|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 29 tháng 08, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
BÀI 020. CHỚ ĐỢI ĐẾN GIÀ… - Kinh Samiddhi (Samiddhisuttaṃ) .
Một Tỳ khưu trẻ vừa tắm xong, thân còn ướt, đang đứng phơi nắng. Chính lúc
ấy, một vị thiên,
thì thầm một lời nghe như hợp lý: hãy hưởng trước, rồi mới khất
thực; đừng để thời gian trôi qua. Lời ấy không thô thiền. Nó
khéo, nó gần, nó đánh đúng chỗ mềm nhất của tuổi trẻ: cảm giác
rằng đời đang tươi, thân đang đẹp, và “bây giờ” mới là thật. Tôn
giả Samiddhi không tranh luận dài. Ngài chỉ nói một câu đủ làm
cả lời dẫn dắt tắt tiếng: “Ta không biết thời gian là gì. Thời
gian bị ẩn giấu, không thể thấy được.” Đó không phải sự lạnh
lùng của kẻ chán đời, mà là tuệ thấy rõ ràng. Thời gian mà người
đời gọi là “còn kịp hưởng” chính là cái không nắm được. Ai đợi
hưởng xong rồi mới tu, thường chẳng còn gì để tu. Vì vậy ngài đi
khất thực trước khi hưởng: không phải vì khinh thường hạnh phúc,
mà vì không chịu để một khoảnh khắc bị đánh tráo thành sự trì
hoãn.
Kinh Văn
20. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ
bhagavā rājagahe viharati tapodārāme. atha kho āyasmā samiddhi
rattiyā paccūsasamayaṃ paccuṭṭhāya yena tapodā tenupasaṅkami
gattāni parisiñcituṃ. tapode gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā
ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno. atha kho aññatarā
devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ tapodaṃ
obhāsetvā yena āyasmā samiddhi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
vehāsaṃ ṭhitā āyasmantaṃ samiddhiṃ gāthāya ajjhabhāsi — “abhutvā
bhikkhasi bhikkhu, na hi bhutvāna bhikkhasi.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Vương Xá (Rājagaha), ở Tịnh xá Suối Nóng
(Tapodārāma).
Bấy giờ Tôn giả Samiddhi, vào lúc đêm gần tàn , thức dậy đi đến suối nóng
để tắm rửa thân thể. Sau khi tắm xong, bước lên bờ, Tôn giả đứng
chỉ đắp một y, làm khô tứ chi.
Rồi một vị thiên nữ có dung sắc tuyệt đẹp, chiếu sáng toàn vùng suối nóng,
khi đêm đã sâu, đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, vị ấy đứng
giữa hư không và nói lên bài kệ với Tôn giả:
Chưa hưởng, sao
khất thực?
Tôn giả Samiddhi
đáp: Thời hạn ta không biết,
Vị thiên nữ ấy đáp xuống đất và nói với Tôn giả Samiddhi:
“Này Hiền giả, ta không từ bỏ cái hiện tiền để chạy theo cái phải chờ thời
gian. Chính ta từ bỏ cái phải chờ thời gian để chạy theo cái
hiện tiền. Vì Thế Tôn đã tuyên bố: các dục lạc là cái phải chờ
thời gian, đầy khổ đau, đầy tuyệt vọng, và nguy hiểm còn lớn hơn
nữa; còn Pháp này là hiện tiền (sandiṭṭhika), vượt ngoài thời
gian (akālika), đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được
bậc trí tự mình chứng nghiệm.”
Vị thiên nữ hỏi lại ý nghĩa chi tiết của lời dạy ấy. Samiddhi khiêm tốn
đáp mình mới xuất gia, chưa đủ khả năng giảng rộng, và khuyên vị
thiên đến hỏi trực tiếp Thế Tôn. Vị thiên nói khó tiếp cận vì
Thế Tôn được các thiên có đại uy lực vây quanh, nên đề nghị
Samiddhi hỏi thay và mình sẽ theo nghe.
Samiddhi đến đảnh lễ Thế Tôn, tường thuật toàn bộ cuộc đối thoại, và nói:
“Nếu lời vị thiên ấy đúng, thì vị ấy đang ở gần đây.” Ngay lúc
đó vị thiên hiện ra và nói: “Hãy hỏi đi, Tỳ khưu! Hãy hỏi đi! Ta
đã đến rồi.”
