicchiṃsūti attho. etadavocāti etaṃ idāni vattabbaṃ “bhūtapubban”tiādivacanaṃ avoca. tattha tāvatiṃsakāyikāti tāvatiṃsakāye nibbattā.
tāvatiṃsakāyo nāma dutiyadevaloko vuccati. maghena māṇavena saddhiṃ macalagāme kālaṃ katvā tattha uppanne tettiṃsa devaputte upādāya kira tassa devalokassa ayaṃ paṇṇatti jātāti vadanti. yasmā pana sesacakkavāḷesupi cha kāmāvacaradevalokā atthi. vuttampi cetaṃ “sahassaṃ cātumahārājikānaṃ sahassaṃ tāvatiṃsānan”ti (a. ni. 10.29), tasmā nāmapaṇṇattiyevesā tassa devalokassāti veditabbā. evañhi niddosaṃ padaṃ hoti.
Nandane vaneti ettha taṃ vanaṃ paviṭṭhe paviṭṭhe nandayati tosetīti nandanaṃ. pañcasu hi maraṇanimittesu uppannesu “sampattiṃ pahāya cavissāmā”ti paridevamānā devatā sakko devānamindo “mā paridevittha, abhijjanadhammā nāma saṅkhārā natthī”ti ovaditvā tattha pavesāpeti. tāsaṃ aññāhi devatāhi bāhāsu gahetvā pavesitānampi tassa sampattiṃ disvāva maraṇasoko vūpasammati, pītipāmojjameva uppajjati. atha tasmiṃ kīḷamānā eva uṇhasantatto himapiṇḍo viya vilīyanti, vātāpahatadīpasikhā viya vijjhāyantīti evaṃ yaṃkiñci anto paviṭṭhaṃ nandayati tosetiyevāti nandanaṃ, tasmiṃ nandane.
accharāsaṅghaparivutāti accharāti devadhītānaṃ nāmaṃ, tāsaṃ samūhena parivutā. Dibbehīti devaloke nibbattehi. pañcahi kāmaguṇehīti manāpiyarūpasaddagandharasaphoṭṭhabbasaṅkhātehi pañcahi kāmabandhanehi kāmakoṭṭhāsehi vā. samappitāti upetā. itaraṃ tasseva vevacanaṃ.
paricārayamānāti ramamānā, tesu tesu vā rūpādīsu indriyāni sañcārayamānā. tāyaṃ velāyanti tasmiṃ paricāraṇakāle. so panassa devaputtassa adhunā abhinibbattakālo veditabbo. tassa hi paṭisandhikkhaṇeyeva rattasuvaṇṇakkhandho viya virocayamāno tigāvutappamāṇo attabhāvo nibbatti. so dibbavatthanivattho dibbālaṅkārapaṭimaṇḍito dibbamālāvilepanadharo dibbehi candanacuṇṇehi samaṃ vikiriyamāno dibbehi pañcahi kāmaguṇehi ovuto nivuto pariyonaddho lobhābhibhūto hutvā lobhanissaraṇaṃ nibbānaṃ apassanto āsabhiṃ vācaṃ bhāsanto viya mahāsaddena “na te sukhaṃ pajānantī”ti imaṃ gāthaṃ gāyamāno nandanavane vicari. tena vuttaṃ — “tāyaṃ velāyaṃ imaṃ gāthaṃ abhāsī”ti.
Ye na passanti nandananti ye tatra pañcakāmaguṇānubhavanavasena nandanavanaṃ na passanti. naradevānanti devanarānaṃ, devapurisānanti attho. tidasānanti tikkhattuṃ dasannaṃ. yasassinanti parivārasaṅkhātena yasena sampannānaṃ. Aññatarā devatāti ekā ariyasāvikā devatā. paccabhāsīti “ayaṃ bāladevatā imaṃ sampattiṃ niccaṃ acalaṃ maññati, nāssā chedanabhedanaviddhaṃsanadhammataṃ jānātī”ti adhippāyaṃ vivaṭṭetvā dassentī “na tvaṃ bāle”ti imāya gāthāya patiabhāsi. yathā arahataṃ vacoti yathā arahantānaṃ vacanaṃ, tathā tvaṃ na jānāsīti. evaṃ tassā adhippāyaṃ paṭikkhipitvā idāni arahantānaṃ vacanaṃ dassentī aniccātiādimāha. tattha aniccā vata saṅkhārāti sabbe tebhūmakasaṅkhārā hutvā abhāvatthena aniccā. uppādavayadhamminoti uppādavayasabhāvā.
uppajjitvā nirujjhantīti idaṃ purimasseva vevacanaṃ. yasmā vā uppajjitvā nirujjhanti, tasmā uppādavayadhamminoti. uppādavayaggahaṇena cettha tadanantarā vemajjhaṭṭhānaṃ gahitameva hoti. tesaṃ vūpasamo sukhoti tesaṃ saṅkhārānaṃ vūpasamasaṅkhātaṃ nibbānameva sukhaṃ. idaṃ arahataṃ vacoti.
.

