BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 12, tháng 10, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Thiêu Cháy – . SN. 1.45
BÀI 045. BẬC CHÍ THIỆN -
Kinh Hoàn Hảo (Anomanāmasuttaṃ) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-045.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Một vị thiên, giữa đêm trường, chiêm ngưỡng đức tướng của Đức Thế Tôn và cất tiếng ca ngợi. Lời tán thán không dừng ở vẻ ngoài hay danh xưng thế tục, mà chỉ thẳng vào những phẩm chất siêu việt: danh hiệu không khiếm khuyết vì trọn đủ mọi công đức; tuệ nhãn thấy rõ những nghĩa lý vi tế khó nắm bắt; là bậc ban bố trí tuệ bằng cách chỉ bày con đường tu tập; hoàn toàn không dính mắc vào hang ổ dục lạc; là bậc toàn trí, thiện tuệ, và đã từng bước đi trên Thánh đạo nơi cội Bồ-đề. Bài kệ ngắn ngủi này mở ra một hình ảnh toàn diện về bậc Chánh Đẳng Giác: vừa là người thấy rõ thực tại vi tế, vừa là người trao truyền trí tuệ, vừa là người đã vượt thoát dục lạc, vừa là người đã tự mình đi trọn con đường Thánh. Lời ca ngợi của chư thiên không phải để tô điểm, mà để chỉ cho hành giả thấy rõ những đặc tính cần được chiêm nghiệm và thực hành.

Kinh Văn

Anomanāmaṃ nipuṇatthadassiṃ,
paññādadaṃ kāmālaye asattaṃ;
Taṃ passatha sabbaviduṃ sumedhaṃ,
ariye pathe kamamānaṃ mahesiṃ.

(Vị thiên:)
Hãy nhìn Bậc Toàn Thiện
Hiểu cứu cánh thậm thâm,
Ban phát chân trí tuệ,
Cư trần bất nhiễm trần.
Hãy nhìn bậc Trí giả,
Đấng toàn tri diệu giác
Vị Đại Sỹ cao quý,
Dấn bước trên Thánh đạo.
Chú Thích

1. Anomanāmaṃ – Danh xưng viên mãn: A-noma nghĩa là không thấp kém, không nhỏ nhoi, tối thượng, hoàn hảo. Danh xưng của Đức Phật như Arahaṃ, Sammāsambuddho, Vijjācaraṇasampanno... là viên mãn vì Ngài đã thành tựu trọn vẹn đức hạnh mà danh xưng ấy biểu thị. Không phải danh xưng được người đời gán ghép.

2. Nipuṇatthadassī – Bậc thấy mục đích vi tế: Attha là lợi ích, mục đích, chân lý. Nipuṇa là vi tế, tinh tế, sâu sắc khó thấy. Mục tiêu vi tế ở đây chính là Niết-bàn (Nibbāna), là sự đoạn tận tham ái, là Tứ Thánh Đế. Kẻ phàm phu chỉ thấy mục tiêu thô là dục lạc, tài sản; bậc trí mới thấy mục tiêu vi tế là giải thoát.

3. Paññādadaṃ – Bậc ban cho trí tuệ: Đức Phật không ban cho đệ tử con cá, mà cho chiếc lưới; không ban cho lạc thú tạm bợ, mà ban cho trí tuệ để tự mình thấy ra khổ và con đường thoát khổ. Đây là pháp thí tối thượng.

4. Kāmālaye asattaṃ – Không dính mắc vào ổ dục: Ālaya là ổ, là hang, là chỗ trú ẩn, chỗ bám víu. Kāma là năm dục công đức. Dục lạc như một cái hang tăm tối, ấm áp khiến chúng sanh chui vào và không muốn ra. Bậc Chánh Đẳng Giác đã hoàn toàn không dính mắc (asattaṃ), không vướng vào.

5. Sabbaviduṃ sumedhaṃ – Bậc Toàn Tri, Bậc Thiện Tuệ: Sabbavidū không phải là biết hết mọi chuyện thế gian theo kiểu toàn tri của ngoại đạo, mà là bậc biết rõ những gì cần biết để đưa đến giải thoát: biết rõ Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Sumedha là người có trí tuệ khéo léo, thiện xảo.

6. Ariye pathe kamamānaṃ mahesiṃ – Bậc Đại Ẩn Sĩ đang bước trên Thánh Đạo: Mahesi (Mahā + isi) là đại ẩn sĩ, bậc đi tìm chân lý. Ngài không bước trên vương lộ của vua chúa, mà trên ariya-magga – Bát Thánh Đạo. Hình ảnh "kamamānaṃ" – đang bước đi, đang dấn bước – cho thấy Thánh đạo là một con đường sống động, đang được thực hành.

Sớ Giải

45. Pañcame anomanāmanti uttamanāmaṃ. Nipuṇatthadassinti nipuṇaṃ atthaṃ passituṃ sīlamassa, nibbānaṃ dassī ti attho. Paññādadanti ariyamagga-paññāya dāyakaṃ. Kāmālayeti kāmā assādetabbaṭṭhena ālayo, tasmiṃ kāmālaye asattaṃ, alaggaṃ. Sabbavidunti sabbaṃ ñeyyaṃ jānanato sabbaviduṃ. Sumedhanti sundarapaññaṃ. Ariye patheti ariyānaṃ magge. Kamamānanti paṭipajjamānaṃ. Mahesinti mahantaṃ sīlādiguṇaṃ esanto gavesanto ti mahesi.

Trong kinh thứ năm:
“Anomanāmaṃ – Danh xưng viên mãn”: nghĩa là danh xưng tối thượng, cao quý (uttama-nāma).
“Nipuṇatthadassī – Thấy mục tiêu vi tế”: nghĩa là bậc có thói quen thấy được mục tiêu vi tế, tức là bậc thấy rõ Niết-bàn.
“Paññādadaṃ – Ban cho trí tuệ”: nghĩa là bậc ban tặng trí tuệ của Thánh đạo.
“Kāmālaye – Ổ dục”: dục được gọi là ổ là vì là nơi đáng ưa thích để trú ẩn, bậc không dính mắc, không vướng kẹt vào ổ dục ấy.
“Sabbaviduṃ – Bậc toàn tri”: vì biết rõ mọi pháp cần phải biết nên gọi là toàn tri.
“Sumedhaṃ – Bậc thiện tuệ”: nghĩa là có trí tuệ tốt đẹp, khéo léo.
“Ariye pathe – Trên Thánh đạo”: nghĩa là trên con đường của các bậc Thánh.
“Kamamānaṃ – Đang bước đi”: nghĩa là đang thực hành, đang tiến bước.
“Mahesiṃ – Bậc Đại Sỹ”: nghĩa là bậc  tìm cầu  những đức tính lớn như giới, định v.v., nên gọi là đại  sỹ.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

V. Phẩm Thiêu Cháy (S.i,31) (Tạp 36.6 Vân hà đại đắc, Ðại 2,261b) (Biệt Tạp 8.4, Ðại 2,526b) (S.i,32)

IV. Một Gốc

Một rễ, hai phương diện,
Ba uế, năm môi trường,
Biển lớn, mười hai họa,
Vực xoáy bậc Thánh siêu. 

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01