BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 21, tháng 10, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Thiêu Cháy – . SN. 1.50
BÀI 050. TÌNH BẠN THUỞ XƯA VÀ SỰ GIẢI THOÁT TỐI HẬU -
Kinh Thợ Gốm Ghaṭīkāra (Ghaṭīkārasuttaṃ) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-050.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Tình bạn tri kỷ trong thế gian thường chỉ gắn bó qua danh lợi, tình cảm hệ lụy hay những kỷ niệm vô thường của sinh tử. Nhưng tình bạn tâm linh giữa người thợ gốm Ghaṭīkāra và chàng thanh niên Bà-la-môn Jotipāla dưới thời Đức Phật Ca-diếp lại là một thiên anh hùng ca giải thoát hy hữu trong giáo sử. Khi ấy, Ghaṭīkāra là một cư sĩ thuần thành, tận tụy nuôi dưỡng cha mẹ mù lòa, đắc quả Bất Lai và giữ trọn tịnh hạnh; chính chàng đã lôi kéo, nắm lấy đai áo và thậm chí túm tóc bạn thân Jotipāla để dẫn đến diện kiến Đức Phật Ca-diếp, mở đầu cho hạt giống Bồ-đề của bậc Chánh Đẳng Giác tương lai.

Cuộc hạnh ngộ mầu nhiệm giữa hư không trong bài kinh này không chỉ là lời chào tao ngộ sau bao kiếp luân hồi, mà còn là bản tuyên ngôn xác chứng về hiệu năng của Chánh pháp. Vị thiên Ghaṭīkāra từ cõi trời Vô Phiền (Avihā) hiện xuống để báo tin mừng về bảy bậc Thánh tăng đệ tử của Đức Phật Gotama đã xả bỏ nhân thân, đoạn tận kiết sử và chứng đạt cứu cánh viên giác tại cõi Sắc giới tịnh cư. Qua đối thoại vi diệu về nơi "danh sắc tịch tịnh không dư tàn", Đức Phật và người bạn cũ cùng ấn chứng con đường đoạn tận trầm luân: cả hai đều đã trở thành bậc "mang thân xác cuối cùng", thành tựu trọn vẹn tịnh hạnh và chấm dứt vĩnh viễn vòng luân hồi tử sinh.

Kinh Văn

“Satta bhikkhū avihā upapannā,
te me bhikkhū vimuttā;
rāgadosaparikkhīṇā,
tiṇṇā loke visattikaṃ.”

(Phạm thiên Ghaṭīkāra):
Bảy vị tỳ khưu ấy,
Tái sinh cõi Vô Phiền;
Đã hoàn toàn giải thoát,
Tham sân đều đoạn tận,
Vượt ái nhiễm thế gian.

“Ke ca te ataruṃ paṅkaṃ,
maccudheyyaṃ suduttaraṃ;
ke hitvā mānusaṃ dehaṃ,
dibbayogaṃ upaccaguṃ?”

(Đức Thế Tôn):
Những ai vượt bùn lầy,
Cõi tử thần khó vượt?
Ai lìa bỏ thân người,
Vượt thiên giới trói buộc?

“Upako Palagaṇḍo ca,
Pukkusāti ca te tayo;
Bhaddiyo Bhaddadevo ca,
Bāhudantī ca Piṅgiyo;
te hitvā mānusaṃ dehaṃ,
dibbayogaṃ upaccaguṃ.”

(Ghaṭīkāra):
Upaka, Palagaṇḍa,
Pukkusāti là ba;
Bhaddiya, Bhaddadeva,
Bāhudantī, Piṅgiya;

Các vị lìa thân người,
Vượt thiên giới trói buộc.

“Kusalaṃ vata vācasi,
Mārapāsappahāyinaṃ;
kassa te dhammamaññāya,
acchiduṃ bhavabandhanaṃ?”

