BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 29 tháng 08, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Phẩm Lạc Viên . SN. 1.20
BÀI 020. CHỚ ĐỢI ĐẾN GIÀ… -

Kinh Samiddhi (Samiddhisuttaṃ) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-020.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngMột Tỳ khưu trẻ vừa tắm xong, thân còn ướt, đang đứng phơi nắng. Chính lúc ấy,  một vị thiên, thì thầm một lời nghe như hợp lý: hãy hưởng trước, rồi mới khất thực; đừng để thời gian trôi qua. Lời ấy không thô thiền. Nó khéo, nó gần, nó đánh đúng chỗ mềm nhất của tuổi trẻ: cảm giác rằng đời đang tươi, thân đang đẹp, và “bây giờ” mới là thật. Tôn giả Samiddhi không tranh luận dài. Ngài chỉ nói một câu đủ làm cả lời dẫn dắt tắt tiếng: “Ta không biết thời gian là gì. Thời gian bị ẩn giấu, không thể thấy được.” Đó không phải sự lạnh lùng của kẻ chán đời, mà là tuệ thấy rõ ràng. Thời gian mà người đời gọi là “còn kịp hưởng” chính là cái không nắm được. Ai đợi hưởng xong rồi mới tu, thường chẳng còn gì để tu. Vì vậy ngài đi khất thực trước khi hưởng: không phải vì khinh thường hạnh phúc, mà vì không chịu để một khoảnh khắc bị đánh tráo thành sự trì hoãn.

Kinh Văn

20. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati tapodārāme. atha kho āyasmā samiddhi rattiyā paccūsasamayaṃ paccuṭṭhāya yena tapodā tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṃ. tapode gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno. atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ tapodaṃ obhāsetvā yena āyasmā samiddhi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vehāsaṃ ṭhitā āyasmantaṃ samiddhiṃ gāthāya ajjhabhāsi — “abhutvā bhikkhasi bhikkhu, na hi bhutvāna bhikkhasi.
bhutvāna bhikkhu bhikkhassu, mā taṃ kālo upaccagā”ti. “kālaṃ vohaṃ na jānāmi, channo kālo na dissati. tasmā abhutvā bhikkhāmi, mā maṃ kālo upaccagā”ti. atha kho sā devatā pathaviyaṃ {paṭhaviyaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)} patiṭṭhahitvā āyasmantaṃ samiddhiṃ etadavoca — “daharo tvaṃ bhikkhu, pabbajito susu kāḷakeso, bhadrena yobbanena samannāgato, paṭhamena vayasā, anikkīḷitāvī kāmesu. bhuñja, bhikkhu, mānusake kāme; mā sandiṭṭhikaṃ hitvā kālikaṃ anudhāvī”ti.
“na khvāhaṃ, āvuso, sandiṭṭhikaṃ hitvā kālikaṃ anudhāvāmi. kālikañca khvāhaṃ, āvuso, hitvā sandiṭṭhikaṃ anudhāvāmi. kālikā hi, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā; ādīnavo ettha bhiyyo. sandiṭṭhiko ayaṃ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī”ti.
“kathañca, bhikkhu, kālikā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo? kathaṃ sandiṭṭhiko ayaṃ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī”ti? “ahaṃ kho, āvuso, navo acirapabbajito adhunāgato imaṃ dhammavinayaṃ.
na tāhaṃ {na khvāhaṃ (sī. pī.)} sakkomi vitthārena ācikkhituṃ. ayaṃ so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho rājagahe viharati tapodārāme. taṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā etamatthaṃ puccha. yathā te bhagavā byākaroti tathā naṃ dhāreyyāsī”ti.
“na kho, bhikkhu, sukaro so bhagavā amhehi upasaṅkamituṃ, aññāhi mahesakkhāhi devatāhi parivuto. sace kho tvaṃ, bhikkhu, taṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā etamatthaṃ puccheyyāsi, mayampi āgaccheyyāma dhammassavanāyā”ti. “evamāvuso”ti kho āyasmā samiddhi tassā devatāya paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā samiddhi bhagavantaṃ etadavoca —
“idhāhaṃ, bhante, rattiyā paccūsasamayaṃ paccuṭṭhāya yena tapodā tenupasaṅkamiṃ gattāni parisiñcituṃ. tapode gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsiṃ gattāni pubbāpayamāno. atha kho, bhante, aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ tapodaṃ obhāsetvā yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vehāsaṃ ṭhitā imāya gāthāya ajjhabhāsi — “abhutvā bhikkhasi bhikkhu, na hi bhutvāna bhikkhasi.
bhutvāna bhikkhu bhikkhassu, mā taṃ kālo upaccagā”ti. “evaṃ vutte ahaṃ, bhante, taṃ devataṃ gāthāya paccabhāsiṃ — “kālaṃ vohaṃ na jānāmi, channo kālo na dissati. tasmā abhutvā bhikkhāmi, mā maṃ kālo upaccagā”ti. “atha kho, bhante, sā devatā pathaviyaṃ patiṭṭhahitvā maṃ etadavoca — ‘daharo tvaṃ, bhikkhu, pabbajito susu kāḷakeso, bhadrena yobbanena samannāgato, paṭhamena vayasā, anikkīḷitāvī kāmesu. bhuñja, bhikkhu, mānusake kāme; mā sandiṭṭhikaṃ hitvā kālikaṃ anudhāvī’”ti.
“evaṃ vuttāhaṃ, bhante, taṃ devataṃ etadavocaṃ — ‘na khvāhaṃ, āvuso, sandiṭṭhikaṃ hitvā kālikaṃ anudhāvāmi; kālikañca khvāhaṃ, āvuso, hitvā sandiṭṭhikaṃ anudhāvāmi. kālikā hi, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā; ādīnavo ettha bhiyyo. sandiṭṭhiko ayaṃ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī’”ti.
“evaṃ vutte, bhante, sā devatā maṃ etadavoca — ‘kathañca, bhikkhu, kālikā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā; ādīnavo ettha bhiyyo? kathaṃ sandiṭṭhiko ayaṃ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti? evaṃ vuttāhaṃ, bhante, taṃ devataṃ etadavocaṃ — ‘ahaṃ kho, āvuso, navo acirapabbajito adhunāgato imaṃ dhammavinayaṃ, na tāhaṃ sakkomi vitthārena ācikkhituṃ. ayaṃ so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho rājagahe viharati tapodārāme. taṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā etamatthaṃ puccha. yathā te bhagavā byākaroti tathā naṃ dhāreyyāsī’”ti.
“evaṃ vutte, bhante, sā devatā maṃ etadavoca — ‘na kho, bhikkhu, sukaro so bhagavā amhehi upasaṅkamituṃ, aññāhi mahesakkhāhi devatāhi parivuto. sace kho, tvaṃ bhikkhu, taṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā etamatthaṃ puccheyyāsi, mayampi āgaccheyyāma dhammassavanāyā’ti. sace, bhante, tassā devatāya saccaṃ vacanaṃ, idheva sā devatā avidūre”ti.
evaṃ vutte, sā devatā āyasmantaṃ samiddhiṃ etadavoca — “puccha, bhikkhu, puccha, bhikkhu, yamahaṃ anuppattā”ti. atha kho bhagavā taṃ devataṃ gāthāhi ajjhabhāsi — “akkheyyasaññino sattā, akkheyyasmiṃ patiṭṭhitā. akkheyyaṃ apariññāya, yogamāyanti maccuno. “akkheyyañca pariññāya, akkhātāraṃ na maññati. tañhi tassa na hotīti, yena naṃ vajjā na tassa atthi. sace vijānāsi vadehi yakkhā”ti {yakkhīti (pī. ka.)} .
“na khvāhaṃ, bhante, imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ ājānāmi. sādhu me, bhante, bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṃ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ jāneyyan”ti. “samo visesī uda vā {athavā (sī. pī.)} nihīno, yo maññatī so vivadetha {sopi vadetha (ka.)} tena. tīsu vidhāsu avikampamāno, samo visesīti na tassa hoti. sace vijānāsi vadehi yakkhā”ti.
“imassāpi khvāhaṃ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa na vitthārena atthaṃ ājānāmi. sādhu me, bhante, bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṃ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ jāneyyan”ti. “pahāsi saṅkhaṃ na vimānamajjhagā, acchecchi {acchejji (syā. kaṃ. ka.)} taṇhaṃ idha nāmarūpe. taṃ chinnaganthaṃ anighaṃ nirāsaṃ, pariyesamānā nājjhagamuṃ. devā manussā idha vā huraṃ vā, saggesu vā sabbanivesanesu. sace vijānāsi vadehi yakkhā”ti.
“imassa khvāhaṃ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṃ vitthārena atthaṃ ājānāmi — “pāpaṃ na kayirā vacasā manasā, kāyena vā kiñcana sabbaloke. kāme pahāya satimā sampajāno, dukkhaṃ na sevetha anatthasaṃhitan”ti. nandanavaggo dutiyo. tassuddānaṃ — nandanā nandati ceva, natthiputtasamena ca. khattiyo saṇamāno ca, niddātandī ca dukkaraṃ. hirī kuṭikā navamo, dasamo vutto samiddhināti.