Trong bài kinh thứ nhất Phẩm Lạc Viên:

[1. Bối cảnh mở đầu và Ý nghĩa cõi Tam Thập Tam (Tāvatiṁsa)]

  • Tatrā (Tại đó): Nghĩa là trong khu tịnh xá ấy (tại rừng Jeta, tịnh xá Cấp Cô Độc).
  • Kho: Chỉ là một liên từ / hư từ (nipātamattaṃ) dùng để tạo sự lưu loát, uyển chuyển cho câu văn.
  • Bhikkhū āmantesi (Bảo các tỳ-khuư): nghĩa là Đức Thế Tôn báo cho những vị tỳ khưu đứng đầu hội chúng biết để chú ý.
  • Bhikkhavo (Này các tỳ khưu): Hình thức xưng hô, kêu gọi sự chú ý của thính chúng.
  • Bhadante (Bạch Thế Tôn): Lời cung kính hồi đáp của chư tỳ khưu.
  • Te bhikkhū (Những tỳ khưu ấy): Các vị tỳ khưu đang hiện diện trước mặt Đức Thế Tôn để tiếp nhận giáo pháp.
  • Bhagavato paccassosuṃ (Đáp lời Thế Tôn): Chư tỳ khưu hướng trọn vẹn tâm trí về phía Đức Thế Tôn, chăm chú lắng nghe và cung kính thọ nhận.
  • Etadavoca (Thuyết lời này): Đức Thế Tôn bắt đầu thuyết giảng bài pháp thoại với lời mở đầu: “Thuở xưa…” (bhūtapubbaṃ).

[Về danh xưng Tāvatiṁsakāyikā (Cõi trời Ba Mươi Ba):]

  • Tāvatiṁsakāyikā là các vị hóa sinh vào cõi Tam Thập Tam hay Đạo Lợi (Tāvatiṁsa - cõi trời thứ hai thuộc Dục giới).
  • Truyền thuyết giải thích rằng: Tên gọi cõi trời này bắt nguồn từ sự tích tiền kiếp của Thiên chủ Đế Thích (khi còn là thanh niên Magha) cùng 32 người bạn chí thân ở làng Macala, sau khi làm vô số phước thiện chung đã đồng thời thác sinh lên cõi này thành 33 vị thiên tử (tettiṁsa devaputte).
  • Tuy nhiên, vì trong vô lượng các thế giới (vũ trụ) khác cũng đều có đầy đủ 6 cõi trời Dục giới — như lời Phật dạy: “Ngàn cõi Tứ Thiên Vương, ngàn cõi Tam Thập Tam...” (A.x.29) — nên danh từ Tāvatiṁsa cần được hiểu chính xác là tên gọi định danh quy ước chuẩn mực cho tầng trời thứ hai này trong toàn thể vũ trụ.