(Đức Thế Tôn):
Lành thay lời người nói,
Về những bậc thoát Ma;
Nhờ thấu hiểu Pháp ai,
Họ đoạn dây sanh hữu?

“Na aññatra Bhagavatā,
na aññatra tavāsanā;
tava dhammaññāya te,
acchiduṃ bhavabandhanaṃ.”

(Ghaṭīkāra):
Không ngoài Đức Thế Tôn,
Không ngoài lời Ngài dạy;
Nhờ hiểu thấu Pháp Ngài,
Họ đoạn dây sanh hữu.

“Yattha nāmañca rūpañca,
asesaṃ uparujjhati;
taṃ te dhammaṃ idhaññāya,
acchiduṃ bhavabandhanaṃ.”

Nơi danh cùng với sắc,
Chấm dứt không dư sót;
Nhờ hiểu Pháp ấy đây,
Họ đoạn dây sanh hữu

“Gambhīraṃ bhāsase vācaṃ,
dubbijānaṃ sudubbudhaṃ;
kassa tvaṃ dhammamaññāya,
bhāsase vācamīdisaṃ?”

(Đức Thế Tôn):
Lời người thật sâu xa,
Khó biết, khó thấu hiểu;
Người đã hiểu Pháp ai,
Mà nói lời như vậy?

“Kumbhakāro pure āsiṃ,
Vehaḷiṅge Ghaṭīkaro;
mātāpettibharo āsiṃ,
Kassapassa upāsako.”

(Ghaṭīkāra):
Xưa con là thợ gốm,
Ghaṭīkāra tên gọi;
Ở Vehaḷiṅga,
Phụng dưỡng mẹ cùng cha,
Đệ tử Phật Ca Diếp.

“Virato methunā dhammā,
brahmacārī nirāmiso;
ahuṃ tuyhaṃ sagāmeyyo,
ahuṃ tuyhaṃ pure sakhā.”

Con từ bỏ nhục dục,
Sống phạm hạnh thanh cao;
Xưa cùng làng với Ngài,
Từng là bạn của Ngài.

“Sohamete pajānāmi,
mutte satta bhikkhavo;
rāgadosaparikkhīṇe,
tiṇṇe loke visattikaṃ.”

Chính con biết bảy vị,
Tỳ khưu đã giải thoát;
Tham sân đều đoạn tận,
Vượt ái nhiễm thế gian.

“Evametaṃ tadā āsi,
yathā bhāsasi Bhaggava;
kumbhakāro pure āsi,
Vehaḷiṅge Ghaṭīkaro.
Mātāpettibharo āsi,

Kassapassa upāsako;
virato methunā dhammā,
brahmacārī nirāmiso;
ahuṃ mayhaṃ sagāmeyyo,
ahuṃ mayhaṃ pure sakhā.”

(Đức Thế Tôn):
Quả đúng như người nói,
Này Bhaggava, thuở xưa;
Chinh người thợ gốm,
Ghaṭīkāra tên gọi,
Sống tại Vehaḷiṅga.
Người phụng dưỡng mẹ cha,
Cư sĩ Phật Kassapa;
Xa lìa mọi nhục dục,
Sống phạm hạnh thanh cao;
Xưa cùng làng với Ta,
Từng là bạn của Ta.

“Evamahu tadā saṅgamo,
pubbānaṃ sahāyānaṃ;
ubhinnaṃ bhāvitattānaṃ,
sarīrantimadhārinaṃ.”

Như vậy là hạnh ngộ,
Giữa bạn thiết thuở xưa;
Cả hai đồng tu tập,
Cùng mang thân tối hậu.