Tôi được nghe như vầy.

Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Vương Xá (Rājagaha), ở Tịnh xá Suối Nóng (Tapodārāma).

Bấy giờ Tôn giả Samiddhi, vào lúc đêm gần tàn , thức dậy đi đến suối nóng để tắm rửa thân thể. Sau khi tắm xong, bước lên bờ, Tôn giả đứng chỉ đắp một y, làm khô tứ chi.

Rồi một vị thiên nữ có dung sắc tuyệt đẹp, chiếu sáng toàn vùng suối nóng, khi đêm đã sâu, đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, vị ấy đứng giữa hư không và nói lên bài kệ với Tôn giả:

Chưa hưởng, sao khất thực?
Tuổi trẻ há chờ ai?
Hãy vui rồi khất thực,
Chớ để thời gian phai.

Tôn giả Samiddhi đáp:

Thời hạn ta không biết,
Ẩn mật chẳng ai hay;
Nên không tìm dục lạc,
Sợ thời gian vụt bay.

Vị thiên nữ ấy đáp xuống đất và nói với Tôn giả Samiddhi:
“Này Tỳ khưu, ông xuất gia khi còn trẻ, tóc còn đen nhánh, đang tuổi thanh xuân sung mãn, chưa từng vui chơi với dục lạc. Hãy hưởng thụ các dục lạc nhân loại đi, Tỳ khưu; chớ từ bỏ cái hiện tiền (sandiṭṭhika) để chạy theo cái phải chờ thời gian (kālika).”

“Này Hiền giả, ta không từ bỏ cái hiện tiền để chạy theo cái phải chờ thời gian. Chính ta từ bỏ cái phải chờ thời gian để chạy theo cái hiện tiền. Vì Thế Tôn đã tuyên bố: các dục lạc là cái phải chờ thời gian, đầy khổ đau, đầy tuyệt vọng, và nguy hiểm còn lớn hơn nữa; còn Pháp này là hiện tiền (sandiṭṭhika), vượt ngoài thời gian (akālika), đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được bậc trí tự mình chứng nghiệm.”

Vị thiên nữ hỏi lại ý nghĩa chi tiết của lời dạy ấy. Samiddhi khiêm tốn đáp mình mới xuất gia, chưa đủ khả năng giảng rộng, và khuyên vị thiên đến hỏi trực tiếp Thế Tôn. Vị thiên nói khó tiếp cận vì Thế Tôn được các thiên có đại uy lực vây quanh, nên đề nghị Samiddhi hỏi thay và mình sẽ theo nghe.

Samiddhi đến đảnh lễ Thế Tôn, tường thuật toàn bộ cuộc đối thoại, và nói: “Nếu lời vị thiên ấy đúng, thì vị ấy đang ở gần đây.” Ngay lúc đó vị thiên hiện ra và nói: “Hãy hỏi đi, Tỳ khưu! Hãy hỏi đi! Ta đã đến rồi.”
Thế Tôn nói lên bài kệ với vị thiên:

Chúng sanh nương danh tưởng,
Chấp trước những ngữ ngôn;
Chưa liễu tri thi thiết,
Còn dưới ách Ma vương.

Liễu tri điều khả thuyết,
Không dựng tưởng “ta” đây;
Không còn nơi chấp thủ,
Danh nào gọi vị này?

Vị thiên chưa hiểu rõ, xin giảng rộng hơn. Thế Tôn tiếp:

Nghĩ bằng, hơn hay kém,
Ba mạn khiến cuồng quay;
Ai không còn dao động,
Tranh luận tự lìa ngay.

Tính lường đều buông bỏ,
Ngã mạn chẳng còn mang;
Ái danh sắc đoạn tận,
Tâm tịch tịnh thanh lương.

Trời người dù tìm kiếm,
Đời trước hoặc đời sau;
Khắp mọi miền trú xứ,
Chẳng thấy dấu nơi đâu.

Kết sử đều đoạn tận,
Khát ái chẳng còn sinh;
Không ưu, không mong cầu,
Tâm vô trước, tịch tịnh.

Vị thiên cuối cùng hiểu và tóm tắt ý nghĩa:

Chớ tạo điều bất thiện,
Bởi thân, khẩu hay tâm;
Xả lìa bao dục lạc,
Chánh niệm với tự thân.

Tỉnh giác trong hiện tại,
Không chạy kiếm xa xôi;
Chớ theo đường vô ích,
Kẻo thời gian qua rồi.

Chú thích
Tapodārāma là khu vực suối nước nóng nổi tiếng gần Vương Xá. Việc tắm sớm tinh mơ là sinh hoạt thường ngày của các Tỳ khưu, vừa vệ sinh vừa tạo cơ hội cho sự yên tĩnh để quán chiếu. “Đêm gần tàn” chỉ thời điểm cuối canh ba, lúc trời còn tối nhưng sắp hừng đông.
Chữ  bhutvā có hai nghĩa: (1) đã ăn no, (2) đã hưởng thụ dục lạc. Vị thiên nữ chơi chữ, khuyên Tỳ khưu nên “hưởng thụ” (dục lạc) trước rồi mới khất thực, đừng để “thời gian” (kāla) trôi qua.

Tôn giả Samiddhi hiểu kāla theo nghĩa “thời điểm cái chết” hoặc “cơ hội tu tập”. Thời gian chết thì ẩn giấu, không ai biết trước được. Vì vậy phải tinh tấn ngay, không chờ hưởng thụ trước. Đây là thái độ của người xuất gia chân chính: thấy sự vô thường của thân và cơ hội giải thoát là cấp thiết.

Đây là sự đối lập kinh điển giữa kāmā (dục lạc) và Dhamma. Kālika: cái quả phải chờ thời gian mới chín (nghiệp quả dục lạc). Sandiṭṭhika – akālika: Pháp có thể thấy ngay trong đời này, không cần chờ đời sau. Câu trả lời của Tôn giả Samiddhi cho thấy vị ấy đã nắm vững tinh thần “Pháp hiện tiền” dù còn trẻ và mới xuất gia.

Chữ Akkheyya (từ căn khyā = nói, kể) nghĩa là “cái có thể được gọi tên, diễn đạt bằng ngôn ngữ”. Theo Sớ giải (Sāratthappakāsinī), đây chính là năm uẩn – đối tượng của sự đặt tên và khái niệm. Chúng sanh phàm phu nhận thức thế giới qua ngôn ngữ (“ta”, “người”, “đẹp”, “xấu”…), rồi chấp trước vào đó như là thực thể. Không liễu tri bản chất giả danh của ngôn ngữ và đối tượng, chúng bị trói buộc trong sanh tử. Bậc A-la-hán đã thấy rõ năm uẩn chỉ là danh-sắc duyên khởi, không còn chấp thủ “người nói” hay “cái được nói”. Do đó không còn gì để mô tả vị ấy bằng khái niệm thông thường.
Ba loại mạn (māna):

  • seyyo’ham asmi (ta hơn),
  • sadiso’ham asmi (ta bằng),
  • hīno’ham asmi (ta kém).

