BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Chủ Nhật, ngày 16 tháng 08, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Phẩm Lạc Viên . SN. 1.12
BÀI 012. TÁNH PHỔ QUÁT CỦA VÔ THƯỜNG -

Kinh Vui Sướng (Nandatisutta) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-012.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngĐức Phật chỉ cho chúng ta thấy mặt bên kia của mọi niềm vui được xây dựng trên sự chấp thủ. Vị thiên nhìn đứa con thành đạt và thấy hạnh phúc; Đức Phật cũng nhìn đứa con ấy nhưng thấy thêm bệnh tật, chia lìa, biến đổi và cái chết — những điều mà không một tình thương thế tục nào có thể ngăn lại. Vì thế, vấn đề không phải là “có” hay “không có”, mà là tâm đã đặt bao nhiêu cái “tôi” và “của tôi” vào những gì mình đang có. Càng xem một điều là điều kiện không thể thiếu cho hạnh phúc của mình, ta càng trao cho sự vô thường của điều ấy quyền làm mình đau khổ. Bậc trí vẫn có thể thương yêu, chăm sóc và sống đầy trách nhiệm, nhưng biết rằng mọi cuộc hội ngộ đều do duyên, mọi sở hữu đều tạm thời và mọi pháp hữu vi đều phải đổi thay. . Khi không còn điều gì được nắm giữ bằng tham ái như “ta” và “của ta”, sự biến đổi của cuộc đời vẫn diễn ra, nhưng không còn đủ sức tạo nên sầu khổ trong một tâm đã hoàn toàn giải thoát.

Kinh Văn

Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi:“Nandati puttehi puttimā, Gomā gohi tatheva nandati; Upadhīhi narassa nandanā, Na hi so nandati yo nirūpadhī”ti.
“Socati puttehi puttimā, Gomā gohi tatheva socati; Upadhīhi narassa socanā, Na hi so socati yo nirūpadhī”ti.

Tại Sāvatthī. Đứng sang một bên, vị thiên ấy nói lên kệ ngôn này trước mặt Thế Tôn:

Có con, vui vì con,
Nuôi bò, vui đàn bò.
Sở hữu là vui sướng,
Tay trắng có chi vui?

[Đức Thế Tôn đáp:]

Có con, sầu vì con,
Nuôi bò, sầu vì bò.
Sở hữu là nguồn khổ,
Buông xả  dứt buồn lo.

Chú Thích

Kinh này thuộc nhóm đối thoại ngắn giữa một vị thiên (devatā) và Đức Phật. Bản song song quan trọng là SN 4.8 (Māra Nandatisutta), nơi chính Māra nói bài kệ đầu và Đức Phật đáp lại giống như vậy; sau đó Māra buồn bã biến mất. Cặp kệ này cũng xuất hiện ở cuối Sutta Nipāta 1.2 Dhaniyasutta (kệ 33–34). Như vậy đây là một cặp kệ cổ, mang tính phổ biến, được dùng để phản bác quan điểm thế tục về hạnh phúc.

Thuật ngữ Upadhi (sở y/ sanh y/ sở hữu / nền tảng / sự tích trữ) có nghĩa  gốc: từ upa + căn dhā (“đặt lên, dựa vào”) → “cái mà (sự tồn tại) dựa vào”, “nền tảng”, “đồ đạc”, “sở hữu”. Có hai phương diện: – Khách quan: tài sản, vợ con, bò dê, nhà cửa, vàng bạc… – Chủ quan: hành vi bám víu, sự chiếm hữu sinh từ tham ái (taṇhā). Sớ giải (Sāratthappakāsinī) phân tích bốn loại upadhi:

1.    Kāmūpadhi – dục lạc và tài sản vật chất (ý nghĩa mà vị thiên dùng).

2.    Khandhūpadhi – năm uẩn.

3.    Kilesūpadhi – các phiền não (nền tảng cho khổ ở ác đạo).

4.    Abhisaṅkhārūpadhi – các hành (kamma-saṅkhāra), nền tảng của toàn bộ khổ luân hồi.

Vị thiên dùng upadhi theo nghĩa thứ nhất (tài sản, con cái). Đức Phật cố ý đảo ngược hoàn toàn: nirūpadhi (không có sở y) trở thành danh hiệu của bậc A-la-hán đã đoạn tận cả bốn loại upadhi, nên hoàn toàn không còn sầu khổ.

Sớ giải (Atthakathā) tóm tắt

  • Nandati puttehi puttimā: Người có nhiều con vui sướng vì thấy con cái làm nông, buôn bán, hầu vua, mang lại của cải; hoặc thấy con trang điểm đẹp đẽ trong ngày hội.
  • Gomā gohi: Chủ bò vui vì thấy đàn bò đông đúc, nhờ đó có sữa, bơ, phô mai.
  • Vị thiên cho rằng không có những thứ này thì không vui (như người nghèo khó, gần như ngạ quỷ hay địa ngục nhân gian).

