BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 03, tháng 10, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Quần Tiên Satullapa – Satullapakāyikavagga – . SN. 1.40
BÀI 040. PHÁP NGỮ CÔ ĐỌNG -
Kinh Con gái Thần Pajjunna II (Dutiyapajjunnadhītusuttaṃ) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-040.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Đêm đã khuya tại Đại Lâm, Vesālī. Thiên nữ em, Cūḷakokanadā, con gái vị trời mưa Pajjunna, sắc như ánh chớp, chiếu sáng cả khu rừng, đến đảnh lễ rồi đứng một bên. Chị nàng, Kokanadā, vừa nói xong bài kệ ca ngợi bậc đã giác ngộ và cảnh báo người chê bai Pháp. Em không lập lại. Nàng nói thẳng: Pháp ấy thuộc loại có thể phân tích bằng rất nhiều pháp môn; nhưng đêm nay nàng chỉ nói phần nghĩa đã thuộc lòng, ngắn như người vắt mật, không kể hết một ngày.

Câu nàng chọn không phải một giáo lý phụ. Không làm ác bằng lời, bằng ý, bằng thân, trong tất cả thế gian; bỏ dục; chánh niệm, tỉnh giác; không theo lối đi vừa khổ vừa vô ích. Đó là cái khung mà Pháp Cú sau này cô lại thành ba việc: không làm mọi điều ác, thành tựu điều lành, thanh lọc tâm mình. Ở đây khung ấy được một thiên nữ nói trước mặt Đức Thế Tôn, không phải để khoe trí, mà để chứng tỏ nàng đã nghe và giữ được cái lõi. Sớ giải đọc chữ “và” trong “đảnh lễ Phật và Pháp” là đã gồm luôn Tăng: tin Phật, tin Pháp thì tất nhiên biết Tăng là nơi khéo thực hành. Ba ngôi được lễ, rồi được rút thành một câu thực hành.

Điểm đáng giữ là sự khiêm nhường của người nói ngắn. Nàng không bảo Pháp chỉ có bấy nhiêu. Nàng bảo Pháp chịu được sự phân tích rất dài, còn điều nàng làm được trong khoảnh khắc ấy là nói phần đã học thuộc. Ngắn ở đây không phải cắt xén. Ngắn là biết chỗ nào đủ để người nghe không lạc vào chi tiết mà vẫn chạm đúng việc phải làm.

Kinh Văn

Evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā vesāliyaṃ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṃ.
Atha kho cūḷakokanadā pajjunnassa dhītā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ mahāvanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā cūḷakokanadā pajjunnassa dhītā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Idhāgamā vijjupabhāsavaṇṇā, Kokanadā pajjunnassa dhītā; Buddhañca dhammañca namassamānā, Gāthācimā atthavatī abhāsi. Bahunāpi kho taṃ vibhajeyyaṃ, Pariyāyena tādiso dhammo; Saṅkhittamatthaṃ lapayissāmi, Yāvatā me manasā pariyattaṃ.
Pāpaṃ na kayirā vacasā manasā, Kāyena vā kiñcana sabbaloke; Kāme pahāya satimā sampajāno, Dukkhaṃ na sevetha anatthasaṃhitan”ti.

Tôi được nghe như vầy. Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Vesālī, tại Đại Lâm, giảng đường Mái Nhọn.

Rồi Cūḷakokanadā, con gái của Pajjunna, khi đêm đã khuya, dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn thể Đại Lâm, đi đến Đức Thế Tôn. Đến nơi, nàng đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, thiên nữ Cūḷakokanadā, con gái của Pajjunna, nói lên những kệ ngôn này trước mặt Đức Thế Tôn:

Con gái Pajjunna,
Tên Kokanadā
Dung sắc như ánh chớp
Đảnh lễ Phật và Pháp
Nói lên những kệ ngôn
Với đầy đủ nghĩa lý

Dù pháp với tự tánh
Có thể phân tích rộng
Xin được nói cô đọng
Với cách đã nằm lòng
Không làm mọi điều ác
Dù thân, khẩu, hay ý
Buông bỏ mọi dục lạc
Chánh niệm và tỉnh giác
Người tu nên từ bỏ
Đường khổ và vô ích

Chú Thích

Bài này là kinh thứ mười, phẩm thứ tư của Tương Ưng Chư Thiên.  Pajjunna’s Daughter II; (Dutiyapajjunnadhītusuttaṃ). Kinh liền trước, SN 1.39, là chị nàng, Kokanadā. Bản Tích Lan gọi kinh này là Cullapajjunnadhītusuttaṃ. Hòa thượng Thích Minh Châu đánh số X, cùng tên “Con gái của Pajjunna”.