Ba loại mạn này là gốc của mọi tranh chấp và chấp ngã. Người đã đoạn mạn thì không còn dao động bởi sự so sánh.

“Từ bỏ sự tính toán” (saṅkhāṃ pahāya) nghĩa là không còn đặt tên, phân loại, khái niệm hóa. “Cắt đứt tham ái đối với danh-sắc” là đoạn tận ái và thủ đối với năm uẩn. Bậc như vậy đã vượt khỏi tầm tìm kiếm của cả thiên lẫn nhân, vì không còn “ai” để tìm, không còn “chỗ” để trú.

Bài kệ cuối của vị thiên chính là sự tóm lược Bát Chánh Đạo ở mức độ căn bản:

  • Không làm ác bằng thân–khẩu–ý = Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng + Chánh tư duy.
  • Từ bỏ dục lạc + chánh niệm tỉnh giác = Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
  • Không theo đuổi con đường khổ vô ích = Chánh kiến, Chánh tư duy hướng đến Niết-bàn.

Sớ giải ghi nhận rằng sự hiểu biết của vị thiên đã bao hàm sơ khởi toàn bộ Bát Chánh Đạo. Nếu vị ấy tiếp tục hành trì theo sự hiểu ấy, sẽ tiến đến các quả vị cao hơn.

Kinh Samiddhi là một cuộc đối thoại điển hình giữa xuất gia trẻ và thiên nữ dụ dỗ, rồi được Thế Tôn nâng lên thành bài pháp sâu sắc về:

1.    Sự cấp thiết của việc tu tập vì thời gian chết ẩn giấu.

2.    Sự đối lập giữa dục lạc “kālika” và Pháp “sandiṭṭhika – akālika”.

3.    Bản chất giả danh của ngôn ngữ và năm uẩn (akkheyya).

4.    Sự đoạn tận mạn và ái đối với danh-sắc, dẫn đến trạng thái không còn gì để mô tả của bậc A-la-hán.

Tôn giả Samiddhi tuy còn mới xuất gia nhưng đã có chánh kiến vững vàng, biết khiêm tốn và biết hướng dẫn vị thiên đến với bậc Đạo Sư. Đây là tấm gương cho hàng xuất gia trẻ: giữ vững chí hướng giải thoát ngay từ buổi ban đầu, không bị lung lay bởi dục lạc hiện tiền.
Sớ Giải

