BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 12, tháng 09, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập I–Chương 1. Tương Ưng Chư Thiên- Devatā Saṃyutta. Phẩm Lưỡi Gươm – Sattivagga . SN. 1.28
BÀI 028. GIÀU CÓ BAO NHIÊU THÌ THOẢ MÃN -

Kinh Tài Sản Lớn (Mahaddhana Sutta) . http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-028.jpg   

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.pngCon người thường nghĩ rằng sự thiếu thốn làm phát sinh lòng ham muốn, và một khi có đủ tiền bạc, quyền lực cùng tiện nghi thì lòng ham muốn ấy sẽ lắng xuống. Thật ra có một nghịch lý rất sâu sắc của tâm: có nhiều không đồng nghĩa với thoả mãn. Những người có tài sản lớn, hưởng thụ nhiều  thậm chí những vị vua nắm cả quốc độ, vẫn có thể nhìn sang người khác với tâm thèm muốn và vẫn không thấy thỏa mãn trong các dục.

Vấn đề vì vậy không nằm ở chỗ ta có bao nhiêu, mà ở chỗ tâm còn muốn thêm bao nhiêu. Khát ái không tự chấm dứt khi đối tượng của nó được thỏa mãn; trái lại, mỗi lần được nuôi dưỡng, nó lại có thể tìm một đối tượng mới. Người chưa có muốn có; người đã có muốn có nhiều hơn; người có nhiều lại lo giữ lấy những gì mình có và mong vượt hơn người khác. Chính động lực ấy khiến chúng sanh người trôi xuôi theo dòng sanh tử luân hồi

Với người tu tập, điểm quan trọng không phải là sự đối lập giữa giàu và nghèo, mà giữa còn bị thúc đẩy bởi ái và đã giải thoát khỏi ái. Một người có thể bỏ nhà mà lòng vẫn còn chạy theo thế gian; ngược lại, ý nghĩa cứu cánh của xuất ly chỉ hoàn tất khi sự từ bỏ bên ngoài dẫn đến sự từ bỏ bên trong. Không còn gì để chạy theo không phải vì thế gian hết những thứ hấp dẫn, mà vì tâm đã hết khao khát.

Kinh văn

Mahaddhanā mahābhogā,
raṭṭhavantopi khattiyā;
Aññamaññābhigijjhanti,
kāmesu analaṅkatā.

Tesu ussukkajātesu,
bhavasotānusārisu;
Kedha taṇhaṃ pajahiṃsu,
ke lokasmiṃ anussukā?

Hitvā agāraṃ pabbajitā,
hitvā puttaṃ pasuṃ piyaṃ;
Hitvā rāgañca dosañca,
avijjañca virājiya;
Khīṇāsavā arahanto,
te lokasmiṃ anussukā.

[Vị thiên hỏi:]

Người giàu tài sản lớn,
Như vua chúa trị nước,
Vẫn tham muốn tranh nhau,
Khát dục nào đủ được.
Giữa những người tất bật,
Trôi xuôi theo sanh hữu,
Ai ở đây bỏ ái?
Ai giữa đời tự tại?

[Đức Thế Tôn đáp:]

Xuất gia, sống không nhà
Không con cái, gia súc
Từ bỏ cả tham, sân
Vô minh cũng quét sạch
A la hán lậu tận
An nhiên giữa cõi đời.

Chú thích

Mahaddhanā — mahā + dhana: người có tài sản lớn, đại phú. Chú giải nói đến những người sở hữu lượng lớn tài sản quý báu như châu báu, vàng ròng được cất giữ.

Mahābhogā — người có nhiều tài sản để thọ dụng, nhiều phương tiện hưởng thụ. Chú giải nêu những vật quý như đồ dùng bằng vàng bạc. Vì vậy dhana nghiêng về tài sản sở hữu, còn bhoga nhấn mạnh của cải, phương tiện được sử dụng và hưởng thụ.

Raṭṭhavanto pi khattiyā — ngay cả những vị Sát-đế-lỵ có quốc độ, tức những nhà vua nắm đất nước và quyền lực. Câu kinh cố ý chọn tầng lớp gần như đã có mọi thứ mà người đời ao ước để làm nổi bật nghịch lý: quyền lực và tài sản vẫn không bảo đảm sự biết đủ.