Đức Phật đáp lại bằng cách chỉ ra rằng chính những tư hữu ấy là nguyên nhân của sầu (sokavatthu): con cái có thể chết, bị cướp, bệnh tật, đi xa; bò cũng vậy (chín cách sầu vì bò). Dục lạc cũng tan biến như mũi tên đâm vào người (dẫn Sn 773). Chỉ bậc đã diệt tận lậu hoặc (khīṇāsava), không còn bốn upadhi, mới thật sự không sầu.
Sớ Giải

12. dutiye nandatīti tussati attamano hoti. puttimāti bahuputto. tassa hi ekacce puttā kasikammaṃ katvā dhaññassa koṭṭhe pūrenti, ekacce vaṇijjaṃ katvā hiraññasuvaṇṇaṃ āharanti, ekacce rājānaṃ upaṭṭhahitvā yānavāhanagāmanigamādīni labhanti. atha tesaṃ ānubhāvasaṅkhātaṃ siriṃ anubhavamānā mātā vā pitā vā nandati.
chaṇadivasādīsu vā maṇḍitapasādhite putte sampattiṃ anubhavamāne disvā nandatīti, “nandati puttehi puttimā”ti āha. gohi tathevāti yathā puttimā puttehi, tathā gosāmikopi sampannaṃ gomaṇḍalaṃ disvā gāvo nissāya gorasasampattiṃ anubhavamāno gohi nandati. upadhī hi narassa nandanāti, ettha upadhīti cattāro upadhī — kāmūpadhi, khandhūpadhi, kilesūpadhi, abhisaṅkhārūpadhīti. kāmāpi hi “yaṃ pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ kāmānaṃ assādo”ti (ma. ni. 1.166) evaṃ vuttassa sukhassa adhiṭṭhānabhāvato “upadhiyati ettha sukhan”ti iminā vacanatthena upadhīti vuccati. khandhāpi khandhamūlakassa dukkhassa adhiṭṭhānabhāvato, kilesāpi apāyadukkhassa adhiṭṭhānabhāvato, abhisaṅkhārāpi bhavadukkhassa adhiṭṭhānabhāvatoti. idha pana kāmūpadhi adhippeto.
pañca hi kāmaguṇā tebhūmikādipāsāda-uḷārasayana-vatthālaṅkāra- nāṭakaparivārādivasena paccupaṭṭhitā pītisomanassaṃ upasaṃharamānā naraṃ nandayanti. tasmā yathā puttā ca gāvo ca, evaṃ imepi upadhī hi narassa nandanāti veditabbā. na hi so nandati yo nirūpadhīti yo kāmaguṇasampattirahito daliddo dullabhaghāsacchādano, na hi so nandati.
evarūpo manussapeto ca manussanerayiko ca kiṃ nandissati bhagavāti āha. Idaṃ sutvā satthā cintesi — “ayaṃ devatā sokavatthumeva nandavatthuṃ karoti, sokavatthubhāvamassā dīpessāmī”ti phalena phalaṃ pātento viya tāyeva upamāya tassā vādaṃ bhindanto tameva gāthaṃ parivattetvā socatīti āha.
tattha socati puttehīti videsagamanādivasena puttesu naṭṭhesupi nassantesupi idāni nassissantīti nāsasaṅkīpi socati, tathā matesupi marantesupi corehi rājapurisehi gahitesu vā paccatthikānaṃ hatthaṃ upagatesu vā maraṇasaṅkīpi hutvā socati. rukkhapabbatādīhi patitvā hatthapādādīnaṃ bhedavasena bhinnesupi bhijjantesupi bhedasaṅkīpi hutvā socati.
yathā ca puttehi puttimā, gosāmikopi tatheva navahākārehi gohi socati. upadhī hi narassa socanāti yathā ca puttagāvo, evaṃ pañca kāmaguṇopadhīpi — “tassa ce kāmayānassa, chandajātassa jantuno.
te kāmā parihāyanti, sallaviddhova ruppatī”ti. (su. ni. 773) — vuttanayena naraṃ socanti. tasmā narassa socanā sokavatthukamevāti veditabbā. na hi so socati, yo nirūpadhīti yassa pana catubbidhāpete upadhiyo natthi, so nirupadhi mahākhīṇāsavo kiṃ socissati, na socati devateti.

