BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 05, tháng 10, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Thiêu Cháy – . SN. 1.41
BÀI 041. ĐEM RA KHỎI NHÀ LỬA -
Kinh Thiêu Cháy (Ādittasuttaṃ) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-041.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Nhà đang cháy thì vật nào được mang ra mới còn là của mình; vật để lại trong lửa đã kể như mất, dù lúc ấy vẫn còn nằm đúng chỗ cũ. Kiếp người cũng là ngôi nhà ấy. Già và chết không phải hai tai nạn ở cuối đường, mà là lửa đã bén từ lúc thân này được nhận: của chưa cho thì vẫn nằm trong nhà lửa, của đã cho thì đã được mang ra theo chính người cho. Sớ giải nói rõ chữ dānena không phải là món đồ vật chất tự nó đi theo người chết, mà là dānacetanā, tác ý bố thí. Món đồ ở lại, tâm cho đi theo. Kẻ trộm, vua chúa, lửa, chỗ cất giữ cũng hư, rồi cuối cùng thân cùng sở hữu đều bị bỏ. Người trí không chọn một trong hai cực: không phải khước từ mọi thọ dụng, cũng không ôm giữ đến phút cuối. Thọ dụng vừa sức mình, và cho vừa sức mình. Cho xong, dùng xong, không bị chỉ trích, vị ấy đi đến cảnh giới an lạc. Quả ấy chưa phải Niết-bàn, nhưng là cách duy nhất để tài sản không chết cùng với thân.

Kinh Văn

Evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi: “Ādittasmiṃ agārasmiṃ, yaṃ nīharati bhājanaṃ; Taṃ tassa hoti atthāya, no ca yaṃ tattha ḍayhati.
Evaṃ ādittako loko, jarāya maraṇena ca; Nīharetheva dānena, dinnaṃ hoti sunīhataṃ. Dinnaṃ sukhaphalaṃ hoti, nādinnaṃ hoti taṃ tathā; Corā haranti rājāno, aggi ḍahati nassati. Atha antena jahati, sarīraṃ sapariggahaṃ; Etadaññāya medhāvī, bhuñjetha ca dadetha ca; Datvā ca bhutvā ca yathānubhāvaṃ, anindito saggamupeti ṭhānan”ti.

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika. Rồi một vị thiên nữ, khi đêm đã khuya, dung sắc thù thắng, chói sáng toàn thể Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị thiên nữ ấy đọc lên những bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Khi căn nhà đang cháy,
Vật nào được mang ra,
Vật ấy mới hữu ích,
Chẳng phải trong nhà cháy.

Cũng vậy, đời đang cháy,
Bởi do già và chết;
Hãy cứu ra bằng thí,
Vật cho là khéo cứu.

Vật cho tạo quả lành,
Không cho chẳng như vậy;
Trộm lấy, vua tịch thu,
Lửa thiêu hoặc tiêu tan.

Chính thân rồi phải bỏ,
Cùng mọi vật sở hữu;
Bậc trí hiểu như vậy,
Vừa thọ dụng, vừa cho.

Biết cho và thọ dụng,
Tùy khả năng có được,
Không thể bị chê trách
Mạng chung sanh thiên giới.

Chú Thích

Kinh này thuộc Phẩm Thiêu Cháy (Ādittavagga), bài mở đầu của phẩm, SN 1.41, PTS S i 31. Chánh văn Mahāsaṅgīti kết thúc ở bài kệ của vị thiên. Không có lời đáp của Thế Tôn. Trong nhiều kinh cùng chương, Thế Tôn trả lời bằng kệ; ở đây sự im lặng của bậc Đạo Sư đứng như sự chấp nhận nội dung vị thiên vừa nói. Một số bản dịch thêm công thức “Đạo Sư tán thành, vị thiên ấy nghĩ ‘Đạo Sư đã tán thành ta’ rồi biến mất”; công thức ấy là thể thức chung của nhiều kinh chư thiên, không có trong bản Pāli chuẩn của kinh này.