Aññamaññābhigijjhanti — aññamaññaṃ abhigijjhanti: họ tham muốn, ao ước, thèm khát những gì thuộc về nhau. Chú giải dùng ba động từ abhigijjhanti, patthenti, pihenti: tham muốn, mong cầu, thèm khát.

Kāmesu analaṅkatā — không được thỏa mãn đối với các dục. Chú giải giải thích:

atittā apariyattajātā nghĩa là không thỏa mãn, không cảm thấy đủ.  Đây là một từ quan trọng của bài kinh. Đức Phật không nói rằng họ không có dục lạc; trái lại, chính những người có rất nhiều vẫn có thể không bao giờ cảm thấy “đủ rồi.”

Ussukkajātesu — những người trở nên tất bật, bôn ba, quay cuồng chạy theo các công việc thế tục. Chú giải diễn tả rất cụ thể: họ bận rộn để làm phát sinh những đối tượng chưa có và hưởng thụ những đối tượng đã có. Có thể tóm gọn thành hai chuyển động: Chưa có → tìm cách có. Đã có → tìm cách hưởng. Rồi sau khi hưởng, tâm lại tìm cái khác. Đó chính là vòng quay của ái.

Bhavasotānusārisu — bhava + sota + anusārin: những người trôi theo dòng hữu. Chú giải giải thích là: vaṭṭasotaṃ anusarantesu “những người đi theo dòng của vòng luân hồi.” Đây có lẽ là hình ảnh sâu nhất của bài kinh. Con người tưởng rằng mình đang chủ động chạy theo tiền tài, địa vị và dục lạc; nhưng nhìn từ giáo lý, chính khi ấy người ấy đang bị dòng nước cuốn đi.

Taṇhā — khát ái, sự khao khát đưa đến thủ và hữu. Không đơn thuần là một mong muốn thông thường, mà là động lực tâm lý khiến chúng sanh tiếp tục bám víu vào các đối tượng và tiếp nối vòng sinh hữu.

Anussukā — không còn tất bật, không còn bị thôi thúc chạy theo. Chú giải giải thích bằng avāvaṭā: không còn bận bịu, vướng mắc vào những hoạt động ấy. Dịch thoát là tự tại, rỗng rang. Do đó không nên hiểu anussukā đơn giản là lười biếng, không làm gì. Một vị A-la-hán vẫn có thể đi, đứng, thuyết pháp, giáo hóa và làm nhiều Phật sự; điều đã chấm dứt là sự tất bật do tham ái thúc đẩy.

Agāra — nhà, đời sống gia đình. Chú giải cụ thể hóa là đời sống trong nhà với người phối ngẫu. Hitvā agāraṃ pabbajitā vì vậy mang nghĩa bỏ đời sống tại gia để xuất gia.

Rāga – dosa – avijjā — tham ái, sân hận và vô minh. Đây mới chính là ba sự từ bỏ quyết định. Bỏ nhà là sự xuất ly về hình thức; đoạn tham, sân và vô minh là sự xuất ly của tâm.

Khīṇāsavā arahanto — những vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc. Khīṇa là đã tận, đã tiêu diệt; āsava là các lậu hoặc. Chính những vị này mới hoàn toàn là anussukā — không còn bị dòng ái thúc đẩy.

Bài kinh chứa đựng hai hình ảnh:

Có rất nhiều → vẫn muốn thêm → luôn tất bật → trôi theo dòng hữu.

Ngược lại:

Xuất ly → đoạn tham sân → phá vô minh → tận lậu hoặc → an nhiên tự tại.

Điều Đức Phật chỉ ra không phải là “tài sản gây ra đau khổ”, mà sâu hơn: tâm không biết đủ biến bất cứ tài sản nào thành đối tượng của ái. Vì thế vấn đề không được giải quyết chỉ bằng cách tăng thêm những gì ta sở hữu.

Một người có một triệu đồng có thể nghĩ rằng mười triệu sẽ làm mình mãn nguyện. Có mười triệu lại nhìn người có một trăm triệu; có một trăm triệu lại nhìn người có một tỷ. Cũng vậy với danh tiếng, quyền lực, địa vị, sắc đẹp và hưởng thụ. Đối tượng thay đổi nhưng cấu trúc của taṇhā không thay đổi: “thêm nữa.”