Chúng sanh nương
danh tưởng,
Liễu tri điều
khả thuyết,
Vị thiên chưa
hiểu rõ, xin giảng rộng hơn. Thế Tôn tiếp:
Nghĩ bằng, hơn
hay kém, Tính lường đều buông bỏ,
Trời người dù
tìm kiếm,
Kết sử đều đoạn
tận,
Vị thiên cuối
cùng hiểu và tóm tắt ý nghĩa:
Chớ tạo điều bất
thiện, Tỉnh giác trong hiện tại,
Chú thích
Tôn giả Samiddhi hiểu kāla
theo nghĩa “thời điểm cái chết” hoặc “cơ hội tu tập”. Thời gian chết thì
ẩn giấu, không ai biết trước được. Vì vậy phải tinh tấn ngay,
không chờ hưởng thụ trước. Đây là thái độ của người xuất gia
chân chính: thấy sự vô thường của thân và cơ hội giải thoát là
cấp thiết.
Đây là sự đối lập kinh điển giữa kāmā (dục lạc) và Dhamma. Kālika: cái quả
phải chờ thời gian mới chín (nghiệp quả dục lạc). Sandiṭṭhika –
akālika: Pháp có thể thấy ngay trong đời này, không cần chờ đời
sau. Câu trả lời của Tôn giả Samiddhi cho thấy vị ấy đã nắm vững
tinh thần “Pháp hiện tiền” dù còn trẻ và mới xuất gia.
Chữ Akkheyya (từ căn
khyā = nói, kể)
nghĩa là “cái có thể được gọi tên, diễn đạt bằng ngôn ngữ”. Theo Sớ giải
(Sāratthappakāsinī), đây chính là năm uẩn – đối tượng của sự đặt
tên và khái niệm. Chúng sanh phàm phu nhận thức thế giới qua
ngôn ngữ (“ta”, “người”, “đẹp”, “xấu”…), rồi chấp trước vào đó
như là thực thể. Không liễu tri bản chất giả danh của ngôn ngữ
và đối tượng, chúng bị trói buộc trong sanh tử. Bậc A-la-hán đã
thấy rõ năm uẩn chỉ là danh-sắc duyên khởi, không còn chấp thủ
“người nói” hay “cái được nói”. Do đó không còn gì để mô tả vị
ấy bằng khái niệm thông thường.
Ba loại mạn này là gốc của mọi tranh chấp và chấp ngã. Người đã đoạn mạn
thì không còn dao động bởi sự so sánh.
“Từ bỏ sự tính toán”
(saṅkhāṃ pahāya)
nghĩa là không còn đặt tên, phân loại,
khái niệm hóa. “Cắt đứt tham ái đối với danh-sắc” là đoạn tận ái
và thủ đối với năm uẩn. Bậc như vậy đã vượt khỏi tầm tìm kiếm
của cả thiên lẫn nhân, vì không còn “ai” để tìm, không còn “chỗ”
để trú.
Bài kệ cuối của vị thiên
chính là sự tóm lược Bát Chánh Đạo ở mức độ căn bản:
Sớ giải ghi nhận rằng sự hiểu biết của vị thiên đã bao hàm sơ khởi toàn bộ
Bát Chánh Đạo. Nếu vị ấy tiếp tục hành trì theo sự hiểu ấy, sẽ
tiến đến các quả vị cao hơn.
Kinh Samiddhi là một cuộc đối thoại điển hình giữa xuất gia trẻ và thiên
nữ dụ dỗ, rồi được Thế Tôn nâng lên thành bài pháp sâu sắc về:
1.
Sự cấp thiết của việc tu tập vì thời
gian chết ẩn giấu.
2.
Sự đối lập giữa dục lạc “kālika” và
Pháp “sandiṭṭhika – akālika”.
3.
Bản chất giả danh của ngôn ngữ và năm
uẩn (akkheyya).
4.
Sự đoạn tận mạn và ái đối với danh-sắc,
dẫn đến trạng thái không còn gì để mô tả của bậc A-la-hán.
Tôn giả Samiddhi tuy còn mới xuất gia nhưng đã có chánh kiến vững vàng,
biết khiêm tốn và biết hướng dẫn vị thiên đến với bậc Đạo Sư.
Đây là tấm gương cho hàng xuất gia trẻ: giữ vững chí hướng giải
thoát ngay từ buổi ban đầu, không bị lung lay bởi dục lạc hiện
tiền.