Pajjunna là vị thần mưa, tương ứng Parjanya trong Veda, thần giông bão làm đất sinh cây. Kokanadā nghĩa là sen đỏ. Cūḷa là em, hoặc nhỏ hơn; nên Cūḷakokanadā là Kokanadā em. Hai chị em cùng tên, cùng đến Kūṭāgārasālā trong một đêm, mỗi người một bài.

Bài kệ đầu nói ở ngôi thứ ba: “nàng đã đến đây”. Có thể đọc như lời tự xưng theo lối kệ thiên, nàng giới thiệu chính mình rồi mới vào nghĩa. Sớ giải hiểu đúng hướng ấy: nàng nói mình đến đây vì đang đảnh lễ.

Chữ “ca” trong Buddhañca dhammañca được sớ giải chú thích thêm là có Tăng. Hậu sớ giải giảng rõ hơn: ai tịnh tín Phật và Pháp, do thấy Tăng khéo thực hành, thì cũng tịnh tín Tăng; nên nghĩa Tăng đã nằm trong chữ “và”. Ba ngôi không bị bỏ xót, dù kệ chỉ nêu hai ngôi báu.

Bahunāpi kho taṃ vibhajeyyaṃ không phải nàng khoe sẽ giảng dài hơn Đức Phật. Theo sớ và hậu sớ,  Pháp mà chị nàng đã nói đây, cũng là Pháp nàng đã thể chứng ngộ trong mức sức mình.

Tādiso dhammo: Pháp của Đức Thế Tôn dạy có thể được phân tích với rất nhiều cách. Mỗi chữ có thể kéo ra ví dụ, nhân, kết. Nàng biết vậy, nên cố ý nói ngắn.

Pariyattaṃ là điều đã học thuộc, đã được suy gẫm và nhắc đi nhắc lại trong tâm, không phải điều vừa nghe thoáng.

Saṅkhittamatthaṃ lapayissāmi: sẽ nói phần nghĩa một cách cô đọng. Hình ảnh Sớ giải ví dụ rất đẹp: như người vắt mật từ tàng ong, không ngồi kể suốt một ngày.

Kệ ngôn cuối cần đọc sát chữ. Pāpaṃ na kayirā vacasā manasā, kāyena vā kiñcana sabbaloke: chớ làm ác bằng lời, bằng ý, hay bằng thân, bất cứ điều gì, trong đời. Kāme pahāya: sau khi bỏ dục lạc. Satimā sampajāno: có niệm, có tỉnh giác. Dukkhaṃ na sevetha anatthasaṃhitaṃ: chớ hành trì, chớ theo đuổi điều khổ và và điều vô bổ.

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch hai dòng cuối thành “Không khổ hạnh ép xác, vô bổ, không lợi ích”. Đó là một cách đọc có thể có, nếu hiểu dukkhaṃ anatthasaṃhitaṃ là lối tu khổ hạnh không đưa đến lợi ích. Nhưng chữ trong kệ không nói tapas. Ngài Bodhi dịch “không theo một lối đi đau khổ và có hại”; Học giả Sujato dịch “không tiếp tục làm điều đau và vô ích”. Sớ giải bỏ qua, bảo “phần còn lại đã rõ”. Cách đọc sát văn hơn là: chính đường ác, đường dục, là đường khổ và vô ích; người có niệm, có tỉnh giác, đã bỏ dục, thì không đi vào đó. Khổ hạnh ép xác là một nghĩa hẹp, không phải nghĩa duy nhất của câu.

Bài kinh không có lời đáp của Đức Thế Tôn. Im lặng ở đây không phải bác. Nàng nói trước mặt Ngài một điều đã thuộc lòng; kinh ghi lại, không sửa.

Hậu Sớ Giải, Līnatthappakāsinī, bổ sung vài mắt xích. Buddhañca dhammañca namassamānā là đã biết Phật là bậc khéo giác ngộ, Pháp là pháp khéo thuyết, rồi đảnh lễ cả hai. Ai tịnh tín Phật và Pháp, do thấy sự khéo thực hành của Tăng, thì cũng tịnh tín Tăng; nên nghĩa ấy đã được chữ ca thu vào, và sớ mới nói “bằng chữ ca, cả Tăng”. Atthavatī là kệ gồm cả nghĩa thế gian và xuất thế, vì thu cả thiện hiệp thế và đạo siêu thế. Yaṃ dhammaṃ sā abhāsi: Pháp mà chị, Mahākokanadā, đã thể nhập và an trú, rồi nói theo sức mình. Bahunā là bằng nhiều cách; pariyāyena là bằng nhân, bằng pháp môn. Người có thể phân tích Pháp ấy là người đã thể nhập sự thật, khéo ở nghĩa và pháp, với từng chữ đều kéo ra được ví dụ, nhân, kết, rồi chỉ bày, thuyết, khai mở. Nhờ đó Hậu Sớ Giải kết luận: Pháp của bậc Thiện Thệ có thể triển khai rất rộng. Pariyāpuṭaṃ là điều đã được ngiền ngẫm trong tâm. Chính vì Pháp rộng như vậy mà thiên nữ vẫn nói “con sẽ nói nghĩa một cách vắn tắt”, nên sớ mới giảng câu tassatthaṃ.