Đây chính là ý nghĩa của kāmesu analaṅkatā — không bao giờ thực sự thoả mãn trong dục. Do vậy, câu hỏi quan trọng của bài kinh không phải: “Làm thế nào để có đủ những gì mình muốn?” mà là: “Bao giờ tâm thôi đòi hỏi phải có thêm thì mới an?”

Câu trả lời cứu cánh của Đức Phật là: khi tham, sân và vô minh được đoạn tận, các lậu hoặc đã hết, vị A-la-hán không còn chạy theo dòng đời. Thế gian vẫn còn đó, sắc thanh hương vị xúc vẫn còn đó, nhưng không còn một tâm khát ái đứng phía sau để nói: “Ta phải có cái này; ta phải giữ cái kia; ta phải hơn người khác.”

Sớ giải

28. Aṭṭhame nidhānagataṃ muttasārādi mahantaṃ dhanametesanti mahaddhanā. Suvaṇṇarajatabhājanādi mahābhogo etesanti mahābhogā. Aññamaññābhigijjhantīti aññamaññaṃ abhigijjhanti patthenti pihenti. Analaṅkatāti atittā apariyattajātā. Ussukkajātesūti nānākiccajātesu anuppannānaṃ rūpādīnaṃ uppādanatthāya uppannānaṃ anubhavanatthāya ussukkesu. Bhavasotānusārīsūti vaṭṭasotaṃ anusarantesu. Anussukāti avāvaṭā. Agāranti mātugāmena saddhiṃ gehaṃ. Virājiyāti virājetvā. Sesaṃ uttānamevāti. Aṭṭhamaṃ.

28. Trong bài kinh thứ tám:

Mahaddhanā — gọi là những người “có tài sản to lớn” vì họ có những tài sản lớn được cất giữ như ngọc trai, vật quý và những thứ tương tự.

Mahābhogā — gọi là những người “có muôn thứ để hưởng thụ” vì họ sở hữu nhiều của cải, vật dụng như đồ dùng bằng vàng, bạc và những thứ tương tự.

Aññamaññābhigijjhanti — nghĩa là họ tham muốn chiếm đoạt lẫn nhau; họ mong cầu (patthenti), thèm muốn (pihenti) những gì thuộc về của nhau.

Analaṅkatā — nghĩa là không thỏa mãn (atittā), không cảm thấy đầy đủ (apariyattajātā).

Ussukkajātesu — chỉ những người bận rộn trong nhiều công việc khác nhau: họ tất bật để làm phát sinh những sắc và các đối tượng chưa có, đồng thời tất bật để hưởng thụ những gì đã có.

Bhavasotānusārīsu — nghĩa là những người trôi theo dòng luân hồi (vaṭṭasotaṃ anusarantesu).

Anussukā — nghĩa là không còn bận rộn, không còn bị cuốn vào những sự tất bật ấy (avāvaṭā), an nhiên tự tại.

Agāraṃ — “nhà”, tức đời sống gia đình, sống chung với người phối ngẫu.

Virājiyā — nghĩa là sau khi đã lìa bỏ, đã làm cho tham nhiễm phai mất.

Những phần còn lại có ý nghĩa rõ ràng.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập I - Thiên Có Kệ

[01] Chương I

Tương Ưng Chư Thiên

III. Phẩm Kiếm (S.I,13)

VIII. Giàu Lớn

Sát-đế-lỵ giàu lớn,
Tài sản, quốc độ lớn,
Luôn luôn ganh tị nhau,
Hưởng dục không biết ngán.

Giữa người sống dao động,
Trôi theo dòng tái sanh.
Ai bỏ tật và ái,
Không dao động giữa đời?

(Thế Tôn):

Vị xuất gia bỏ nhà,
Bỏ con, gia súc, thân,
Bỏ tham và bỏ sân,
Và từ bỏ vô minh,
Bậc Lậu tận, La-hán,
Không dao động giữa đời.

@@@

Bài học lưu trữ

Bài học lưu trữ năm  2026- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2025- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2024- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2023- | 12 | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01

Bài học lưu trữ năm  2022- | 12  | 11 | 10 | 09 | 08 | 07 | 06 | 05 | 04 | 03 | 02 | 01