20. dasame tapodārāmeti tapodassa tattodakassa rahadassa vasena evaṃ laddhanāme ārāme. vebhārapabbatassa kira heṭṭhā bhummaṭṭhakanāgānaṃ pañcayojanasatikaṃ nāgabhavanaṃ devalokasadisaṃ maṇimayena talena ārāmuyyānehi ca samannāgataṃ. tattha nāgānaṃ kīḷanaṭṭhāne mahāudakarahado, tato tapodā nāma nadī sandati kuthitā uṇhodakā. kasmā panesā edisā? rājagahaṃ kira parivāretvā mahāpetaloko tiṭṭhati, tattha dvinnaṃ mahālohakumbhinirayānaṃ antarena ayaṃ tapodā āgacchati, tasmā kuthitā sandati. vuttampi cetaṃ — “yatāyaṃ, bhikkhave, tapodā sandati, so daho acchodako sītodako sātodako setodako suppatittho ramaṇīyo pahūtamacchakacchapo, cakkamattāni ca padumāni pupphanti. apicāyaṃ, bhikkhave, tapodā dvinnaṃ mahānirayānaṃ antarikāya āgacchati, tenāyaṃ tapodā kuthitā sandatī”ti (pārā. 231).
imassa pana ārāmassa abhimukhaṭṭhāne tato mahāudakarahado jāto, tassa vasenāyaṃ vihāro “tapodārāmo”ti vuccati. samiddhīti tassa kira therassa attabhāvo samiddho abhirūpo pāsādiko, tasmā “samiddhī”tveva saṅkhaṃ gato. gattāni parisiñcitunti padhānikatthero esa, balavapaccūse uṭṭhāyāsanā sarīraṃ utuṃ gāhāpetvā bahi saṭṭhihatthamatte mahācaṅkame aparāparaṃ caṅkamitvā “sedagahitehi gattehi paribhuñjamānaṃ senāsanaṃ kilissatī”ti maññamāno gattāni parisiñcanatthaṃ sarīradhovanatthaṃ upasaṅkami. ekacīvaro aṭṭhāsīti nivāsanaṃ nivāsetvā kāyabandhanaṃ bandhitvā cīvaraṃ hatthena gahetvā aṭṭhāsi.
gattāni pubbāpayamānoti gattāni pubbasadisāni vodakāni kurumāno. allasarīre pārutaṃ hi cīvaraṃ kilissati duggandhaṃ hoti, na cetaṃ vattaṃ. thero pana vattasampanno, tasmā vatte ṭhitova nhāyitvā paccuttaritvā aṭṭhāsi. tattha idaṃ nhānavattaṃ — udakatitthaṃ gantvā yattha katthaci cīvarāni nikkhipitvā vegena ṭhitakeneva na otaritabbaṃ, sabbadisā pana oloketvā vivittabhāvaṃ ñatvā khāṇugumbalatādīni vavatthapetvā tikkhattuṃ ukkāsitvā avakujja ṭhitena uttarāsaṅgacīvaraṃ apanetvā pasāretabbaṃ, kāyabandhanaṃ mocetvā cīvarapiṭṭheyeva ṭhapetabbaṃ.
sace udakasāṭikā natthi, udakante ukkuṭikaṃ nisīditvā nivāsanaṃ mocetvā sace sinnaṭṭhānaṃ atthi, pasāretabbaṃ. no ce atthi, saṃharitvā ṭhapetabbaṃ. udakaṃ otarantena saṇikaṃ nābhippamāṇamattaṃ otaritvā vīciṃ anuṭṭhāpentena saddaṃ akarontena nivattitvā āgatadisābhimukhena nimujjitabbaṃ, evaṃ cīvaraṃ rakkhitaṃ hoti. ummujjantenapi saddaṃ akarontena saṇikaṃ ummujjitvā nhānapariyosāne udakante ukkuṭikena nisīditvā nivāsanaṃ parikkhipitvā uṭṭhāya suparimaṇḍalaṃ nivāsetvā kāyabandhanaṃ bandhitvā cīvaraṃ apārupitvāva ṭhātabbanti.
theropi tathā nhāyitvā paccuttaritvā vigacchamānaudakaṃ kāyaṃ olokayamāno aṭṭhāsi. tassa pakatiyāpi pāsādikassa paccūsasamaye sammā pariṇatāhārassa uṇhodakena nhātassa ativiya mukhavaṇṇo viroci, bandhanā pavuttatālaphalaṃ viya pabhāsampanno puṇṇacando viya taṅkhaṇavikasitapadumaṃ viya mukhaṃ sassirikaṃ ahosi, sarīravaṇṇopi vippasīdi. tasmiṃ samaye vanasaṇḍe adhivatthā bhummadevatā pāsādikaṃ bhikkhuṃ olokayamānā samanaṃ niggahetuṃ asakkontī kāmapariḷāhābhibhūtā hutvā, “theraṃ palobhessāmī”ti attabhāvaṃ uḷārena alaṅkārena alaṅkaritvā sahassavaṭṭipadīpaṃ pajjalamānā viya candaṃ uṭṭhāpayamānā viya sakalārāmaṃ ekobhāsaṃ katvā theraṃ upasaṅkamitvā avanditvāva vehāse ṭhitā gāthaṃ abhāsi. tena vuttaṃ — “atha kho aññatarā devatā ... pe ... ajjhabhāsī”ti.
abhutvāti pañca kāmaguṇe aparibhuñjitvā. bhikkhasīti piṇḍāya carasi. mā taṃ kālo upaccagāti ettha kālo nāma pañcakāmaguṇapaṭisevanakkhamo daharayobbanakālo. jarājiṇṇena hi obhaggena daṇḍaparāyaṇena pavedhamānena kāsasāsābhibhūtena na sakkā kāme paribhuñjituṃ. iti imaṃ kālaṃ sandhāya devatā “mā taṃ kālo upaccagā”ti āha. tattha mā upaccagāti mā atikkami. kālaṃ vohaṃ na jānāmīti ettha voti nipātamattaṃ. kālaṃ na jānāmīti maraṇakālaṃ sandhāya vadati. sattānañhi — “jīvitaṃ byādhi kālo ca, dehanikkhepanaṃ gati. pañcete jīvalokasmiṃ, animittā na nāyare”.
tattha jīvitaṃ tāva “ettakameva, na ito paran”ti vavatthānābhāvato animittaṃ. kalalakālepi hi sattā maranti, abbuda-pesi-ghana- aḍḍhamāsa-ekamāsa-dvemāsa-temāsa-catumāsapañcamāsa ... pe ... dasamāsakālepi, kucchito nikkhantasamayepi, tato paraṃ vassasatassa antopi bahipi marantiyeva. byādhipi “imināva byādhinā sattā maranti, na aññenā”ti vavatthānābhāvato animitto. cakkhurogenapi hi sattā maranti sotarogādīnaṃ aññatarenapi. kālopi, “imasmiṃ yeva kāle maritabbaṃ, na aññasmin”ti evaṃ vavatthānābhāvato animitto. pubbaṇhepi hi sattā maranti majjhanhikādīnaṃ aññatarasmimpi.
dehanikkhepanampi, “idheva mīyamānānaṃ dehena patitabbaṃ, na aññatthā”ti evaṃ vavatthānābhāvato animittaṃ. antogāme jātānañhi bahigāmepi attabhāvo patati, bahigāmepi jātānaṃ antogāmepi. tathā thalajānaṃ jale, jalajānaṃ thaleti anekappakārato vitthāretabbaṃ. gatipi, “ito cutena idha nibbattitabban”ti evaṃ vavatthānābhāvato animittā. devalokato hi cutā manussesupi nibbattanti, manussalokato cutā devalokādīnaṃ yattha katthaci nibbattantīti evaṃ yante yuttagoṇo viya gatipañcake loko samparivattati. tassevaṃ samparivattato “imasmiṃ nāma kāle maraṇaṃ bhavissatī”ti imaṃ maraṇassa kālaṃ vohaṃ na jānāmi.
channo kālo na dissatīti ayaṃ kālo mayhaṃ paṭicchanno avibhūto na paññāyati. tasmāti yasmā ayaṃ kālo paṭicchanno na paññāyati, tasmā pañca kāmaguṇe abhutvāva bhikkhāmi. mā maṃ kālo upaccagāti ettha samaṇadhammakaraṇakālaṃ sandhāya “kālo”ti āha. ayañhi samaṇadhammo nāma pacchime kāle tisso vayosīmā atikkantena obhaggena daṇḍaparāyaṇena pavedhamānena kāsasāsābhibhūtena na sakkā kātuṃ. tadā hi na sakkā hoti icchiticchitaṃ buddhavacanaṃ vā gaṇhituṃ, dhutaṅgaṃ vā paribhuñjituṃ, araññavāsaṃ vā vasituṃ, icchiticchitakkhaṇe samāpattiṃ vā samāpajjituṃ, padabhāṇa- sarabhaññadhammakathā-anumodanādīni vā kātuṃ, taruṇayobbanakāle panetaṃ sabbaṃ sakkā kātunti ayaṃ samaṇadhammakaraṇassa kālo mā maṃ upaccagā, yāva maṃ nātikkamati, tāva kāme abhutvāva samaṇadhammaṃ karomīti āha.
pathaviyaṃ patiṭṭhahitvāti sā kira devatā — “ayaṃ bhikkhu samaṇadhammakaraṇassa kālaṃ nāma katheti, akālaṃ nāma katheti, sahetukaṃ katheti sānisaṃsan”ti ettāvatāva there lajjaṃ paccupaṭṭhāpetvā mahābrahmaṃ viya aggikkhandhaṃ viya ca naṃ maññamānā gāravajātā ākāsā oruyha pathaviyaṃ aṭṭhāsi, taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. kiñcāpi pathaviyaṃ ṭhitā, yena panatthena āgatā, punapi tameva gahetvā daharo tvantiādimāha. tattha susūti taruṇo. kāḷakesoti suṭṭhu kāḷakeso.
bhadrenāti bhaddakena. ekacco hi daharopi samāno kāṇo vā hoti kuṇiādīnaṃ vā aññataro, so bhadrena yobbanena samannāgato nāma na hoti. yo pana abhirūpo hoti dassanīyo pāsādiko sabbasampattisampanno, yaṃ yadeva alaṅkāraparihāraṃ icchati, tena tena alaṅkato devaputto viya carati, ayaṃ bhadrena yobbanena samannāgato nāma hoti. thero ca uttamarūpasampanno, tena naṃ evamāha. anikkīḷitāvī kāmesūti kāmesu akīḷitakīḷo abhuttāvī, akatakāmakīḷoti attho. mā sandiṭṭhikaṃ hitvāti yebhuyyena hi tā adiṭṭhasaccā avītarāgā aparacittavidūniyo devatā bhikkhū dasapi vassāni vīsatimpi ... pe ... saṭṭhimpi vassāni parisuddhaṃ akhaṇḍaṃ brahmacariyaṃ caramāne disvā — “ime bhikkhū mānusake pañca kāmaguṇe pahāya dibbe kāme patthayantā samaṇadhammaṃ karontī”ti saññaṃ uppādenti, ayampi tattheva uppādesi. tasmā mānusake kāme sandiṭṭhike, dibbe ca kālike katvā evamāha.
na kho ahaṃ, āvusoti, āvuso, ahaṃ sandiṭṭhike kāme hitvā kālike kāme na anudhāvāmi na patthemi na pihemi. kalikañca kho ahaṃ, āvusoti ahaṃ kho, āvuso, kālikaṃ kāmaṃ hitvā sandiṭṭhikaṃ lokuttaradhammaṃ anudhāvāmi. iti thero cittānantaraṃ aladdhabbatāya dibbepi mānusakepi pañca kāmaguṇe kālikāti akāsi, cittānantaraṃ laddhabbatāya lokuttaradhammaṃ sandiṭṭhikanti. pañcakāmaguṇesu samohitesupi sampannakāmassāpi kāmino cittānantaraṃ icchiticchitārammaṇānubhavanaṃ na sampajjati. cakkhudvāre iṭṭhārammaṇaṃ anubhavitukāmena hi cittakārapotthakārarūpakārādayo pakkosāpetvā, “idaṃ nāma sajjethā”ti vattabbaṃ hoti. etthantare anekakoṭisatasahassāni cittāni uppajjitvā nirujjhanti. atha pacchā taṃ ārammaṇaṃ sampāpuṇāti. sesadvāresupi eseva nayo. sotāpattimaggānantaraṃ pana sotāpattiphalameva uppajjati, antarā aññassa cittassa vāro natthi. sesaphalesupi eseva nayoti.
