|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 25 tháng 08, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 018. BIẾT TỰ TRỌNG - Kinh Lòng Tàm (Hirīsuttaṃ) .
Hầu hết chúng ta biết điều sai, nhưng vẫn làm; biết điều đáng hổ thẹn,
nhưng vẫn để nó xảy ra. Vị thiên hỏi không phải vì tò mò suông,
mà vì nhìn khắp thế gian thấy quá ít người thật sự lòng tàm kéo
lại. Tàm ở đây không phải mặc cảm, không phải sợ người ta bàn
tán. Tàm là tự trọng sâu: “Điều này không xứng với ta.” Giống
ngựa tốt vừa thấy bóng roi đã đổi hướng, người có tàm mạnh vừa
thấy bóng của điều bất thiện đã dừng, không đợi roi quất xuống
da, không đợi lời chê đã thành sự thật. Đức Phật dạy “ít”người
sống luôn có niệm. Ít người đi đến tận cùng khổ. Và chỉ những vị
ấy mới “vững bước trên đường gập ghềnh”. Thế gian vốn gồ ghề:
khen chê lẫn lộn, đúng sai chồng chéo, được mất bất thường.
Người chưa đoạn tận khổ đi trên mặt đất ấy thì nghiêng ngả theo
hoàn cảnh. Người đã đến bờ kia không cần thế gian phải bằng
phẳng mới an. Các vị không tạo nhân cho lời chê có thật; còn lời
vu cáo giả thì không ai tránh hết, kể cả bậc Thánh. An ổn của
các vị không nằm ở chỗ được khen, mà nằm ở chỗ không còn chỗ nào
trong tâm không có điều để tự trá.
Kinh Văn
Hirīnisedho puriso,
Hirīnisedhā tanuyā,
[Vị thiên hỏi:]
“Có người nào trên đời
[Đức Thê Tôn đáp:]
“Ít người với lòng tàm,
Hirīnisedho / hirīnisedhā: hiri +
nisedha. Hiri là tàm (hổ thẹn đạo đức, tự trọng nội tại, không
muốn làm điều hạ thấp phẩm giá mình). Nisedha là sự ngăn chặn,
chế ngự. Không phải xấu hổ xã hội thông thường, mà là “tâm tự
trọng không chịu làm điều ô uế”.
Nindaṃ apabodhati: ninda = lời khiển trách, chỉ trích. Apabodhati = thức tỉnh,
tránh xa, không để lời chê “rơi vào mình” (không tạo nhân để bị
chê).
Asso bhadro kasāmivā:
ngựa thuần
(bhadra, được huấn luyện tốt) tránh roi trước khi bị đánh. Hình
ảnh người có hiri chủ động tránh ác hạnh, không đợi bị khiển
trách mới dừng.
Tanuyā: ít ỏi, hiếm có (không phải “mảnh khảnh”).
Sadā satā:
luôn luôn có niệm (sati).
Antaṃ dukkhassa pappuyya: đã đạt đến
tận cùng khổ đau, tức A-la-hán (đã đoạn tận dukkha).
Caranti visame saman:
đi vững chải, đi
cân bằng giữa chỗ không đều (visama = gồ ghề, bất hòa, thế gian
đầy xung đột và khổ). Bậc đã giải thoát sống an nhiên, không bị
thế gian “gập ghềnh” làm dao động.
Sớ giải chú thích hình
ảnh ngựa: ngựa thuần tránh roi
bằng cách tuân
theo trước khi bị đánh. Cũng vậy, vị Tỳ khưu tỉnh giác không để
mười chỗ bị khiển trách (dasa-akkosavatthu) xảy ra với mình; vị
ấy “thức tỉnh và tránh xa lời khiển trách”.
(Bhūta-dasākkosavatthu là mười chỗ bị mắng nhiếc có thật — mười
đề tài người ta dùng để chửi, và lời chửi ấy có căn cứ (khác với
abhūtakkosa: vu khống không thật). Danh sách chuẩn lấy từ Luật
tạng, Pācittiya 2 (Omāsavāda – tội mắng nhiếc), gọi là dasa
akkosavatthūni:
1.
Jāti — chủng
tộc, giai cấp, nguồn gốc sanh
2.
Nāma — tên gọi
3.
Gotta — dòng họ,
tộc
4.
Kamma — nghề
nghiệp
5.
Sippa — kỹ năng
6.
Ābādha — bệnh
tật, tật nguyền
7.
Liṅga — tướng
mạo, đặc điểm thân (béo, gầy, lùn, cao…)
8.
Kilesa — phiền
não (tham, sân, si, ngu…)
9.
Āpatti /
adhigama — tội lỗi đã phạm, hoặc quả chứng (khen chê giả về đạo
quả)
10.
Akkosapada / hīna-ālapana — cách gọi hạ tiện (“đồ lừa, đồ chó, đồ súc…”)
Sớ SN 1.18 nói vị Tỳ khưu — đặc biệt vị khīṇāsava — “không để
mười chỗ bị mắng nhiếc có thật rơi vào mình”. Nghĩa là:
Vì vậy “tránh lời chê như ngựa tốt tránh roi” không phải cầu
thế gian hết miệng, mà là không tạo nhân cho lời chê chính đáng.
Roi thật thì ngựa thuần không để
rơi vào mình; roi giả thì có lúc vẫn vung, nhưng không
làm ngựa mất bước.)