Chú Thích

Bài kinh thuộc Tương Ưng Chư Thiên (Devatāsaṃyutta), Phẩm Thiêu Cháy (Ādittavagga), kinh số 50. Bối cảnh diễn ra vào đêm khuya tại tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana), thành Xá-vệ (Sāvatthī). Vị thiên tử Ghaṭīkāra — vốn là cư sĩ thợ gốm chứng đắc quả Bất Lai (Anāgāmī) vào thời Đức Phật Ca-diếp (Kassapa), sau khi mệnh chung sinh về cõi trời Tịnh Cư (Vô Phiền Thiên - Avihā) — hiện xuống hầu Phật và đảnh lễ đấng Đạo Sư, xưng tán sự giải thoát của bảy vị Tỳ-khưu đồng tu tại cõi trời này, đồng thời nhắc lại tình bạn thân thiết thuở tiền kiếp giữa mình và Bồ-tát Jotipāla (tiền thân Đức Phật Thích-ca).

Tình bạn tri kỷ trong thế gian thường chỉ gắn bó qua danh lợi, tình cảm hệ lụy hay những kỷ niệm vô thường của sinh tử. Nhưng tình bạn tâm linh giữa người thợ gốm Ghaṭīkāra và chàng thanh niên Bà-la-môn Jotipāla dưới thời Đức Phật Ca-diếp lại là một thiên anh hùng ca giải thoát hy hữu trong giáo sử. Khi ấy, Ghaṭīkāra là một cư sĩ thuần thành, tận tụy nuôi dưỡng cha mẹ mù lòa, đắc quả Bất Lai và giữ trọn tịnh hạnh; chính chàng đã lôi kéo, nắm lấy đai áo và thậm chí túm tóc bạn thân Jotipāla để dẫn đến diện kiến Đức Phật Ca-diếp.

Avihā (Vô Phiền Thiên): Tầng trời đầu tiên trong 5 tầng trời Tịnh Cư (Suddhāvāsa thuộc cõi Sắc giới). Đây là cảnh giới chỉ dành riêng cho các bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmī).
Sattabhikkhū vimuccire (Bảy vị Tỳ-khưu giải thoát): Bảy vị đệ tử này vốn chứng quả Bất Lai khi còn mang thân người dưới thời Đức Phật Thích-ca. Sau khi mạng chung, các vị sinh lên cõi Avihā và tại đây đã đoạn trừ năm thượng phần kiết sử (sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh) để chứng đạt cứu cánh A-la-hán (arahatta). Danh tánh bảy vị gồm:

1.    Upaka: Vị du sĩ từng gặp Phật trên đường đi Ba-la-nại sau ngày thành đạo, về sau quy y xuất gia.

2.    Palagaṇḍa: Vị tỳ-khưu đắc quả Bất Lai.

3.    Pukkusāti: Vị vua xứ Takkasilā từ bỏ ngai vàng xuất gia làm Tỳ-khưu không thầy, từng đàm đạo Pháp sâu xa với Phật trong lò gốm (Kinh Phân Biệt Giới - MN 140).

4.    Bhaddiya.

5.    Khaṇḍadeva (bản dịch tiếng Anh viết là Bhaddadeva).

6.    Bāhuraggi (hoặc Bāhudantī).

7.    Saṅghiya (hoặc Piṅgiya).

Không có nhiều chi tiết về 4 vị sau trong danh sách.

Visattikā: Ái dục, sự dính mắc bền chặt, dán chặt tâm thức chúng sanh vào cõi dục như nhựa dính. Đoạn trừ tham (rāga) và sân (dosa) là đặc tính của quả Bất Lai; đoạn tận toàn bộ vi tế phiền não là quả vị A-la-hán.

Mānusaṃ dehaṃ... dibbayogaṃ: Trút bỏ thân người và vượt qua mọi trói buộc của cõi trời dục giới. "Dibbayoga" ở đây chỉ cho dục ái và sự trói buộc hưởng thọ của chư thiên các cõi dục.

Yattha nāmañca rūpañca asesaṃ uparujjhati: Nơi danh pháp và sắc pháp hoàn toàn tịch tịnh không còn dư sót. Đây là định nghĩa trực chỉ về trạng thái Niết-bàn (Nibbānadhātu), nơi các uẩn hoàn toàn vắng bặt, không còn sanh diệt nối dòng.