so tamevatthaṃ gahetvā kālikā hi, āvusotiādimāha. tattha kālikāti vuttanayena samohitasampattināpi kālantare pattabbā. bahudukkhāti pañca kāmaguṇe nissāya pattabbadukkhassa bahutāya bahudukkhā. taṃvatthukasseva upāyāsassa bahutāya bahupāyāsā. ādīnavo ettha bhiyyoti pañca kāmaguṇe nissāya laddhabbasukhato ādīnavo bhiyyo, dukkhameva bahutaranti attho. sandiṭṭhiko ayaṃ dhammoti ayaṃ lokuttaradhammo yena yena adhigato hoti, tena tena parasaddhāya gantabbataṃ hitvā paccavekkhaṇañāṇena sayaṃ daṭṭhabboti sandiṭṭhiko. attano phaladānaṃ sandhāya nāssa kāloti akālo, akāloyeva akāliko. yo ettha ariyamaggadhammo, so attano pavattisamanantarameva phalaṃ detīti attho. “ehi passa imaṃ dhamman”ti evaṃ pavattaṃ ehipassavidhiṃ arahatīti ehipassiko.
ādittaṃ celaṃ vā sīsaṃ vā ajjhupekkhitvāpi bhāvanāvasena attano citte upanayaṃ arahatīti opaneyyiko. sabbehi ugghaṭitaññūādīhi viññūhi “bhāvito me maggo, adhigataṃ phalaṃ, sacchikato nirodho”ti attani attani veditabboti paccattaṃ veditabbo viññūhīti. ayamettha saṅkhepo, vitthāro pana visuddhimagge (visuddhi. 1.146 ādayo) dhammānussativaṇṇanāyaṃ vutto. idāni sā devatā andho viya rūpavisesaṃ therena kathitassa atthe ajānantī kathañca bhikkhūtiādimāha. tattha kathañcātipadassa “kathañca bhikkhu kālikā kāmā vuttā bhagavatā, kathaṃ bahudukkhā, kathaṃ bahupāyāsā”ti? evaṃ sabbapadehi sambandho veditabbo.
navoti aparipuṇṇapañcavasso hi bhikkhu navo nāma hoti, pañcavassato paṭṭhāya majjhimo, dasavassato paṭṭhāya thero. aparo nayo — aparipuṇṇadasavasso navo, dasavassato paṭṭhāya majjhimo, vīsativassato paṭṭhāya thero. tesaṃ ahaṃ navoti vadati. navopi ekacco sattaṭṭhavassakāle pabbajitvā dvādasaterasavassāni sāmaṇerabhāveneva atikkanto cirapabbajito hoti, ahaṃ pana acirapabbajitoti vadati. imaṃ dhammavinayanti imaṃ dhammañca vinayañca. ubhayampetaṃ sāsanasseva nāmaṃ. dhammena hettha dve piṭakāni vuttāni, vinayena vinayapiṭakaṃ, iti tīhi piṭakehi pakāsitaṃ paṭipattiṃ adhunā āgatomhīti vadati.
mahesakkhāhīti mahāparivārāhi. ekekassa hi devarañño koṭisatampi koṭisahassampi parivāro hoti, te attānaṃ mahante ṭhāne ṭhapetvā tathāgataṃ passanti. tattha amhādisānaṃ appesakkhānaṃ mātugāmajātikānaṃ kuto okāsoti dasseti. mayampi āgaccheyyāmāti idaṃ sā devatā “sacepi cakkavāḷaṃ pūretvā parisā nisinnā hoti, mahatiyā buddhavīthiyā satthu santikaṃ gantuṃ labhatī”ti ñatvā āha. puccha bhikkhu, puccha bhikkhūti thirakaraṇavasena āmeḍitaṃ kataṃ.
akkheyyasaññinoti ettha “devo, manusso, gahaṭṭho, pabbajito, satto, puggalo, tisso, phusso”tiādinā nayena akkheyyato sabbesaṃ akkhānānaṃ sabbāsaṃ kathānaṃ vatthubhūtato pañcakkhandhā “akkheyyā”ti vuccanti. “satto naro poso puggalo itthī puriso”ti evaṃ saññā etesaṃ atthīti saññino, akkheyyesveva saññinoti akkheyyasaññino, pañcasu khandhesu sattapuggalādisaññinoti attho. akkheyyasmiṃ patiṭṭhitāti pañcasu khandhesu aṭṭhahākārehi patiṭṭhitā. ratto hi rāgavasena patiṭṭhito hoti, duṭṭho dosavasena, mūḷho mohavasena, parāmaṭṭho diṭṭhivasena, thāmagato anusayavasena, vinibaddho mānavasena, aniṭṭhaṅgato vicikicchāvasena, vikkhepagato uddhaccavasena patiṭṭhito hoti. akkheyyaṃ apariññāyāti pañcakkhandhe tīhi pariññāhi aparijānitvā. yogamāyanti maccunoti maccuno yogaṃ payogaṃ pakkhepaṃ upakkhepaṃ upakkamaṃ abbhantaraṃ āgacchanti, maraṇavasaṃ gacchantīti attho. evamimāya gāthāya kālikā kāmā kathitā.
pariññāyāti ñātapariññā, tīraṇapariññā, pahānapariññāti imāhi tīhi pariññāhi parijānitvā. tattha katamā ñātapariññā? pañcakkhandhe parijānāti — “ayaṃ rūpakkhandho, ayaṃ vedanākkhandho, ayaṃ saññākkhandho, ayaṃ saṅkhārakkhandho, ayaṃ viññāṇakkhandho, imāni tesaṃ lakkhaṇarasapaccupaṭṭhānapadaṭṭhānānī”ti, ayaṃ ñātapariññā. katamā tīraṇapariññā? evaṃ ñātaṃ katvā pañcakkhandhe tīreti aniccato dukkhato rogatoti dvācattālīsāya ākārehi. ayaṃ tīraṇapariññā. katamā pahānapariññā?
evaṃ tīrayitvā aggamaggena pañcasu khandhesu chandarāgaṃ pajahati. ayaṃ pahānapariññā. akkhātāraṃ na maññatīti evaṃ tīhi pariññāhi pañcakkhandhe parijānitvā khīṇāsavo bhikkhu akkhātāraṃ puggalaṃ na maññati. akkhātāranti kammavasena kāraṇaṃ veditabbaṃ, akkhātabbaṃ kathetabbaṃ puggalaṃ na maññati, na passatīti attho. kinti akkhātabbanti? “tisso”ti vā “phusso”ti vā evaṃ yena kenaci nāmena vā gottena vā pakāsetabbaṃ. tañhi tassa na hotīti taṃ tassa khīṇāsavassa na hoti. yena naṃ vajjāti yena naṃ “rāgena ratto”ti vā “dosena duṭṭho”ti vā “mohena mūḷho”ti vāti koci vadeyya, taṃ kāraṇaṃ tassa khīṇāsavassa natthi.
sace vijānāsi vadehīti sace evarūpaṃ khīṇāsavaṃ jānāsi, “jānāmī”ti vadehi. no ce jānāsi, atha “na jānāmī”ti vadehi. yakkhāti devataṃ ālapanto āha. iti imāya gāthāya sandiṭṭhiko navavidho lokuttaradhammo kathito. sādhūti āyācanatthe nipāto. yo maññatīti yo attānaṃ “ahaṃ samo”ti vā “visesī”ti vā “nihīno”ti vā maññati. etena “seyyohamasmī”tiādayo tayo mānā gahitāva. tesu gahitesu nava mānā gahitāva honti. so vivadetha tenāti so puggalo teneva mānena yena kenaci puggalena saddhiṃ — “kena maṃ tvaṃ pāpuṇāsi, kiṃ jātiyā pāpuṇāsi, udāhu gottena, kulapadesena, vaṇṇapokkharatāya, bāhusaccena, dhutaguṇenā”ti evaṃ vivadeyya. iti imāyapi upaḍḍhagāthāya kālikā kāmā kathitā.
tīsu vidhāsūti tīsu mānesu. “ekavidhena rūpasaṅgaho”tiādīsu (dha. sa. 584) hi koṭṭhāso “vidho”ti vutto. “kathaṃvidhaṃ sīlavantaṃ vadanti, kathaṃvidhaṃ paññavantaṃ vadantī”tiādīsu (saṃ. ni. 1.95) ākāro. “tisso imā, bhikkhave, vidhā. katamā tisso? seyyohamasmīti vidhā, sadisohamasmīti vidhā, hīnohamasmīti vidhā”tiādīsu (saṃ. ni. 5.162) māno “vidhā”ti vutto. idhāpi mānova. tena vuttaṃ “tīsu vidhāsūti tīsu mānesū”ti. avikampamānoti so puggalo etesu saṅkhepato tīsu, vitthārato navasu mānesu na kampati, na calati. samo visesīti na tassa hotīti tassa pahīnamānassa khīṇāsavassa “ahaṃ sadiso”ti vā “seyyo”ti vā “hīno”ti vā na hotīti dasseti. pacchimapadaṃ vuttanayameva. iti imāyapi upaḍḍhagāthāya navavidho sandiṭṭhiko lokuttaradhammo kathito.
pahāsi saṅkhanti, “paṭisaṅkhā yoniso āhāraṃ āhāretī”tiādīsu (saṃ. ni. 4.120, 239) paññā “saṅkhā”ti āgatā. “atthi te koci gaṇako vā muddiko vā saṅkhāyako vā, yo pahoti gaṅgāya vālukaṃ gaṇetun”ti (saṃ. ni. 4.410) ettha gaṇanā. “saññānidānā hi papañcasaṅkhā”tiādīsu (su. ni. 880) koṭṭhāso. “yā tesaṃ tesaṃ dhammānaṃ saṅkhā samaññā”ti (dha. sa. 1313-1315) ettha paṇṇatti “saṅkhā”ti āgatā. idhāpi ayameva adhippetā. pahāsi saṅkhanti padassa hi ayamevattho — ratto duṭṭho mūḷho iti imaṃ paṇṇattiṃ khīṇāsavo pahāsi jahi pajahīti.
na vimānamajjhagāti navabhedaṃ tividhamānaṃ na upagato. nivāsaṭṭhena vā mātukucchi “vimānan”ti vuccati, taṃ āyatiṃ paṭisandhivasena na upagacchītipi attho. anāgatatthe atītavacanaṃ. acchecchīti chindi. chinnaganthanti cattāro ganthe chinditvā ṭhitaṃ. anīghanti niddukkhaṃ. nirāsanti nittaṇhaṃ. pariyesamānāti olokayamānā. nājjhagamunti na adhigacchanti na vindanti na passanti. vattamānatthe atītavacanaṃ. idha vā huraṃ vāti idhaloke vā paraloke vā. sabbanivesanesūti tayo bhavā, catasso yoniyo, pañca gatiyo, satta viññāṇaṭṭhitiyo, nava sattāvāsā, iti imesupi sabbesu sattanivesanesu evarūpaṃ khīṇāsavaṃ kāyassa bhedā uppajjamānaṃ vā uppannaṃ vā na passantīti attho. imāya gāthāya sandiṭṭhikaṃ lokuttaradhammameva kathesi.
imañca gāthaṃ sutvā sāpi devatā atthaṃ sallakkhesi, teneva kāraṇena imassa khvāhaṃ, bhantetiādimāha. tattha pāpaṃ na kayirāti gāthāya dasakusalakammapathavasenapi kathetuṃ vaṭṭati aṭṭhaṅgikamaggavasenapi. dasakusalakammapathavasena tāva vacasāti catubbidhaṃ vacīsucaritaṃ gahitaṃ. manasāti tividhaṃ manosucaritaṃ gahitaṃ. kāyena vā kiñcana sabbaloketi tividhaṃ kāyasucaritaṃ gahitaṃ. ime tāva dasakusalakammapathadhammā honti. kāme pahāyāti iminā pana kāmasukhallikānuyogo paṭikkhitto. satimā sampajānoti iminā dasakusalakammapathakāraṇaṃ satisampajaññaṃ gahitaṃ. dukkhaṃ na sevetha anatthasaṃhitanti iminā attakilamathānuyogo paṭisiddho.
iti devatā “ubho ante vivajjetvā kāraṇehi satisampajaññehi saddhiṃ dasakusalakammapathadhamme tumhehi kathite ājānāmi bhagavā”ti vadati. aṭṭhaṅgikamaggavasena pana ayaṃ nayo — tasmiṃ kira ṭhāne mahatī dhammadesanā ahosi. desanāpariyosāne devatā yathāṭhāne ṭhitāva desanānusārena ñāṇaṃ pesetvā sotāpattiphale patiṭṭhāya attanā adhigataṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ dassentī evamāha. tattha vacasāti sammāvācā gahitā, mano pana aṅgaṃ na hotīti manasāti maggasampayuttakaṃ cittaṃ gahitaṃ. kāyena vā kiñcana sabbaloketi sammākammanto gahito, ājīvo pana vācākammantapakkhikattā gahitova hoti. satimāti iminā vāyāmasatisamādhayo gahitā. sampajānotipadena sammādiṭṭhisammāsaṅkappā. kāme pahāya, dukkhaṃ na sevethātipadadvayena antadvayavajjanaṃ. iti ime dve ante anupagamma majjhimaṃ paṭipadaṃ tumhehi kathitaṃ, ājānāmi bhagavāti vatvā tathāgataṃ gandhamālādīhi pūjetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmīti

Trong bài kinh thứ mười:

Tapodārāme (Tại vườn Suối Nước Nóng): Đây là tu viện có tên gọi như vậy xuất phát từ hồ nước nóng có tên là Tapoda (nước nóng chảy). Tương truyền, phía dưới núi Vebhāra (núi Tỳ-phú-la) có cung điện của loài rồng (Nāga) địa cư rộng 500 do-tuần (yojana), nguy nga như cõi trời với mặt nền lát bằng ngọc báu, có các hoa viên và công viên. Tại khu vui chơi của chư long có một hồ nước lớn, từ đó chảy ra một con sông nước sôi sùng sục gọi là Tapodā. Vì sao nước lại nóng như vậy? Tương truyền, bao quanh thành Vương Xá (Rājagaha) là một cõi ngạ quỷ (petas) rộng lớn; con sông Tapodā này chảy xuyên qua khoảng giữa hai chảo địa ngục bằng đồng nung đỏ khổng lồ (Lohakumbhi), do đó nước chảy ra sôi sục.

Lời Phật dạy (Luật Tạng - Pārājika 231): "Này các Tỳ-kheo, nơi xuất phát của dòng sông Tapodā là một hồ nước trong vắt, mát lành, ngọt ngào, tinh khiết, bờ bến phẳng lặng, khả ái, có nhiều cá và rùa, hoa sen nở to bằng bánh xe. Thế nhưng, dòng sông này chảy qua khoảng giữa hai đại địa ngục, do đó mà nước sông Tapodā sôi sùng sục."

Trước mặt tu viện này hình thành một hồ nước lớn từ nguồn sông ấy, và do đặc điểm này mà tu viện được gọi là Tapodārāma.

Samiddhi: Tương truyền thân tướng của trưởng lão rất hoàn hảo, xinh đẹp và khả ái (samiddha), vì thế ngài có tên là Samiddhi (Tựu Hạnh / Thành Tựu).

Gattāni parisiñcituṃ (Để dội nước / tắm rửa thân thể): Ngài là một vị tỳ-kheo tinh cần hành thiền (padhānika). Thức dậy vào lúc rạng đông sớm nhất, điều hòa thân thể sau khi thức dậy, ngài đi kinh hành qua lại trên con đường kinh hành dài 60 hắc tay (khoảng 30 mét) ở ngoài trời. Nghĩ rằng: "Nếu ngồi vào chỗ nằm/chỗ ngồi với thân thể còn đẫm mồ hôi thì trú xứ sẽ bị nhơ bẩn", ngài liền đi đến để dội rửa thân thể.

Ekacīvaro aṭṭhāsi (Đứng quấn một lớp y): Ngài mặc y nội (y lót dưới), thắt dây lưng, tay cầm y vai trái (y thượng) và đứng đó.