Sớ giải

 40. dasame dhammañcāti ca saddena saṅghañca, iti tīṇi ratanāni namassamānā idhāgatāti vadati. atthavatīti, atthavatiyo. bahunāpi kho tanti yaṃ dhammaṃ sā abhāsi, taṃ dhammaṃ bahunāpi pariyāyena ahaṃ vibhajeyyaṃ. tādiso dhammoti, tādiso hi ayaṃ bhagavā dhammo, taṃsaṇṭhito tappaṭibhāgo bahūhi pariyāyehi vibhajitabbayuttakoti dasseti. lapayissāmīti, kathayissāmi. yāvatā me manasā pariyattanti yattakaṃ mayā manasā pariyāpuṭaṃ, tassatthaṃ divasaṃ avatvā madhupaṭalaṃ pīḷentī viya muhutteneva saṃkhittena kathessāmi. sesaṃ uttānamevāti. dasamaṃ.

Trong bài kinh thứ mười (về Cūḷakokanadā – Tiểu Kokanadā):

Dhammañca (Và Giáo pháp):

Qua chữ liên từ “ca” (và), hàm ý bao gồm cả Tăng chúng (Saṅgha); nghĩa là nàng muốn thưa rằng nàng đến đây với lòng chí thành kính lễ trọn vẹn cả Ba Ngôi Báu (Tam Bảo - Tīṇi Ratanāni): Phật, Pháp và Tăng.

Atthavatīti (Đầy đủ ý nghĩa / Có ý nghĩa thiết thực):

Đồng nghĩa với từ atthavatiyo — tức là các bài kệ chứa đựng trọn vẹn ý nghĩa, lợi ích chân thực và sâu sắc.

Bahunāpi kho taṃ (Dù điều ấy theo nhiều phương diện):

Chỉ về Giáo pháp mà nàng đã tán thán: “Giáo pháp ấy, con có thể phân tích, giảng giải ra bằng vô số phương tiện và góc độ khác nhau.”

Tādiso dhammo (Giáo pháp vốn là như thế):

Nàng muốn bày tỏ rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, Giáo pháp của Ngài vốn dĩ kỳ diệu như vậy; có tính chất và sự tương ưng thích hợp để có thể được phân giải tường tận bằng vô lượng pháp môn.”

Lapayissāmi (Con xin nói / Con xin đọc lên):

Đồng nghĩa với kathayissāmi — “Con xin được đàm thoại, tuyên thuyết.”

Yāvatā me manasā pariyattaṃ (Theo mức độ tâm con đã học thuộc / thấu triệt):

Nghĩa là: “Bao nhiêu phần ý nghĩa mà tâm con đã ghi nhớ và thấu suốt, con sẽ không nói rải rác suốt cả ngày, mà ví như người đang vắt mật từ tàng ong (madhupaṭalaṃ pīḷentī viya), con sẽ đúc kết, cô đọng tinh chất ấy lại và nói ra một cách vắn tắt chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.”

Sesaṃ uttānameva (Phần còn lại đã quá rõ ràng):

Các câu kệ và từ ngữ còn lại trong kinh văn mang ý nghĩa hiển nhiên, dễ hiểu nên không cần giải thích thêm.

(Hết phần sớ giải bài kinh thứ mười).

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

IV. Phẩm Bầy Nghỉ (Satullapakāyikavagga)

IX. Con Gái Thần Pajjunna (1) (S.i,29)

1.    Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Mahāvana, trong Kūṭāgārasālā (Trùng Các giảng đường).

2.    Lúc bấy giờ thiên nữ Kokanadā, con gái của Pajjunna, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chiếu sáng toàn thể Mahāvana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Đứng một bên, thiên nữ Kokanadā, con gái của thần Pajjunna, đọc bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Con đảnh lễ đức Phật,
Bậc Tối thượng chúng sanh,

Ngự rừng Vesālī,
Kokanadā là con,

Con gái thần Pajjunna.
Xưa con chỉ được nghe,
Pháp bậc Có Mắt chứng,
Nay chứng tri tự thân,
Bậc Mâu-ni diễn giảng,
Bậc Thiện Thệ thuyết minh.

Những kẻ ngu si nào,
Chê bai pháp bậc Thánh,
Chúng rơi Roruva,
Chịu khổ não lâu dài.
Ai an nhẫn tùy thuận,
Đối với pháp bậc Thánh,
Sau khi bỏ thân người,
Sanh đầy cõi chư Thiên.

 

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01