Chánh kinh Pāli dùng aññatarā devatā và sā devatā, nữ tánh: một vị thiên nữ, không nêu tên. abhikkantāya rattiyā là đêm đã khuya, canh đã muộn; abhikkantavaṇṇā là dung sắc thù thắng; kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā là chiếu sáng toàn vùng Jetavana. Hình ảnh này lặp lại ở đầu hầu hết các kinh Tương ưng Chư thiên: vị trời đến không phải để hỏi một câu đố, mà để nói một lẽ đã thấy từ cõi mình.

Trọng điểm của bài kệ là động từ nīharati, “mang ra, đem ra khỏi”. Trong nhà cháy, bhājanaṃ — vật dụng, đồ chứa — chỉ có ích khi đã được mang ra. Cái còn nằm trong nhà, tattha ḍayhati, cháy tại chỗ, không còn thuộc về chủ nhà theo nghĩa thực dụng. Câu thứ hai chuyển ẩn dụ sang thế gian: evaṃ ādittako loko, jarāya maraṇena ca. Sớ giải bảo hai chữ già và chết chỉ là desanāsīsa, phần mở đầu của lời dạy. Thế gian còn cháy bởi mười một ngọn lửa, bắt đầu từ tham: rāga, dosa, moha, jāti, jarā, maraṇa, soka, parideva, dukkha, domanassa, upāyāsa. Danh sách ấy chính là danh sách của Kinh Lửa Cháy, SN 35.28. SN 1.41 không giảng sáu xứ đang cháy; nó lấy già và chết làm đầu đề, rồi chỉ một cửa thoát cho tài sản: bố thí.

Nīharetheva dānena, dinnaṃ hoti sunīhataṃ: hãy mang ra bằng chính sự cho; vật đã cho là vật được khéo mang ra. Sớ giải cắt nghĩa dānena là dānacetanāya, bằng tác ý bố thí. Điểm này quyết định cách hiểu cả bài. Không phải vàng bạc tự bay theo người chết. Món đồ được trao vẫn nằm ở thế gian; cái được “mang ra” là tâm sở tác ý thiện lúc cho. Vì vậy sunīhataṃ, “được khéo cứu”, không mô tả két sắt, mà mô tả phước đã rời khỏi ngôi nhà sắp cháy.

Dinnaṃ sukhaphalaṃ hoti, nādinnaṃ hoti taṃ tathā: của đã cho có quả an lạc; của chưa cho không như vậy. Bốn cửa mất của cải chưa cho được kê ngay sau đó: corā haranti, trộm cướp lấy; rājāno, vua chúa đoạt, tịch thu, đánh thuế đến mức tước đoạt; aggi ḍahati, lửa đốt; nassati, hư mất — sớ giải thêm: dù còn để đúng chỗ cất giữ cũng vẫn mất. Bốn cửa này không cần đợi chết. Chúng là lửa nhỏ trong nhà lửa lớn.

Atha antena jahati, sarīraṃ sapariggahaṃ: antena, sớ giải giảng là maraṇena, bởi cái chết. Đến lúc ấy người ta bỏ thân, và bỏ luôn sở hữu. sapariggahaṃ không phải “bỏ thân có sở hữu” theo nghĩa thân là một tài sản, mà là bỏ thân cùng với những vật sở hữu chưa mất vì trộm, vua, lửa. Hai thứ cùng bị bỏ trong một cử chỉ. Hiểu được chỗ này, medhāvī không chọn cực đoan. bhuñjetha ca dadetha ca: hãy thọ dụng, và hãy cho. datvā ca bhutvā ca yathānubhāvaṃ: cho rồi, dùng rồi, vừa theo năng lực, vừa theo phương tiện của mình. anindito: không bị chê trách — không bị chê vì keo kiệt, cũng không bị chê vì phung phí đến hại mình, hại người phải nuôi. saggamupeti ṭhānaṃ: đi đến chỗ thiên giới. Sớ giải lấy vua Vessantara và các bậc tương tự làm ví dụ cho quả ấy. Kinh không nói đây là cứu cánh. Quả được nêu là quả mà vị thiên đang đứng trong ánh sáng Jetavana có thể làm chứng: của đã cho không cháy cùng nhà.