Gattāni pubbāpayamāno (Hong khô thân thể): Tức là làm cho thân thể ráo nước trở lại trạng thái trước khi ướt. Bởi vì khoác y thượng lên một cơ thể còn ướt sẽ làm dơ bẩn y và sinh mùi hôi, điều đó không đúng oai nghi (vatta). Vị trưởng lão là người trọn vẹn oai nghi, nên giữ đúng giới hạnh tắm xong, bước lên và đứng hong khô.

Oai nghi tắm của Tỳ-kheo (Nhānavatta): Khi đến bến nước, không được cởi y ném bừa bãi rồi lập tức lao xuống nước. Phải nhìn quanh bốn phía, biết rõ nơi vắng vẻ, để ý cọc nhọn hay bụi rậm, hắng giọng ba tiếng; đứng khom người cởi y vai trái trải ra, tháo dây lưng đặt ngay trên mặt y. Nếu không có y tắm mưa, ngồi xổm ở mép nước cởi y nội; nếu có chỗ khô ráo thì trải ra, nếu không thì xếp gọn lại. Khi bước xuống nước, bước từ từ đến ngang rốn, không tạo sóng lớn, không gây tiếng động, xoay mặt về hướng vừa đi tới rồi mới lặn xuống – như thế y phục được bảo hộ. Khi trồi lên cũng không gây tiếng ồn, bước lên ngồi xổm bên mép nước quấn y nội quanh thân, đứng dậy mặc cho tròn trịa trang nghiêm, thắt dây lưng, rồi mới đứng hong khô mà chưa vội khoác y thượng.

Khi tắm nước nóng xong và đứng nhìn nước ráo dần trên thân, do sắc diện vốn đã khả ái, lại thêm thức ăn ban đêm đã tiêu hóa hoàn toàn vào lúc rạng đông, dung nhan ngài rạng rỡ tột bực, khuôn mặt sáng rỡ như quả thốt nốt vừa rụng cuống, như trăng rằm, như hoa sen vừa nở, sắc thân tỏa sáng trong trẻo.

Lúc ấy, một vị địa thần cư ngụ trong lùm cây nhìn thấy vị Tỳ-kheo khả ái, không kềm chế được lòng tham dục, bị nhiệt não dục vọng thiêu đốt. Với ý nghĩ "Ta sẽ quyến rũ vị trưởng lão này", vị thần tự trang điểm lộng lẫy, tỏa ánh sáng như ngọn đèn ngàn bấc, như ánh trăng nhô lên rọi sáng toàn bộ tu viện, tiến đến đứng lơ lửng giữa hư không mà không đảnh lễ ngài, rồi đọc bài kệ.

Abhutvā (Chưa hưởng thọ): Không thọ hưởng năm dục công đức (kāmaguṇa).

Mā taṃ kālo upaccagā (Chớ để thời gian trôi qua uổng phí): "Thời gian" ở đây thiên thần ám chỉ thời kỳ thanh xuân tươi trẻ, thích hợp để hưởng thụ ngũ dục. Khi đã già nua cằn cỗi, lưng còng, chống gậy, run rẩy, bị ho hen chi phối thì không thể nào hưởng dục được nữa.

Kālaṃ vohaṃ na jānāmi (Ta không biết thời gian): Đại đức nói về "thời gian của cái chết" (maraṇakāla). Bởi vì trong thế gian:

"Thọ mạng, bệnh tật, thời điểm chết, nơi gửi xác, và cảnh giới tái sinh:bNăm điều này của chúng sinh trong cõi đời là hoàn toàn không có dấu hiệu báo trước, không thể biết trước."

    • Thọ mạng (Jīvita): Không ấn định chết lúc nào, chết từ khi còn là phôi thai (kalala), hay 1, 2, 3, 5, 10 tháng, hay khi vừa lọt lòng, hay sống ngoài trăm tuổi.
    • Bệnh tật (Byādhi): Không ai biết mình sẽ chết vì căn bệnh cụ thể nào (mắt, tai, hay gió...).
    • Thời điểm chết (Kāla): Không ấn định chết buổi sáng, trưa, hay tối.
    • Nơi gửi xác (Dehanikkhepana): Người sinh trong làng có thể chết ngoài làng, sinh trên cạn chết dưới nước và ngược lại.
    • Cảnh giới (Gati): Chết từ cõi trời có thể đọa xuống nhân gian, chết từ nhân gian có thể đi bất cứ đâu trong ngũ thú, quay cuồng như bò kéo cối xay. Vì thế ngài bảo không biết thời gian chết lúc nào.

Channo kālo na dissati (Thời gian bị che giấu chẳng thấy được): Thời điểm cái chết hoàn toàn bị che khuất đối với ta.

Mā maṃ kālo upaccagā (Chớ để thời gian trôi qua ta): Ngài Samiddhi dùng chữ "thời gian" với nghĩa là thời gian hành Sa-môn pháp. Lúc già yếu không thể học thuộc lời Phật dạy, không thể thọ trì đầu-đà (dhutaṅga), không thể sống nơi rừng vắng, không thể nhập định tùy ý, không thể trùng tụng hay thuyết giảng; chỉ khi còn trẻ trung mới làm tròn những việc này.

Pathaviyaṃ patiṭṭhitvā (Đứng trên mặt đất): Vị thiên thần nghe ngài nói phân định rõ đúng thời và phi thời cho đời sống phạm hạnh một cách có lý lẽ và lợi ích, liền sinh lòng hổ thẹn (hiri), tôn kính ngài như Đại Phạm Thiên hay ngọn lửa rực sáng, nên hạ từ hư không xuống mặt đất.

Tâm lý chư thiên: Đa phần chư thiên chưa thấy chân lý, chưa hết tham ái thường nghĩ rằng: "Các Tỳ-kheo từ bỏ dục trần gian để mong cầu dục lạc cõi trời đời sau." Vì thế vị thần coi dục trần là Sandiṭṭhika (hiện tiền, thấy liền) và phước báo tu tập là Kālika (phải đợi thời gian kiếp sau).

Cái thấy của Trưởng lão:

    • Kālikā kāmā (Dục lạc là lệ thuộc thời gian): Cả dục lạc nhân loại lẫn cõi trời đều là kālika vì không thể nhận được ngay lập tức sau khi tâm khởi muốn. Muốn thấy cảnh sắc đẹp mắt, người ta phải sai gọi thợ vẽ, thợ nặn làm việc, trong thời gian đó hàng trăm ngàn ức tâm sinh diệt trôi qua mới hưởng được đối tượng.
    • Sandiṭṭhiko dhammo (Pháp là hiện tiền): Ngược lại, Pháp Siêu thế (Lokuttaradhamma) là Sandiṭṭhika và Akālika vì Đạo tâm vừa diệt thì Quả tâm (Phala) khởi sinh liền trong sát-na kế tiếp (anantaraphala), không bị bất kỳ tâm nào khác xen vào.
    • Ehipassiko (Đến để mà thấy): Xứng đáng đón nhận lời mời gọi: "Hãy đến mà tự mình quán chiếu Pháp này".
    • Opaneyyiko (Hướng thượng / hướng nội): Xứng đáng được hướng vào chính  nội tâm mình thông qua tu tập (dù đầu hay áo có bị cháy cũng gác lại để tu).
    • Paccattaṃ veditabbo viññūhi (Bậc trí tự mình chứng nghiệm): Từng người trí tự thấy: "Đạo đã được ta tu tập, Quả đã được chứng đạt, Diệt tận đã được tác chứng".

Akkheyyasaññino (Chấp thủ danh xưng / thi thiết): Ngũ uẩn (Pañcakkhandha) chính là căn nguyên của mọi lời diễn đạt, danh xưng (akkheyya) như "trời, người, cư sĩ, xuất gia, người này, người kia". Kẻ phàm phu khởi tưởng trên ngũ uẩn rằng có "tự ngã, người, nam, nữ", đó là akkheyyasaññino.

Akkheyyasmiṃ patiṭṭhitā (An trú trong định chế): Bám chặt vào ngũ uẩn qua 8 cách: tham ái, sân hận, si mê, tà kiến, tùy miên, ngã mạn, hoài nghi, trạo cử.