Trong kinh thứ hai, nandatī nghĩa là vui thích, tâm ý hỷ lạc. Puttīmā nghĩa là người có nhiều con. Vì đối với người ấy, một số con làm nghề nông, đổ đầy kho lúa; một số con buôn bán, mang về vàng bạc; một số con hầu hạ vua, được xe cộ, voi ngựa, làng mạc, thị trấn… Do đó, mẹ hoặc cha vui thích khi thọ hưởng sự huy hoàng, quyền lực do các con mang lại. Hoặc trong những ngày lễ hội, nhìn thấy các con được trang điểm đẹp đẽ, đang thọ hưởng sự giàu sang, nên vui thích. Vì vậy vị thiên nói: “Người có con thì vui vì con”.

Gohi tathevā: Cũng như người có con vui vì con, vị chủ bò nhìn thấy đàn bò đông đúc, nhờ bò mà thọ hưởng sự sung túc về sữa, bơ… nên vui vì bò.

Upadhī hi narassa nandanā: Ở đây, upadhi là bốn loại sở hữu (upadhi):

1.    Kāmūpadhi – sở hữu dục lạc,

2.    Khandhūpadhi – sở hữu năm uẩn,

3.    Kilesūpadhi – sở hữu phiền não,

4.    Abhisaṅkhārūpadhi – sở hữu các hành (kamma).

Dục lạc cũng được gọi là upadhi, vì theo lời dạy: “Lạc và hỷ sinh khởi do nương năm dục công đức, đó là vị ngọt của dục” (MN 1.166 / M I 85), dục là chỗ nương tựa của lạc ấy. Năm uẩn cũng là upadhi vì là chỗ nương của khổ bắt nguồn từ uẩn. Phiền não cũng là upadhi vì là chỗ nương của khổ ác đạo. Các hành cũng là upadhi vì là chỗ nương của khổ hữu.

Nhưng ở đây, ý nghĩa được nhắm đến là kāmūpadhi. Vì năm dục công đức, hiện diện dưới hình thức lâu đài cao tầng, giường nằm sang trọng, y phục trang sức, đoàn vũ nữ hầu cận… mang lại hỷ lạc và hỷ thọ, làm cho người vui thích. Do đó, cũng như con cái và bò, các upadhi này cũng là niềm vui của con người, cần phải hiểu như vậy.

Na hi so nandati yo nirūpadhī: Người thiếu vắng sự sung túc về dục công đức, nghèo khổ, khó tìm được đồ ăn đồ mặc, người ấy không vui. Người như vậy giống như ngạ quỷ nhân gian và chúng sinh địa ngục nhân gian, làm sao có thể vui được, bạch Thế Tôn? – vị thiên nói như vậy.

Nghe xong, bậc Đạo Sư suy nghĩ: “Vị thiên này đang lấy chính đối tượng của sầu làm đối tượng của vui. Ta sẽ làm sáng tỏ bản chất đối tượng của sầu cho vị ấy.” Như người lấy quả này đánh rơi quả kia, Ngài dùng chính ví dụ ấy để phá tan luận điểm của vị thiên, đảo ngược bài kệ và nói socati (sầu).

Ở đây, socati puttehī: Người có con sầu khổ khi các con đi xứ khác, bị mất tích, đang mất, hoặc e sợ sẽ mất; cũng vậy khi các con chết, đang chết, bị cướp, bị quan quân bắt, hoặc rơi vào tay kẻ thù, e sợ cái chết; hoặc khi các con té từ cây, từ núi… bị gãy tay chân, đang gãy, hoặc e sợ sẽ bị gãy.

Cũng như người có con sầu vì con, vị chủ bò cũng sầu vì bò theo chín cách như vậy.

Upadhī hi narassa socanā: Cũng như con cái và bò, năm dục công đức (kāmūpadhi) cũng làm cho người sầu theo cách đã được nói:

“Nếu người đã sinh dục vọng, đang chạy theo dục, các dục ấy bị suy giảm, người ấy đau khổ như bị mũi tên đâm.” (Sn 773) Vì vậy, nỗi sầu của con người chính là dựa trên đối tượng của sầu, cần phải hiểu như vậy.

Na hi so socati yo nirūpadhī: Còn người nào không còn cả bốn loại upadhi, vị ấy là bậc Đại A-la-hán đã diệt tận lậu hoặc (mahākhīṇāsava), làm sao còn sầu được? Không sầu đâu, này Thiên tử!

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

II. Phẩm Vườn Hoan Hỷ

II. Vui Thích (Tạp 36.12,Ðại 2,263a) (S.i,6) (Biệt Tạp 8,11, Ðại 2,428a)

... Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Cha đối con vui thích ,
Chủ với bò vui thích,
Người sanh y, vui thích ,
Không sanh y, không vui.

(Thế Tôn):

Cha đối con sầu muộn ,
Chủ với bò sầu muộn,
Người sanh y, sầu muộn,
Không sanh y, không sầu.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01