Ghaṭīkāra & Jotipāla: Được tường thuật chi tiết trong Kinh Ghaṭīkāra (Trung Bộ Kinh - MN 81). Ghaṭīkāra là người bạn chí thân của thanh niên Jotipāla (tiền thân Phật Thích-ca). Dù là cư sĩ nghèo, Ghaṭīkāra đã đạt Bất Lai quả, là người cư sĩ hộ độ bậc nhất của Đức Phật Kassapa, chứng quả mà không xuất gia vì phải nuôi cha mẹ mù lòa.

Bhaggava: Dòng dõi hoặc tên bộ tộc thợ gốm mà Ghaṭīkāra thuộc về; Đức Phật dùng từ ngữ này như một cách gọi thân thiết theo truyền thống gia tộc xưa.

Antimadhārino (Mang thân cuối cùng): Chỉ cho bậc đã cắt đứt hoàn toàn nhân luân hồi. Cả hai vị: Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác viên mãn ở cõi người, còn Ghaṭīkāra là bậc Đại Phạm thiên cõi Suddhāvāsa, đều đang sống kiếp sống cuối cùng, sau khi mệnh chung sẽ viên tịch Niết-bàn tịch tịnh.

Sớ Giải

50. Pañcame avihanti taṃnāmakaṃ suddhāvāsaṃ.
Vimuccireti vimuccanti, arahattappattiyā kilesehi muccanti.
Tiṇṇā loke visattikanti loke laggabhāvena visattikā sankhātā taṇhā tiṇṇā nikkhandhā.
Ke ca te ataruṃ paṅkanti rāgapaṅkādīnaṃ aññataraṃ paṅkaṃ ke atariṃsu.
Maccudheyyanti maraṇassa nivāsaṭṭhānaṃ tebhūmikavaṭṭaṃ.
Dibbayoganti dibbañca yogaṃ kāmabhavadiṭṭhavijjāyogasaṅkhātaṃ upaccaguṃ atikkantā.
Upako ca palagaṇḍo cāti upakopi palagaṇḍopi.
Sohaṃ ete pajānāmīti so ahaṃ ete upakādike ime sattapi bhikkhū vimuccite pajānāmi.
Evametaṃ tadā āsīti satthā attano ca ghaṭīkārassa ca kathāya saṃsandetvā tassa kathitaṃ sabbaṃ anujānamāno evamāha.
Ubhinnaṃ bhāvitattānanti ubhinnampi vaḍḍhitacittānaṃ.
Sarīrantimadhārinanti carimattabhāvadhārīnaṃ. Ekassa hi sāvakatāya carimasarīraṃ, ekassa buddhatāyāti.

50. Trong bài kinh thứ năm:

“Avihanti — Về cõi Vô Phiền”: nghĩa là tầng trời Tịnh Cư mang tên gọi ấy.

“Vimuccire — Đã giải thoát”: nghĩa là đang giải thoát, chứng đắc A-la-hán nhờ thoát khỏi hoàn toàn mọi cấu uế phiền não.

“Tiṇṇā loke visattikan — Vượt khỏi ái luyến trần gian”: ái dục được gọi là visattikā vì tính chất bám dính, ràng buộc vào thế gian; họ đã vượt qua, đã bước hẳn ra khỏi sự bám dính ấy.

“Ke ca te ataruṃ paṅkaṃ — Ai đã vượt qua vũng lầy lội?”: ai là những người đã vượt qua bùn lầy của tham ái, sân hận, v.v.?

“Maccudheyyaṃ — Cảnh giới Tử thần”: chỉ cho vòng luân hồi ba cõi (tebhūmikavaṭṭa), nơi ma vương thần chết ngự trị.

“Dibbayogaṃ — Trói buộc chư thiên”: tức là đã vượt thắng (atikkantā) sự ràng buộc thần thánh gồm dục ái, hữu ái, tà kiến và vô minh nơi cõi chư thiên.