20. dasame tapodārāmeti tapodassa
tattodakassa rahadassa vasena evaṃ laddhanāme ārāme.
vebhārapabbatassa kira heṭṭhā bhummaṭṭhakanāgānaṃ
pañcayojanasatikaṃ nāgabhavanaṃ devalokasadisaṃ maṇimayena
talena ārāmuyyānehi ca samannāgataṃ. tattha nāgānaṃ kīḷanaṭṭhāne
mahāudakarahado, tato tapodā nāma nadī sandati kuthitā uṇhodakā.
kasmā panesā edisā? rājagahaṃ kira parivāretvā mahāpetaloko
tiṭṭhati, tattha dvinnaṃ mahālohakumbhinirayānaṃ antarena ayaṃ
tapodā āgacchati, tasmā kuthitā sandati. vuttampi cetaṃ —
“yatāyaṃ, bhikkhave, tapodā sandati, so daho acchodako sītodako
sātodako setodako suppatittho ramaṇīyo pahūtamacchakacchapo,
cakkamattāni ca padumāni pupphanti. apicāyaṃ, bhikkhave, tapodā
dvinnaṃ mahānirayānaṃ antarikāya āgacchati, tenāyaṃ tapodā
kuthitā sandatī”ti (pārā. 231).
Trong bài kinh thứ mười:
Tapodārāme (Tại vườn Suối
Nước Nóng):
Đây là tu viện có tên gọi như vậy xuất
phát từ hồ nước nóng có tên là Tapoda (nước nóng chảy). Tương
truyền, phía dưới núi Vebhāra (núi Tỳ-phú-la) có cung điện của
loài rồng (Nāga) địa cư rộng 500 do-tuần (yojana), nguy nga như
cõi trời với mặt nền lát bằng ngọc báu, có các hoa viên và công
viên. Tại khu vui chơi của chư long có một hồ nước lớn, từ đó
chảy ra một con sông nước sôi sùng sục gọi là Tapodā. Vì sao
nước lại nóng như vậy? Tương truyền, bao quanh thành Vương Xá
(Rājagaha) là một cõi ngạ quỷ (petas) rộng lớn; con sông Tapodā
này chảy xuyên qua khoảng giữa hai chảo địa ngục bằng đồng nung
đỏ khổng lồ (Lohakumbhi), do đó nước chảy ra sôi sục.
Lời Phật dạy (Luật Tạng - Pārājika 231): "Này các Tỳ-kheo, nơi xuất phát
của dòng sông Tapodā là một hồ nước trong vắt, mát lành, ngọt
ngào, tinh khiết, bờ bến phẳng lặng, khả ái, có nhiều cá và rùa,
hoa sen nở to bằng bánh xe. Thế nhưng, dòng sông này chảy qua
khoảng giữa hai đại địa ngục, do đó mà nước sông Tapodā sôi sùng
sục."
Trước mặt tu viện này hình thành một hồ nước lớn từ nguồn sông ấy, và do
đặc điểm này mà tu viện được gọi là Tapodārāma.
Samiddhi:
Tương truyền thân tướng của trưởng lão rất hoàn hảo, xinh đẹp và khả ái
(samiddha), vì thế ngài có tên là Samiddhi (Tựu Hạnh / Thành
Tựu).
Gattāni parisiñcituṃ (Để dội
nước / tắm rửa thân thể): Ngài là một vị tỳ-kheo tinh cần hành thiền (padhānika). Thức dậy vào lúc
rạng đông sớm nhất, điều hòa thân thể sau khi thức dậy, ngài đi
kinh hành qua lại trên con đường kinh hành dài 60 hắc tay
(khoảng 30 mét) ở ngoài trời. Nghĩ rằng: "Nếu ngồi vào chỗ
nằm/chỗ ngồi với thân thể còn đẫm mồ hôi thì trú xứ sẽ bị nhơ
bẩn", ngài liền đi đến để dội rửa thân thể.
Ekacīvaro aṭṭhāsi (Đứng quấn
một lớp y):
Ngài mặc y nội (y lót dưới), thắt dây
lưng, tay cầm y vai trái (y thượng) và đứng đó.