[Ý nghĩa Lạc Viên (Nandana) và Tâm lý Chư thiên]

  • Nandane vane (Nơi hoa viên Nandana):
    • Nguyên nghĩa: Bất cứ ai hễ bước chân vào khu rừng hoa viên này đều cảm thấy hân hoan, thỏa mãn tột cùng (nandayati tosetīti nandanaṃ), do đó có tên là Nandana (Hoan Hỷ).
    • Tập tục giải tỏa nỗi sợ tử vong của chư thiên: Khi chư thiên sắp hết phước cõi trời, 5 điềm báo tử (pañca pubbanimittāni: vòng hoa héo úa, thiên y cáu bẩn, mồ hôi toát ra từ nách, thân thể mất quang sắc, không an trụ nổi trên ngai thiên bảo) xuất hiện. Họ buồn bã than khóc: “Chúng ta sắp phải lìa bỏ tất cả vinh hoa phước báu này mà đọa lạc sao!”. Khi ấy, Thiên chủ Sakka (Đế Thích) an ủi và nhắc nhở: “Chớ có than khóc! Các pháp hữu vi vốn dĩ không có pháp nào là bất hoại”, rồi cho người đưa họ vào hoa viên Nandana.
    • Ngay khi được các bạn thiên đưa vào hoa viên rực rỡ này, nhìn thấy cảnh sắc tuyệt mỹ, mọi nỗi thống khổ sầu muộn về cái chết lập tức tan biến, tâm họ chỉ còn ngập tràn niềm hỷ lạc. Họ mải mê vui đùa cho đến giây phút cuối cùng rồi tan biến/mạng chung êm dịu tựa như khối tuyết tan trước hơi nóng, như ngọn đèn tắt trước gió bão. Vì bất kỳ ai bước vào cũng được an lạc, hỷ duyệt nên nơi ấy gọi là Nandana.
  • Accharāsaṅghaparivutā (Được đoàn thiên nữ vây quanh): Accharā là danh xưng chỉ các nàng thiên nữ; cụm từ chỉ vị thiên tử được cả đoàn mỹ nữ cõi trời đoan trang hầu hạ chung quanh.

[ Sự đam mê ngũ dục và Cơn say phước báu]

  • Dibbehi (Thiên giới): Những gì tự nhiên hóa hiện thù thắng ở cõi trời.
  • Pañcahi kāmaguṇehi (Năm món dục lạc / Ngũ dục công đức): Năm sợi dây trói buộc của dục tham gồm: Sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái, thù diệu nơi cõi trời.
  • Samappitā: Được cung đốn đầy đủ trọn vẹn các món dục ấy.
  • Paricārayamānā (Vui hưởng/Thọ dụng): Thả các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) tự do rong chơi, đắm chìm trong các trần cảnh lạc thú.
  • Tāyaṃ velāyaṃ (Vào thời điểm ấy): Cần hiểu đây là khoảnh khắc vị thiên tử này vừa mới hóa sinh lên cõi trời.
    • Ngay sát-na tái sinh (paṭisandhikkhaṇa), do năng lực phước báu thù thắng kiếp trước, vị ấy lập tức hóa hiện thân tướng chư thiên to lớn 3 gāvuta (khoảng 9 – 12 km), thân thể chói sáng rực rỡ như một thỏi vàng ròng nguyên khối.
    • Thân vị ấy khoác thiên y lộng lẫy, đeo thiên trang sức, trang hoàng hoa trời, xức dầu thơm cõi trời, được rải bột phấn hương đàn hương tinh khiết.
    • Bị năm món dục lạc cõi trời vây bọc, che mờ tâm trí, hoàn toàn bị lòng tham ái (lobha) áp chế, không thể nhìn thấy Niết-bàn — cứu cánh giải thoát khỏi tham dục — vị thiên tử ấy tự mãn cất tiếng rống kiêu hãnh như tiếng rống của sư tử, hào sảng ngâm nga bài kệ xưng tụng cõi trời giữa vườn Nandana: “Họ chẳng biết đến niềm an lạc…”.

[Chú giải kệ ngôn của Thiên tử]

  • Ye na passanti nandanaṃ (Những ai chưa từng thấy vườn Nandana): Những kẻ chưa từng có cơ hội tận hưởng năm món dục lạc đệ nhất tại hoa viên Hoan Hỷ.
  • Naradevānaṃ (Chư thiên uy dũng): Các vị nam thần kiệt xuất, quyền quý nơi cõi trời.
  • Tidasānaṃ: Tikkhattuṃ dasannaṃ — Ba lần mười (33 vị đại thiên tôn của cõi Tam Thập Tam).
  • Yasassīnaṃ (Đầy vinh quang/Uy đức): Bậc thành tựu đại danh vọng, sở hữu đoàn tùy tùng thiên nữ đông đảo bao quanh.