Có thể đặt SN 1.41 cạnh các kinh cùng mạch. SN 1.32 nói người keo kiệt không được chia phần phước. SN 1.43 bảo của cho với lòng tin thì người cho được phần món ấy đời này và đời sau. SN 1.49 kể quả của kẻ ngăn người khác bố thí. Phẩm Thiêu Cháy mở bằng bài này rồi mới hỏi “cho gì là cho lực, cho sắc, cho lạc”. Bài 41 là nguyên tắc; bài 42 là bảng kê vật cho. Cũng nên phân biệt với SN 35.28: ở đấy lửa là tham, sân, si trên sáu xứ, lối thoát là nhàm chán, ly tham, giải thoát; ở đây lửa được nhìn từ phía tài sản của người tại gia, lối thoát trước mắt là mang của ra bằng tác ý thí. Hai bài không mâu thuẫn. Một bài chỉ nhà đang cháy; một bài chỉ vật nào còn cứu được trước khi thân và của cùng bị bỏ.

Sớ Giải

41.Ādittavaggassa paṭhame jarāya maraṇena cā ti desanāsīsametaṃ, rāgādīhi pana ekādasahi aggīhi loko ādittova. Dānenā ti dānacetanāya. Dinnaṃ hoti sunīhatan ti dānapuññacetanāhi dāyakasseva hoti gharasāmikassa viya nīhatabhaṇḍakaṃ, tenetaṃ vuttaṃ. Corā harantī ti adinne bhoge corāpi haranti rājānopi, aggipi ḍahati, ṭhapitaṭṭhānepi nassanti. Antenā ti maraṇena. Sarīraṃ sapariggahan ti sarīrañceva corādīnaṃ vasena avinaṭṭhabhoge ca. Saggamupetī ti vessantaramahārājādayo viya sagge nibbattatīti. Paṭhamaṃ.

Trong bài đầu của Phẩm Thiêu Cháy: “jarāya maraṇena ca — bởi già và bởi chết”: đây chỉ là phần mở đầu của lời dạy. Kỳ thực thế gian cháy bởi mười một ngọn lửa, bắt đầu từ lửa tham. “Dānena — bằng sự cho”: nghĩa là bằng tác ý bố thí. “Dinnaṃ hoti sunīhataṃ — vật đã cho là vật được khéo mang ra”: do các tác ý phước bố thí, vật ấy trở thành của chính người cho, như đồ đạc đã được chủ nhà mang ra khỏi nhà cháy; vì vậy mới nói như thế. “Corā haranti — trộm cướp lấy”: đối với tài sản chưa cho, trộm cũng lấy, vua cũng lấy, lửa cũng đốt, và ngay tại chỗ đang cất giữ cũng vẫn hư mất. “Antena — đến lúc cuối”: nghĩa là bởi cái chết. “Sarīraṃ sapariggahaṃ — thân cùng với sở hữu”: tức là chính thân, và cả những tài sản chưa bị hủy hoại bởi trộm cướp và những thứ tương tự. “Saggamupeti — đi đến thiên giới”: như đại vương Vessantara và các bậc tương tự, sanh về cõi trời.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

Phẩm Thiêu Cháy (S.i,31)

I. Thiêu Cháy

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Rồi một vị Thiên, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Trong ngôi nhà thiêu cháy,
Vật dụng đem ra ngoài,
Vật ấy có lợi ích,
Không phải vật bị thiêu.
Cũng vậy trong đời này,
Bị già chết thiêu cháy,
Hãy đem ra, bằng thí,
Vật thí, khéo đem ra.
Có thí, có lạc quả,
Không thí, không như vậy.
Kẻ trộm, vua cướp đoạt,
Lửa thiêu đốt hủy hoại,
Khi giờ cuối cùng đến,
Bỏ thân, bỏ sở hữu.
Kẻ trí, hiểu biết vậy,
Thọ dụng và bố thí,
Thí xong, thọ dụng xong,
Theo lực hành động ấy,
Không bị ai chỉ trích,
Vị ấy được sanh Thiên.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01