Gattāni pubbāpayamāno (Hong
khô thân thể):
Tức là làm cho thân thể ráo nước trở
lại trạng thái trước khi ướt. Bởi vì khoác y thượng lên một cơ
thể còn ướt sẽ làm dơ bẩn y và sinh mùi hôi, điều đó không đúng
oai nghi (vatta). Vị trưởng lão là người trọn vẹn oai nghi, nên
giữ đúng giới hạnh tắm xong, bước lên và đứng hong khô.
Oai nghi tắm của Tỳ-kheo
(Nhānavatta):
Khi đến bến nước, không được cởi y ném
bừa bãi rồi lập tức lao xuống nước. Phải nhìn quanh bốn phía,
biết rõ nơi vắng vẻ, để ý cọc nhọn hay bụi rậm, hắng giọng ba
tiếng; đứng khom người cởi y vai trái trải ra, tháo dây lưng đặt
ngay trên mặt y. Nếu không có y tắm mưa, ngồi xổm ở mép nước cởi
y nội; nếu có chỗ khô ráo thì trải ra, nếu không thì xếp gọn
lại. Khi bước xuống nước, bước từ từ đến ngang rốn, không tạo
sóng lớn, không gây tiếng động, xoay mặt về hướng vừa đi tới rồi
mới lặn xuống – như thế y phục được bảo hộ. Khi trồi lên cũng
không gây tiếng ồn, bước lên ngồi xổm bên mép nước quấn y nội
quanh thân, đứng dậy mặc cho tròn trịa trang nghiêm, thắt dây
lưng, rồi mới đứng hong khô mà chưa vội khoác y thượng.
Khi tắm nước nóng xong và đứng nhìn nước ráo dần trên thân, do sắc diện
vốn đã khả ái, lại thêm thức ăn ban đêm đã tiêu hóa hoàn toàn
vào lúc rạng đông, dung nhan ngài rạng rỡ tột bực, khuôn mặt
sáng rỡ như quả thốt nốt vừa rụng cuống, như trăng rằm, như hoa
sen vừa nở, sắc thân tỏa sáng trong trẻo.
Lúc ấy, một vị địa thần cư ngụ trong lùm cây nhìn thấy vị Tỳ-kheo khả ái,
không kềm chế được lòng tham dục, bị nhiệt não dục vọng thiêu
đốt. Với ý nghĩ "Ta sẽ quyến rũ vị trưởng lão này", vị thần tự
trang điểm lộng lẫy, tỏa ánh sáng như ngọn đèn ngàn bấc, như ánh
trăng nhô lên rọi sáng toàn bộ tu viện, tiến đến đứng lơ lửng
giữa hư không mà không đảnh lễ ngài, rồi đọc bài kệ.
Abhutvā (Chưa hưởng thọ):
Không thọ hưởng năm dục công đức (kāmaguṇa).
Mā taṃ kālo upaccagā (Chớ để
thời gian trôi qua uổng phí):
"Thời gian" ở đây thiên thần ám chỉ thời kỳ thanh xuân tươi trẻ, thích hợp
để hưởng thụ ngũ dục. Khi đã già nua cằn cỗi, lưng còng, chống
gậy, run rẩy, bị ho hen chi phối thì không thể nào hưởng dục
được nữa.
Kālaṃ vohaṃ na jānāmi (Ta
không biết thời gian):
Đại đức nói về "thời gian của cái chết"
(maraṇakāla). Bởi vì trong thế gian:
"Thọ mạng, bệnh tật, thời điểm chết, nơi gửi xác, và cảnh giới tái sinh:bNăm điều này của chúng sinh trong cõi đời là hoàn toàn
không có dấu hiệu báo trước, không thể biết trước."
Channo kālo na dissati (Thời
gian bị che giấu chẳng thấy được): Thời
điểm cái chết hoàn toàn bị che khuất đối với ta.
Mā maṃ kālo upaccagā (Chớ để
thời gian trôi qua ta):
Ngài Samiddhi dùng chữ "thời gian" với
nghĩa là
thời gian hành Sa-môn pháp. Lúc già yếu không
thể học thuộc lời Phật dạy, không thể thọ trì đầu-đà (dhutaṅga),
không thể sống nơi rừng vắng, không thể nhập định tùy ý, không
thể trùng tụng hay thuyết giảng; chỉ khi còn trẻ trung mới làm
tròn những việc này.