Sớ giải nhấn mạnh hiri là một trong hai “pháp hộ trì thế gian”
(lokapāla) cùng với ottappa (quý, sợ hậu quả). Hiri hướng nội:
“Điều này không xứng với ta, không xứng với phẩm hạnh người
thiện”. Ottappa hướng ngoại: sợ bị chê, sợ quả báo, sợ tổn hại
người khác.
Vị thiên hỏi vì thấy thế gian phần lớn sống không tàm, nên
thắc mắc liệu còn ai bị tàm chế ngự thật sự. Đức Phật xác nhận
có, nhưng rất ít: những người luôn chánh niệm, và đặc biệt những
vị đã đến tận cùng khổ (A-la-hán). Chỉ bậc đã đoạn lậu hoặc mới
“đi đều giữa chỗ không đều” một cách hoàn toàn.
Hiri thuộc 25 thuộc tánh tịnh hảo (sobhana cetasika). Pháp nầy
cùng ottappa ngăn không cho bất thiện sanh khởi. Kinh AN 2.9 nói
nếu không có hai pháp này thì thế gian sẽ không còn phân biệt
mẹ, chị, thầy… như loài thú.
Sớ Giải
18. aṭṭhame hirīnisedhoti hiriyā akusale dhamme
nisedhetīti hirīnisedho. koci lokasmiṃ vijjatīti koci evarūpo
vijjatīti pucchati. yo nindaṃ apabodhatīti yo garahaṃ apaharanto
bujjhati. asso bhadro kasāmivāti yathā bhadro assājānīyo kasaṃ
apaharanto bujjhati, patodacchāyaṃ disvā saṃvijjhanto viya
kasāya attani nipātaṃ na deti, evameva yo bhikkhu bhūtassa
dasākkosavatthuno attani nipātaṃ adadanto nindaṃ apabodhati
apaharanto bujjhati, evarūpo koci khīṇāsavo vijjatīti pucchati.
abhūtakkosena pana parimutto nāma natthi. tanuyāti tanukā,
hiriyā akusale dhamme nisedhetvā carantā khīṇāsavā nāma appakāti
attho.
Trong bài kinh thứ tám:
Thuật ngữ hirīnisedho (người chế ngự bằng lòng hổ thẹn)
nghĩa là người dùng tâm tàm (hiri) để ngăn chặn, dập tắt
các pháp bất thiện.
Cụm từ koci lokasmiṃ vijjati (có người nào trong đời
chăng): Vị thiên nhân đặt câu hỏi rằng liệu có một bậc trượng
phu có phẩm hạnh như thế tồn tại trên cõi đời này hay không.
Cụm từ yo nindaṃ apabodhati (người thức tỉnh gạt bỏ lời
chê bai): Nghĩa là người luôn tỉnh giác nhận biết và xua tan,
gạt bỏ mọi sự khiển trách, quở phạt (garaha).
Cụm từ asso bhadro kasāmiva (như con tuấn mã tránh ngọn
roi): Ví như con tuấn mã thuần chủng giống nòi (assājānīya),
chỉ cần thấy bóng dáng của ngọn roi vung lên (patodacchāya)
là lập tức kinh cảm thức tỉnh, bước đi chuẩn xác, tuyệt đối
không để ngọn roi da giáng xuống thân mình; cũng tương tự như
thế, vị Tỳ khưu nào không để mười nguyên nhân khiển trách (bhūta-dasākkosavatthu)
xảy ra cho bản thân, biết thức tỉnh và đoạn trừ mọi lời khiển
trách—vị thiên nhân muốn hỏi: Có bậc Lậu tận (Khīṇāsava –
A-la-hán) nào đạt đến trình độ như thế tồn tại chăng?
Ghi chú phụ thêm: Còn đối với sự chửi mắng, phỉ báng không có thật (vu khống vô
căn cứ), thì trên thế gian này tuyệt nhiên không một ai có thể
hoàn toàn thoát khỏi (kể cả Đức Phật toàn giác).
Từ tanuyā tức là ít ỏi (tanukā): Ý chỉ rằng các
bậc Lậu tận sống đời ngăn trừ các ác bất thiện pháp nhờ tâm tàm
quý quả thật là vô cùng hiếm hoi (appakā).
Cụm từ sadā satā (luôn luôn chánh niệm): Nghĩa là các
bậc ấy luôn luôn thành tựu sự sung mãn, tràn đầy của chánh niệm
(sativepulla) trong mọi lúc, mọi oai nghi.
Cụm từ antaṃ dukkhassa pappuyya (đạt đến chỗ tận cùng
của khổ): Nghĩa là sau khi đã chứng đắc Niết-bàn (Nibbāna),
vốn là điểm mút tột cùng chấm dứt toàn bộ nỗi khổ luân hồi (vaṭṭadukkha).
Những phần còn lại đều đã được giải thích theo cùng phương
pháp như đã nói trước đây.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập I - Thiên Có Kệ
[01] Chương I
Tương Ưng Chư Thiên
II. Phẩm Vườn Hoan Hỷ
VIII. Tàm Quý (S.i,7)
Người được tàm chế ngự,
Bài học lưu trữ Bài học lưu trữ năm 2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01 Bài học lưu trữ năm 2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01
Bài học lưu trữ năm
2024- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2023- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2022- |
|