“Upako palagaṇḍo ca... — Upaka và Palagaṇḍa...”: nêu đích danh các vị đại đệ tử.

“Sohaṃ ete pajānāmi — Con biết rõ về các vị ấy”: nghĩa là con biết rõ bảy vị Tỳ-khưu này, từ ngài Upaka trở đi, nay đều đã giải thoát viên mãn.

“Evametaṃ tadā āsi — Đúng thật như vậy vào thuở ấy”: Bậc Đạo Sư đã đối chiếu xác chứng lời kể giữa Ngài và Ghaṭīkāra, chuẩn nhận tất cả lời thuật ấy nên dạy như thế.

“Ubhinnaṃ bhāvitattānaṃ — Cả hai đều đã tu tập tâm viên mãn”: cả hai vị đều đã tu tập và phát triển tâm thức đến chỗ tột cùng.

“Sarīrantimadhārinaṃ — Đều mang thân cuối cùng”: nghĩa là đều nắm giữ thân hữu hạn cuối cùng; một vị mang thân cuối cùng tại cõi Tịnh Cư, và một vị là bậc Chánh Đẳng Giác mang thân cuối cùng ở cõi người.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

V. Phẩm Thiêu Cháy (S.i,31) (Tạp 36.6 Vân hà đại đắc, Ðại 2,261b) (Biệt Tạp 8.4, Ðại 2,526b) (S.i,32)

X. Ghaṭīkāra (Thợ Gốm Ghaṭīkāra)

(Thiên tử Ghaṭīkāra):
Sanh cõi Avihā,
Bảy Tỳ-kheo giải thoát,
Tham sân được đoạn tận,
Vượt dính ướt ở đời.
(Thế Tôn):
Ai vượt qua bùn lầy,
Lãnh vực chết khó vượt?
Ai bỏ thân người lại,
Vượt thiên ách cõi trời?
(Thiên tử):
Upaka, Palagaṇḍa,
Pukkusāti là ba,
Bhaddiya, Khandadeva,
Bāhuraggi, Saṅghiya,
Bỏ thân người lại sau,
Vượt thiên ách cõi trời.
(Thế Tôn):
Lành thay lời người nói,
Về bẫy Ma họ bỏ,
Họ biết pháp của ai,
Cắt hữu kiết sử này?
(Thiên tử):
Không ngoài Đức Thế Tôn,
Không ngoài lời giáo huấn,
Biết được Chánh pháp Ngài,
Cắt hữu kiết sử này.
Chỗ nào danh và sắc,
Bị diệt tận không dư,
Hiểu pháp ấy ở đây,
Cắt hữu kiết sử này.
(Thế Tôn):
Lời nói ngươi thâm sâu,
Khó hiểu, rất khó ngộ,
Ngươi hiểu pháp của ai,
Nói lời thâm thúy vậy?
(Thiên tử):
Xưa con làm thợ gốm,
Vehaḷinga tên làng,
Nuôi dưỡng mẹ và cha,
Đệ tử Phật Kassapa.
Từ bỏ hạnh phi phạm,
Phạm hạnh không tài vật,
Người đồng xứ với Ngài,
Xưa là bạn của Ngài.
Con biết rõ vị này,
Bảy Tỳ-kheo giải thoát,
Tham sân được đoạn tận,
Vượt dính ướt ở đời.
(Thế Tôn):
Thật vậy thời xưa ấy,
Như lời ngươi, Bhaggava,
Xưa ngươi làm thợ gốm,
Vehaḷinga tên làng.
Nuôi dưỡng mẹ và cha,
Đệ tử Phật Kassapa,
Từ bỏ hạnh phi phạm,
Phạm hạnh không tài vật,
Ngươi đồng xứ với Ta,
Xưa là bạn của Ta.
(Bậc kết tập kinh điển):
Như vậy sự hội kiến,
Giữa hai bạn xưa kia,
Cả hai khéo tu tập,
Đang mang thân tối hậu.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01