[Chú giải kệ ngôn khai thị của Vị Thánh Thiên nhân]

  • Aññatarā devatā (Một vị thiên nhân khác): Đây là một vị thiên tử/thiên nữ đã chứng đắc quả vị Thánh đệ tử (Ariyasāvikā - bậc Nhập Lưu, Nhất Lai hoặc Bất Lai).
  • Paccabhāsī (Đáp lời): Vị Thánh thiên nhân này nhìn thấy tâm trạng của vị thiên tử mới sinh kia và khởi tâm từ bi: “Vị thiên nhân non dại này tưởng rằng sự giàu sang, phước lạc này là vĩnh cửu bất biến, mà không hề nhận ra bản chất của nó là bị chặt đứt, tan hoại và hủy diệt”. Để vạch trần ảo tưởng ấy, vị Thánh liền cất lời khiển trách: “Này kẻ ngu muội (bāla)...”.
  • Yathā arahataṃ vaco (Như lời các bậc A-la-hán dạy): Ngươi hoàn toàn mù tịt, không hề hay biết đến giáo lý chân lý mà chư Phật và các bậc A-la-hán đã chỉ dạy.

[Trọng tâm giáo nghĩa kệ ngôn: Aniccā vata saṅkhārā...]

  • Aniccā vata saṅkhārā (Vô thường thay các pháp hữu vi): Tất cả mọi pháp hữu vi (saṅkhāra) trong cả ba cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) đều là vô thường (anicca), vì chúng mang bản chất “vốn chưa từng có --->sinh khởi ---> rồi hoàn toàn biến mất” (hutvā abhāvatthena).
  • Uppādavayadhammino (Có tính sinh và diệt): Mang bản tánh luôn luôn sinh khởi (uppāda) rồi hoại diệt (vaya).
  • Uppajjitvā nirujjhanti (Đã sinh ra ắt phải diệt mất): Đây là sự nhấn mạnh khẳng định quy luật tất yếu. Khi nhắc đến hai đầu mút Sinh (uppāda) và Diệt (vaya), thì giai đoạn Trụ/Biến dị ở khoảng giữa (vemajjhaṭṭhāna / ṭhiti-jarā) mặc nhiên cũng đã được hàm chứa trong đó.
  • Tesaṃ vūpasamo sukho (Sự vắng bặt các hành mới là an lạc): Sự dập tắt, vắng lặng, tịch tĩnh hoàn toàn mọi pháp hữu vi sinh diệt ấy — đó chính là cảnh giới Niết-bàn (Nibbāna) — Niết-bàn mới chính là hạnh phúc chân thật và tối thượng, vượt qua mọi dục lạc mong manh của cõi trời. Đây chính là chân ngôn bất hủ của các bậc Ứng Cúng.

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

II. Phẩm Vườn Hoan Hỷ

I. Vườn Hoan Hỷ (Tạp 22.1, Ðại 2,153c) (S.i,5) (Tăng 31.9. Tứ Lạc, Ðại 2,672b) (Biệt Tạp 9.1, Ðại 2,435a)

Như vậy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn".

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị Thiên thuộc cõi trời Ba mươi ba, với chúng Thiên nữ vây quanh, du hí ở vườn Hoan Hỷ, thọ hưởng năm thiên dục công đức. Bây giờ, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này:

Chúng không biết đến lạc,
Nếu không thấy Hoan Hỷ,
Chỗ trú cả Trời, Người,
Cõi ba mươi lừng danh.

Ðược nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, một vị Thiên khác đáp vị Thiên ấy với bài kệ:

Kẻ ngu, sao không biết,
Vị Ứng cúng đã nói:
"Mọi hành là vô thường,
Tự tánh phải sanh diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Nhiếp chúng là an lạc."

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01