Pathaviyaṃ patiṭṭhitvā (Đứng
trên mặt đất):
Vị thiên thần nghe ngài nói phân định
rõ đúng thời và phi thời cho đời sống phạm hạnh một cách có lý
lẽ và lợi ích, liền sinh lòng hổ thẹn (hiri), tôn kính ngài như
Đại Phạm Thiên hay ngọn lửa rực sáng, nên hạ từ hư không xuống
mặt đất.
Tâm lý chư thiên:
Đa phần chư thiên chưa thấy chân lý, chưa hết tham ái thường nghĩ rằng:
"Các Tỳ-kheo từ bỏ dục trần gian để mong cầu dục lạc cõi trời
đời sau." Vì thế vị thần coi dục trần là Sandiṭṭhika (hiện tiền,
thấy liền) và phước báo tu tập là Kālika (phải đợi thời gian
kiếp sau).
Cái thấy của Trưởng lão:
Akkheyyasaññino (Chấp thủ
danh xưng / thi thiết):
Ngũ uẩn (Pañcakkhandha) chính là căn
nguyên của mọi lời diễn đạt, danh xưng (akkheyya) như "trời,
người, cư sĩ, xuất gia, người này, người kia". Kẻ phàm phu khởi
tưởng trên ngũ uẩn rằng có "tự ngã, người, nam, nữ", đó là
akkheyyasaññino.
Akkheyyasmiṃ patiṭṭhitā (An
trú trong định chế):
Bám chặt vào ngũ uẩn qua 8 cách: tham
ái, sân hận, si mê, tà kiến, tùy miên, ngã mạn, hoài nghi, trạo
cử.
Akkheyyaṃ apariññāya (Không
liễu tri danh xưng ngũ uẩn): Không thấu suốt ngũ uẩn qua
Ba phép Liễu Tri:
1.
Tuệ biến tri (Ñātapariññā): Phân biệt rõ từng uẩn qua Đặc tính, Bản chất/Phận sự, Biểu hiện, Nhân cận
(lakkhaṇa-rasa-paccupaṭṭhāna-padaṭṭhāna).
2.
Thẩm sát biến tri (Tīraṇapariññā): Quán chiếu ngũ uẩn qua 42 tướng vô thường, khổ não, bệnh tật, vô ngã...
3.
Đoạn trừ biến tri (Pahānapariññā): Dùng Đạo tối thượng (A-la-hán đạo) đoạn tận hoàn toàn dục tham đối với
ngũ uẩn.
Akkhātāraṃ na maññati (Không
chấp có kẻ nói / Không khởi tưởng về tác giả):
Vị A-la-hán sau khi liễu tri ngũ uẩn thì không còn thấy có một "chủ
thể/con người" thực thụ nào để gọi tên (akkhātabba).
Tīsu vidhāsu (Trong ba sự
phân biệt mạn): "Vidhā" ở đây chính là Mạn (Māna), gồm 3
loại căn bản (và phân nhánh thành 9 loại ngã mạn): Thấy mình hơn
người (seyyo), bằng người (sadiso), hay kém người (hīno). Vị vô
lậu bất động (avikampamāna) trước các mạn này.
Pahāsi saṅkhaṃ (Đoạn bỏ tính
toán / định chế): "Saṅkhā" ở đây là chế định khái niệm
(paṇṇatti). Vị A-la-hán đã vứt bỏ các chế định phàm tục như "kẻ
đắm nhiễm, kẻ sân hận, kẻ si mê".
Na vimānamajjhagā:
Không đi vào sự kiêu mạn (māna); hoặc "vimāna" nghĩa là thai tạng người
mẹ, tức vị ấy không còn đi vào sự tái sinh (paṭisandhi) trong
tương lai nữa.
Chinnaganthaṃ (Đoạn đứt thắt
buộc):
Chặt đứt 4 trói buộc (kāyagantha: tham,
sân, giới cấm thủ, chấp thủ chân lý).
Sabbanivesanesu (Khắp các
cảnh giới trú xứ): Dù
tìm khắp 3 cõi, 4 loài sinh (yoni), 5
nẻo luân hồi (gati), 7 thức trú, 9 hữu tình cư, chư thiên dùng
thiên nhãn cũng không thể thấy được tâm thức của bậc A-la-hán
sau khi thân hoại mạng chung.