Akkheyyaṃ apariññāya (Không liễu tri danh xưng ngũ uẩn): Không thấu suốt ngũ uẩn qua Ba phép Liễu Tri:

1.    Tuệ biến tri (Ñātapariññā): Phân biệt rõ từng uẩn qua Đặc tính, Bản chất/Phận sự, Biểu hiện, Nhân cận (lakkhaṇa-rasa-paccupaṭṭhāna-padaṭṭhāna).

2.    Thẩm sát biến tri (Tīraṇapariññā): Quán chiếu ngũ uẩn qua 42 tướng vô thường, khổ não, bệnh tật, vô ngã...

3.    Đoạn trừ biến tri (Pahānapariññā): Dùng Đạo tối thượng (A-la-hán đạo) đoạn tận hoàn toàn dục tham đối với ngũ uẩn.

Akkhātāraṃ na maññati (Không chấp có kẻ nói / Không khởi tưởng về tác giả): Vị A-la-hán sau khi liễu tri ngũ uẩn thì không còn thấy có một "chủ thể/con người" thực thụ nào để gọi tên (akkhātabba).

Tīsu vidhāsu (Trong ba sự phân biệt mạn): "Vidhā" ở đây chính là Mạn (Māna), gồm 3 loại căn bản (và phân nhánh thành 9 loại ngã mạn): Thấy mình hơn người (seyyo), bằng người (sadiso), hay kém người (hīno). Vị vô lậu bất động (avikampamāna) trước các mạn này.

Pahāsi saṅkhaṃ (Đoạn bỏ tính toán / định chế): "Saṅkhā" ở đây là chế định khái niệm (paṇṇatti). Vị A-la-hán đã vứt bỏ các chế định phàm tục như "kẻ đắm nhiễm, kẻ sân hận, kẻ si mê".

Na vimānamajjhagā: Không đi vào sự kiêu mạn (māna); hoặc "vimāna" nghĩa là thai tạng người mẹ, tức vị ấy không còn đi vào sự tái sinh (paṭisandhi) trong tương lai nữa.

Chinnaganthaṃ (Đoạn đứt thắt buộc): Chặt đứt 4 trói buộc (kāyagantha: tham, sân, giới cấm thủ, chấp thủ chân lý).

Sabbanivesanesu (Khắp các cảnh giới trú xứ): Dù tìm khắp 3 cõi, 4 loài sinh (yoni), 5 nẻo luân hồi (gati), 7 thức trú, 9 hữu tình cư, chư thiên dùng thiên nhãn cũng không thể thấy được tâm thức của bậc A-la-hán sau khi thân hoại mạng chung.

Vị thiên sau khi nghe xong đã chứng đắc quả Dự lưu (Sotāpattiphala) và thốt kệ theo hai phương diện:

Yếu tố trong bài kệ

Theo Thập Thiện Nghiệp Đạo (Dasa-kusalakammapatha)

Theo Bát Chi Thánh Đạo (Aṭṭhaṅgika-magga)

Vacasā (Lời nói)

4 Khẩu thiện nghiệp (Vacīsucarita)

Chánh ngữ (Sammā-vācā)

Kāyena (Thân thể)

3 Thân thiện nghiệp (Kāyasucarita)

Chánh nghiệp (Sammā-kammanta) & Chánh mạng (Sammā-ājīva)

Manasā (Ý niệm)

3 Ý thiện nghiệp (Manosucarita)

Tâm tương ưng Thánh Đạo (Maggasampayutta-citta)

Kāme pahāya (Từ bỏ dục)

Xa lánh Lợi dưỡng dục lạc (Kāmasukhallika)

Đoạn trừ cực đoan Đắm say dục lạc

Dukkhaṃ na sevetha (Không theo khổ hạnh)

Xa lánh Khổ hạnh ép xác (Attakilamatha)

Đoạn trừ cực đoan Tự hành xác hại mình

Satimā (Chánh niệm)

Nền tảng duy trì thiện nghiệp

Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định

Sampajāno (Tỉnh giác)

Trí tuệ soi sáng hành vi thiện

Chánh kiến, Chánh tư duy

Vị thiên hoan hỷ vì đã thấu triệt Con đường Trung đạo (Majjhimā paṭipadā) lìa bỏ hai cực đoan, cúng dường hương hoa lên Đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi cung kính lui về cõi trời.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

II. Phẩm Vườn Hoan Hỷ

X. Samiddhi (Tạp 38.17, Ðại 2,281c) (S.i,8) (Biệt Tạp I.17) Ðại 2,379a)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Vương Xá tại Tapodàràma (Tịnh xá Suối nước nóng).

2) Tôn giả Samiddhi, khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, Tôn giả đứng, đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô.

3) Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng suối nước nóng, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau khi đến, đứng giữa hư không, nói lên bài kệ với Tôn giả Samiddhi:

Không hưởng, Ông khất thực,
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí 
 thời gian.

(Samiddhi):

Thời Ông, ta không biết.
Thời ta, ẩn không hiện.
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta.

4) Rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:

-- Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.

5) -- Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.

6) -- Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?

7) -- Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

8) -- Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được chư Thiên khác, có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn ấy và hỏi ý nghĩa này, chúng tôi có thể đến để nghe pháp.

9) -- Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Samiddhi vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:

10) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi đêm đã gần tàn, con thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, con đứng đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Bạch Thế Tôn, rồi một vị Thiên, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng nước nóng, đi đến con, sau khi đến, đứng giữa hư không và nói lên bài kệ này:

"Không hưởng, Ông khất thực,
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí thời gian."

11) Khi nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời với vị Thiên ấy bằng bài kệ:

"Thời Ông, ta không biết,
Thời ta, ẩn không hiện,
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta."

12) Bạch Thế Tôn, rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với con:

"-- Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các dục lạc của người đời. Chớ có bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị  thời gian chi phối."

13) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:

"-- Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Những gì thuộc thời gian, này Hiền giả, là các dục, được nói đến là nhiều khổ đau, nhiều phiền não (upàyàsa), nguy hiểm ở đấy lại nhiều hơn. Còn pháp này thuộc hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu."

14) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:

"-- Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?"

15) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:

"-- Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông về pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì."

16) Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:

" -- Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được các chư Thiên khác có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn và hỏi ý nghĩa ấy, chúng tôi cũng sẽ đến và nghe pháp."

-- Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói sự thật, thời vị ấy ở đây, không xa bao nhiêu.

17) Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Samiddhi như sau:

-- Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Tôi đã đến rồi.

18) Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị Thiên ấy:

Chúng sanh được hiểu biết,
Những điều được nói lên,
Và chấp trước thái độ,
Trên những điều được nói.
Nếu họ không liễu tri
Những điều được nói lên,
Họ đi đến trói buộc.
Do thần chết chi phối,
Nếu họ liễu tri được
Những điều được nói lên,
Họ không có tưởng tri,
Những điều được nói ra.
Ðối với vị như vậy,
Lỗi lầm nhất định không.
Nếu các Ông có biết,
Hãy nói lên Dạ-xoa.

19) -- Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.

(Thế Tôn):

20)

Bằng, thắng hay thua Ta,
Nghĩ vậy đấu tranh khởi;
Cả ba không dao động,
Bằng, thắng không khởi lên.
Nếu như Ông có biết,
Hãy nói lên, Dạ-xoa.

21) -- Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.

22) (Thế Tôn):

Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Từ bỏ mọi tham ái,
Ðối danh sắc ở đời,
Vị ấy đoạn triền phược,
Không lo âu, không ái.
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Ở cảnh giới chư Thiên,
Hay tại mọi trú xứ,
Tìm cầu nhưng không gặp,
Vết tích của vị ấy.
Nếu Ông biết người ấy
Hãy nói lên, Dạ-xoa.

23) -- Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa rộng rãi như sau:

Khắp thế giới chớ làm,
Ðiều ác thân, miệng, ý,
Từ bỏ mọi ái dục,
Chánh niệm, tâm tỉnh giác,
Không khổ hạnh ép xác,
Vô bổ, không lợi ích.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01