Vị thiên sau khi nghe xong đã chứng đắc quả Dự lưu (Sotāpattiphala) và
thốt kệ theo hai phương diện:
Vị thiên hoan hỷ vì đã thấu triệt Con đường Trung đạo (Majjhimā paṭipadā)
lìa bỏ hai cực đoan, cúng dường hương hoa lên Đức Thế Tôn, đi
nhiễu bên phải rồi cung kính lui về cõi trời.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập I - Thiên Có Kệ
[01] Chương I
Tương Ưng Chư Thiên
II. Phẩm Vườn Hoan Hỷ
X. Samiddhi (Tạp
38.17, Ðại 2,281c) (S.i,8) (Biệt Tạp I.17) Ðại 2,379a)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vương Xá tại Tapodàràma (Tịnh xá Suối nước
nóng).
2) Tôn giả Samiddhi, khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến suối
nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi
suối nước nóng, Tôn giả đứng, đắp một tấm y để phơi tay chân cho
khô.
3) Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng,
chói sáng toàn vùng suối nước nóng, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau
khi đến, đứng giữa hư không, nói lên bài kệ với Tôn giả
Samiddhi:
Không hưởng, Ông khất thực,
(Samiddhi):
Thời Ông, ta không biết.
4) Rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:
-- Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc
còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi
đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng
các ái dục của người đời. Chớ có bỏ hiện tại mà chạy theo những
gì bị thời gian chi phối.
5) -- Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những gì
bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị
thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Hiền giả, Thế Tôn
đã nói, các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều
phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp
này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà
thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác
hiểu.
6) -- Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị
thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở
đấy càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này,
không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng
thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?
7) -- Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không
bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông pháp và luật
này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Ràjagaha
(Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi đến Thế
Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy
như vậy thọ trì.
8) -- Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc
Thế Tôn ấy, một bậc được chư Thiên khác, có đại uy lực đoanh
vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn ấy và hỏi ý nghĩa
này, chúng tôi có thể đến để nghe pháp.
9) -- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Samiddhi vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi
đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
10) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi đêm đã gần tàn, con thức dậy
và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa
tay chân, ra khỏi suối nước nóng, con đứng đắp một tấm y để phơi
tay chân cho khô. Bạch Thế Tôn, rồi một vị Thiên, sau khi đêm
vừa mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng nước nóng,
đi đến con, sau khi đến, đứng giữa hư không và nói lên bài kệ
này:
"Không hưởng, Ông khất thực,
11) Khi nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời với vị Thiên ấy
bằng bài kệ:
"Thời Ông, ta không biết,
12) Bạch Thế Tôn, rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với
con:
"-- Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu,
tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của
tuổi đời, Ông không thọ hưởng các dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ
hưởng các dục lạc của người đời. Chớ có bỏ hiện tại để chạy theo
những gì bị thời
gian chi phối."
13) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
"-- Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị
thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị
thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Những gì thuộc thời
gian, này Hiền giả, là các dục, được nói đến là nhiều khổ đau,
nhiều phiền não (upàyàsa), nguy hiểm ở đấy lại nhiều hơn. Còn
pháp này thuộc hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà
thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác
hiểu."
14) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
"-- Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị
thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở
đây càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này
không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng
thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?"
15) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
"-- Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không
bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông về pháp và
luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở
Ràjagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi
đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế
nào, hãy như vậy thọ trì."
16) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
" -- Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế
Tôn ấy, một bậc được các chư Thiên khác có đại uy lực đoanh vây.
Này Tỷ-kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn và hỏi ý nghĩa ấy,
chúng tôi cũng sẽ đến và nghe pháp."
-- Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói sự thật, thời vị ấy ở đây,
không xa bao nhiêu.
17) Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Samiddhi như
sau:
-- Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Tôi đã đến rồi.
18) Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị Thiên ấy:
Chúng sanh được hiểu biết,
19) -- Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế
Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những
điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
(Thế Tôn):
20)
Bằng, thắng hay thua Ta,
21) -- Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế
Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những
điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
22) (Thế Tôn):
Hãy từ bỏ tính toán,
23) -- Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của Thế Tôn, con hiểu ý
nghĩa rộng rãi như sau:
Khắp thế giới chớ làm,
Bài học lưu trữ Bài học lưu trữ năm 2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01 Bài học lưu trữ năm 2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01
Bài học lưu trữ năm
2024- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2023- |
12
| 11
|
10
|
09
| 08
|
07
|
06
| 05
| 04
| 03
|
02
| 01
Bài học lưu trữ năm
2022- |
|